Tuesday, June 30, 2009

VÕ NGUYÊN GIÁP: THIÊN TÀI KHỐN NẠN....Bs Nguyễn Lương Tuyền


VÕ NGUYÊN GIÁP: THIÊN TÀI KHỐN NẠN CỦA QUÊ HƯƠNG

Tổng thống Chavez tặng Đại tướng Võ Nguyên Giáp thanh kiếm là
phiên bản kiếm của vị anh hùng dân tộc Venezuela Simon Bolivar.
View Raw Image" href="http://i25.tinypic.com/b7xaa9.jpg" class="thickbox"> View Raw Image" href="http://i25.tinypic.com/b7xaa9.jpg" class="thickbox">



Bs Nguyễn Lương Tuyền

Jun 28, 2009


LGT: Bác sĩ Nguyễn Lương Tuyền là giáo sư về khoa Giải phẫu Tiểu Nhi tại đại học McGill, Montreal, Canada. Tuy là môt chuyên gia bận rộn, nhưng ông là một trong số những ít bác sĩ quan tâm và viết đến những vấn đề đất nước. TTVN xin giới thiệu một bài mới viết của bác sĩ NLT về Võ Nguyên Giáp.

------------------------

LNV: Trong khoảng mấy tháng gần đây, nhứt là nhân dịp kỷ niệm 55 năm trận đánh Điện Biên Phũ, Võ Nguyên Giáp -sau gần 20 năm bị cho ngồi chơi xơi nước- được đưa ra đánh bóng trở lại. CSVN có âm mưu gì đây? CSVN làm gì cũng có ẩn ý. Liệu hào quang (?) của 1 viên tướng, nay đã 98 tuổi, có cứu được chế độ không?

Nhà văn quân đội nổi tiếng Phan Nhật Nam đã gọi Võ Nguyên Giáp là một thiên tài khốn nạn của quê hương. Tôi chia sẻ ý kiến của ông, nhưng chỉ chia sẻ một nửa thôi. Vâng, Võ Nguyên Giáp thực quả là một tên khốn kiếp, đã đẩy hàng triệu thanh niên đất Việt vào chỗ chết từ năm 1946 tới năm 1975, để thực hiện cho được việc áp đặt chủ nghĩa Cộng Sản sắt máu trên toàn quê hương. Nhưng Y có là một thiên tài hay không, dù là một thiên tài khốn nạn của quê hương, thì cần phải xét lại. Sau mấy chục năm, các tài liệu về chiến tranh tại Việt Nam, các dữ kiện lịch sử đã được giải mật. “Huyền thoại Võ Nguyên Giáp” đã hết còn là một huyền thoại.

Võ Nguyên Giáp sanh ngày 25 tháng 8 năm 1911 tại làng An xá, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.

Cha Y là Võ Quang Nghiêm, một hương sư dạy chữ Nôm, chữ Quốc Ngữ và hành nghề Đông Y như phần lớn các nhà nho lỡ vận. Khi cuộc chiến Việt-Pháp bùng nổ, Ông Nghiêm bị Pháp bắt đưa về giam ở Huế rồi chết trong tù. Mẹ Giáp là Bà Nguyễn Thị Kiên.

Võ Nguyên Giáp là con thứ 6 trong số 8 người con của Ông Bà Võ Quang Nghiêm.

Năm 14 tuổi (1925), Giáp vào Huế học trường Quốc Học. Hai năm sau, Giáp bị đuổi học vì đã tham gia tổ chức bãi khóa, Ông về quê tham gia Tân Việt Cách mệnh Đảng - một đảng có mầu sắc Cộng Sản được thành lập năm 1924 ở miền Trung. Đầu tháng 10 năm 1930, Giáp bị bắt giam tại nhà lao Thừa Phú ( Huế ). Năm 1931, Giáp được thả ra khỏi nhà tù, ra Hà Nội học tại trường Albert Sarraut cho tới khi đỗ Tú tài. Năm 1937, Giáp tốt nghiệp trường Luật tại Hà Nội.

Năm 1934, Giáp kết hôn cùng Nguyễn Thị Quang Thái, một đồng chí của ông. Bà Thái có với Giáp một người con gái, Võ Thị Hồng Anh. Năm 1943, Bà Thái bị Pháp bắt giam ở nhà tù Hỏa Lò ở Hà Nội. Bà chết trong tù.

Tháng 5 năm 1939, Giáp bắt đầu dạy môn Sử tại trường tư thục Thăng Long tại Hà Nội. Theo lời thuật của một số người, Giáp là một giáo sư Sử giỏi và hùng biện.

Từ năm 1936 đến năm 1939, Giáp tham gia phong trào Mặt trận Dân Chủ Đông Dương.

Võ Nguyên Giáp vào Đông Dương Cộng Sản đảng vào năm 1940, bắt đầu các hoạt động dưới sự chỉ đạo của Hồ Chí Minh. Giáp tham gia gây dựng cơ sở và huấn luyện quân sự ở Cao Bằng dù Giáp chưa từng được huấn luyện về quân sự. Trong đảng Cộng Sản Đông Dương, có lẽ chỉ có Phùng Chí Kiên được theo học một thời gian tại trường Võ bị Hoàng Phố ở Trung Hoa.



Ngày 22 tháng 12 năm 1944, theo sự phân bố của Hồ Chí Minh, Giáp thành lập đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân với 34 người. Theo tài liệu của Đảng Cộng Sản Việt Nam, đó là khởi thủy của đạo quân Cộng Sản Việt Minh sau này.

Tháng 8 năm 1945, Giáp được bầu vào Ban Chấp hành Trung Ương Đảng Cộng Sản Đông Dương

Tháng 1 năm 1948, Giáp được Hồ Chí Minh phong quân hàm Đại Tướng. Cùng được phong Tướng có một số tên như Văn Tiến Dũng, Vương Thừa Vũ, Nguyễn Chí Thanh, Đinh Đức Thiện, Lê Trọng Tấn,Trần Đăng Ninh….

Ngày 19 tháng 12 năm 1946, chiến tranh Việt Pháp bùng nổ kéo dài cho tới năm 1954 và chấm dứt ở trận Điện Biên Phủ.

Từ năm 1945 cho đến năm 1991(năm Giáp nghỉ hưu, hết còn là ủy Viên Trung Ương Đảng) Giáp đã giữ những chức vụ như sau:

- Ủy Viên Bộ Chánh trị

- Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng

- Tổng Tư lệnh Quân Đội

- Phó Thủ Tướng

- Chủ Nhiệm Ủy Ban Khoa học nhà nước.

- Năm 1983, Chủ tịch Ủy Ban sanh đẻ có kế hoạch

Chức vụ Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng kiêm Tổng Tư lệng Quân độ là những chức vụ Giáp ở lâu nhất, từ năm 1945 đến năm 1980.

Chức vụ coi về sanh đẻ năm 1983 là môt hình thức hạ nhục Giáp do đám Lê Duẩn, Lê Đức Thọ chủ trương. Để nói về việc hạ nhục này, trong dân gian có truyền tụng hai câu thơ diễu cợt đượm đầy mỉa mai:

Ngày xưa Đại tướng cầm quân

Ngày nay Đại tướng cầm quần chị em

Sau trận Điện Biên Phủ năm 1954, sự hiện diện của người Pháp cáo chung, Võ Nguyên Giáp nổi tiếng như cồn. Sau cái gọi là Đại thắng mùa xuân năm 1975 - một may mắn bất ngờ cho đảng Cộng Sản Việt Nam ( một bất hạnh cho dân tộc Việt ) chiếm được miền Nam-. trước mắt người ngoại quốc mù tịt về cơ cấu tổ chức của Đảng Cộng Sản Việt Nam, Võ Nguyên Giáp trở thành một huyền thoại. Một số sách viết về Giáp như:

- General Giáp: Politician and Strategist của Robert j. O’Neil (Australia)

- Giáp: the Victor in Vietnam của Thiếu tướng hồi hưu Peter McDonald

In năm 1993 ( British )

- Các bài viết rải rác của Douglas Pike thuộc University of California,Berkeley (USA)

Xin mở một dấu ngoặc ở đây về các sách viết về các lãnh tụ Công Sản Việt Nam cũng như các lãnh tụ của các nước Cộng Sản khác trên thế giới. Tác giả phải được sự chấp nhận của Bộ Chính trị và chỉ được viết những gì mà cơ quan quyền lực tối cao của Cộng Sản đưa ra mà thôi. Giáp được các tác giả ca tụng như một thiên tài quân sự, một chiến lược gia tài tình của thế giới ( genius strategist, genius general of the world ). Từ mấy năm gần đây, các tài liệu mật về 2 cuộc chiến tại Việt Nam ( 1946-1954 và 1954-1975 ) được giải mật khiến ta thấy rằng “thiên tài Võ Nguyên Giáp” đã được các đồng chí nặn ra như các đồng chí đã nặn ra anh hùng Lê Văn Tám, chú Kim Đồng…..trong suốt chiều dài của cuộc chiến xâm nhập của chủ nghĩa Cộng Sản man rợ lên quê hương mà đảng Cộng Sản Việt Nam chỉ là một lũ thừa sai.

Bản chất của những người lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam, kể từ Hồ Chí Minh trở xuống, là gian hùng, dối trá, thâm độc và tàn bạo. Giáp có đầy đủ các “đức tính” đó.

Năm 1946, Hồ Chí Minh ký hòa ước với Pháp để quân Pháp trở lại Việt Nam. Các lãnh tụ Công Sản, trong đó có Giáp, đã thẳng tay tiêu diệt các người quốc gia

(Taking advantage of the accommodation with the French, the Communist Party proceded to liquidate its opposition…Many were bound hand and foot and thrown to a river. Some were buried alive ( Losers are Pirates by James Banerian 1984, p. 69)

Năm 1946, khi cuộc chiến tranh Việt – Pháp sắp xẩy ra, Giáp là Bộ Trưởng Quốc phòng trong Chánh phủ liên hiệp. Tại Hà Nội, trong khi quân Pháp và Tự Vệ Thành đang gầm ghè nhau, Giáp và đồng bọn hứa hẹn là quân chánh qui của họ tức các đơn vị Vệ Quốc Đoàn tinh nhuệ đã kéo về đóng chung quanh Hà Nội, sẵn sàng làm cỏ quân Pháp. Ngày 19 tháng 12, chiến tranh bùng nổ tại Hà Nội. Nhóm lãnh đạo Cộng Sản đã rút về Hà Đông từ mấy ngày trước. Vệ Quốc Đoàn đâu chẳng thấy, chỉ thấy các Tự Vệ Thành đánh vùi với quân Pháp trong các đường phố Hà Nội. Họ đã cầm cự với quân Pháp trong gần 2 tháng, thời gian đủ để dân chúng rời thành phố lánh nạn, đủ để đám Cộng Sản rút vào các an toàn khu Việt Bắc. Giáp và đồng bọn muốn mượn tay quân Pháp để thủ tiêu các thanh niên Hà Nội. Quả thực, Tự Vệ Thành là những thanh niên tiểu tư sản, phần lớn xuất thân từ các gia đình khá giả. Đám tiểu tư sản này là những thành phần không có chỗ đứng trong chế độ Cộng Sản. Càng lợi cho việc thiết lập chủ nghĩa Cộng Sản tại Việt Nam nếu họ bị Pháp tiêu diệt, bớt đi càng nhiều càng tốt cho chủ nghĩa Mac Xít Léninist dễ phát triển ở Việt Nam.

Giáp đã viết sách về chiến tranh nhân dân, quân đội nhân dân (được dịch ra tiếng Pháp; Guerre du peuple, l’Armée du peuple ), tự cho rằng mình và đảng Cộng Sản Việt Nam là nguồn gốc của quan niệm chiến lược, chiến thuật này. Sự thực, quan niệm về chiến tranh nhân dân đã được Tướng Trần Canh, một trong ngũ hổ tướng của Mao Trạch Đông, du nhập vào Việt Nam kể từ trận chiến biên giới Cao Bằng Lạng Sơn năm 1950.

Giáp thực sự không phải là cha đẻ của quân đội Cộng Sản Việt Nam, tuy rằng cuối năm 1944, theo lệnh Hồ Chí Minh, Giáp thành lập đoàn Võ Trang tuyên truyền gồm 34 thành viên với trang bị rất thô sơ. Quân đội Trung Cộng mới thực sự là cha đẻ của quân đội nhân dân của Cộng Sản Việt Nam. Tháng 3 năm 1946, 1 Trung Đoàn quân Cộng Sản Trung Hoa tràn qua biên giới, vào Việt Nam để tránh bị các Lộ Quân 46,64 của Tưởng Giới Thạch tiêu diệt. Chính Trung đoàn quân Cộng Sản Trung Hoa này đã giúp Cộng Sản Việt Nam huấn luyện Quân đội ( In ađition to avoiding destruction this Chinese Regiment would begin to to lay the groundwork for training and advising the less mature Vietnamese Forces ). Tình báo của Mỹ đã đánh hơi thấy việc Trung Cộng huấn luyện quân đội Cộng sản Việt Nam từ những năm này.



Hồ Chí Minh và Mao Trạch Ðông tại Bắc Kinh tháng 7/1955


Hồ Chí Minh đến Moscow tháng 7/1955, có Bộ trưởng quốc phòng Liên Xô
Nguyên soái Klementi Voroshilov (trái), là tay chân thân cận của Josef Stalin ra đón

Từ năm 1950, Trung Cộng không ngừng cung cấp người, võ khí và tiếp liệu cho Công Sản Việt Nam.Chính Võ Nguyên Giáp, trong cuốn Đường tới Điện Biên Phủ đã viết: Trong một buổi làm việc ở Moscou với Staline, Mao Trạch Đông, Mao đã hứa trang bị cho Việt Nam 10 sư đoàn. Mao nói: Việt Nam cần trang bị 10 đại đoàn ( sư đoàn ) để đánh Pháp. Trước mặt hãy trang bị 6 đại đoàn có mặt ở miền Bắc Việt Nam. Có thể đưa ngay một số đơn vị sang Trung Hoa nhận vũ khí. Tỉnh Quảng Tây sẽ lả hậu phương trực tiếp của Việt Nam.

Sau đó các đơn vị của quân đội nhân dân lần lượt được đưa sang Tầu để thụ huấn và nhận vũ khí. Theo Giáp: những đơn vị sang Trung Quốc, ngoài việc trang bị lại vũ khí còn được huấn luyện thêm về chiến thuật công kiên, đặc biệt là kỹ thuật đánh bộc phá. Trước đây, vì chưa có thuốc nổ, ta chưa hề xử dũng kỹ thuật này Cũng theo Giáp, chính Hồ Chí Minh đã yêu cầu Tầu Cộng gửi qua Việt Nam một đoàn cố vấn. Theo lời yêu cầu đó, một đoàn cố vấn Trung Cộng khoảng 80 người đã sang Việt Nam, giúp quân Cộng Sản Việt Nam: Lã Quí Ba, Ủy Viên Trung ương đảng Cộng Sản Trung Quốc, Trưởng đoàn Cố vấn; Vi Quốc Thanh, Trưởng đoàn Cố vấn về Quân sự: Mai Gia Sinh, cố vấn về công tác tham mưu; Mã Tây Phu, Cố vấn về công tác hậu cần. Chính các Cố vấn Trung Cộng đã giúp Công Sản Việt Nam tổ chức 3 (ba) cơ chế chánh trong quân đội: Bộ Tổng Tham Mưu, Tổng Cục chánh trị và Tổng cục hậu cần. Tóm lại ngay trong công việc tổ chức quân đội của Cộng Sản Việt Namm, Giáp chỉ là người thừa hành.

Giáp là một tên hèn. Năm 1983, Giáp bị đám Lê Đức Thọ, Lê Duẩn hạ nhục bằng cách cho đi làm Chủ tịch Ủy Ban sanh đẻ có kế hoạch. Giáp đã ngậm bồ hòn làm ngọt, ngoan ngoãn.vâng lời. Trong vụ Nhân văn Giai phẩm xẩy ra tại miền Bắc năm 1955, nhiều người đã ở trong Quân Đội Nhân dân của Giáp như Trần Dần, Hoàng Cầm, Quang Dũng, Phùng Quán…bị đem ra đấu tốm, tù đầy. Giáp vẫn giữ im lặng. Trong vụ án chống đảng do đám Lê Duẩn, Lê Đức Thọ chủ mưu, các tướng Cộng sản đàn em của Giáp như Lê Liêm, Đặng Kim Giang, Nguyễn Văn Vịnh, các Đại tá thuộc cấp của Giáp như Lê Minh Nghĩa, Lê Vinh Quốc, Văn Dzoãn… bị hãm hại; Giáp vẫn ngoảnh mặt làm ngơ.. Khi các tướng Lê Trọng Tấn, Hoàng Văn Thái ( cũng là thông gia của Giáp) bị đột tử sau khi miền Nam đã bị cộng sản hóa. Giáp vẫn ngậm miệng, im lặng là vàng. Giáp đã để lộ rõ cái hèn, thủ khẩu như bình. Giáp kệ mặc đàn em bị thảm sát, tù đầy. Theo Bùi Tín, cựu Phó Tổng Biên tập của báo Cộng Sản Quân Đội Nhân dân, sở dĩ Giáp không bị đám Lê Đức Thọ, Lê Duẩn thủ tiêu vì Giáp biết thủ, nghĩa là Giáp biết cách tránh né để bảo toàn mạng sống.

Khi được một ký giả ngoại quốc hỏi Giáp có hối tiếc gì về số 3-4 triệu người Việt Nam chết vì các cuộc chiến tranh, gọi là chiến tranh ý thức hệ, Giáp đã trả lời là y không hối tiêc gì cả ( Non, pas du tout )

Mạng sống của thanh niên Việt Nam bị họ Võ coi như cỏ rác. Giáp sẵn sàng thí quân trong các trận chiến. Trong trận chiến tranh biên giới Cao Bằng, Lạng Sơn năm 1950, để tiêu diệt cứ điểm Đồng Khê do 262 lính Pháp trấn đóng, Giáp đã dùng tới 10000 quân (đông hơn quân trú phòng 40 lần ). Sau trận đánh, hơn 500 quân Việt tử trận, không kể số bị thương hàng ngàn.

Trong trận đồng bằng Phủ Lý, Ninh Bình, Vĩnh Yên vào tháng giêng năm 1951, chiến thuật biển người của Giáp đã bị Tướng Pháp de Lattre de Tassigny dùng bom Napalm tiêu diệt. Quân Cộng sản, dưới sự chỉ huy của Giáp, đã bị nhiều tử vong, thất bại trong ý đồ đưa chiến tranh về đồng bằng. Số tử vong của quân đội cộng sản, khi tháo lui, là trên 6000 người. Số bị thương chắc chắn là gấp đôi, gấp ba con số 6000.

Trong chiến tranh Việt – Pháp 1946-1954, người thực sự chỉ huy các trận đánh lớn không phải là Giáp mà là các tướng Trung Hoa Cộng Sản như Trần Canh trong những năm 50, sau đó là đoàn cố vấn Trung Quốc đứng đầu là Vy Quốc Thanh, Lã Quí Ba. Hào quang chiến thắng của Giáp chỉ là một giả tạo, một hào quang do Trung Cộng ban cho.

Chiến dịch biên giới năm 1950.

Chiến dịch này nhằm mục đích đuổi quân Pháp ra khỏi biên giới của 2 nước Việt Nam-Trung Hoa để cho việc tiếp vận từ Trung Hoa Cộng Sản cho quân đội của Cộng Sản Việt Nam được dễ dàng.

Tướng Trần Canh của Trung quốc sang Việt Nam ngày 22-7-1950. Trần Canh đã áp dụng học thuyết chiến tranh nhân dân của Mao vào chiến tranh Việt Nam. Kế hoạch tiến công của Võ Nguyên Giáp trong chiến dịch biên giới được thay thế bằng kế hoạch tác chiến của Trần Canh. Thay vì tấn công Cao Bằng như kế hoạch của Giáp, Trần Canh đề nghị kế hoạch tấn công Đông Khê, một đồn của Pháp nằm giữa Cao Bằng và Lạng Sơn, để lùa quân Pháp ra khỏi hai tỉnh trên và sau đó phục kích tiêu diệt (công đồn đả viện). Hồ Chí Minh chấp thuận kế hoạch này. Kết quả trận đánh là quân Pháp thảm bại phải bỏ hết các tỉnh biên giới. Chiến thuật công đồn đả viện của Cộng Sản Việt Nam là do các cố vấn Trung Quốc, nhứt là Trần Canh, truyền thụ cho.

Từ năm 1951, nhóm cố vấn chánh trị do Lã Quí Ba cầm đầu đã giúp Hồ tạo lập luật lệ và chánh sách liên quan đến tài chánh, thuế khóa, quản lý báo chí và đài phát thanh cũng như các chánh sách đối với các dân tộc thiểu số…..

Chiến dịch Tây Bắc 1952

Sau các tổn thất ở đồng bằng sông Hồng Hà năm 1951, Việt Minh, theo sự cố vấn của các cố vấn Trung Quốc, mở chiến dịch Tây Bắc năm 1952.

Lã Quí Ba trách nhiệm hoạch định chiến dịch thay Vi Quốc Thanh về Tầu chữa bệnh. Hồ Chí Minh chấp thuận hoàn toàn đề nghị của Lã Quí Ba. Theo Qiang Zhai ( China and the Vietnam wars 1950-1975) cuối tháng 9 năm 1952, Hồ bí mật sang Bắc Kinh để thảo luận về chiến dịch Tây Bắc cũng như chiến lược thắng quân Pháp. Ngày 14-10 Việt Minh tập trung 8 tiểu đoàn tấn công Nghĩa Lộ và các đồn bót lân cận. Ngày 16-10 Vy Quốc Thanh trở lại Việt Nam để cùng Lã Quí Ba chỉ đạo chiến dịch. Sau khi mất Nghĩa Lộ, quân Pháp chạy khỏi Sơn La ngày 21-11. Việt Minh hoàn toàn chiếm lĩnh một khu vực lớn ở Tây Bắc, cho phép họ có thể tiến hành các hoạt động ở Lào.

Đối phó với kế hoạch Navarre - Trận Điện Biên Phủ

Tháng 5-1953, tướng Henri Navarre đảm trách chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương với kế hoạch:

1- kiểm soát vùng đồng bằng sông Hồng

2- bình định các khu do Cộng Sản kiểm soát ở miền Trung và miền Nam

3- mở tổng phản kích tiêu diệt các cứ địa của Việt Minh tại miền Bắc

Navarre cho thành lập các binh đoàn lưu động

Việt Minh Cộng Sản, lúc đầu muốn tập trung quân tại vùng Tây Bắc và Lai Châum, nhưng sau Giáp từ bỏ ý định đó, muốn kéo quân tấn công quân Pháp ở đồng bằng sông Hồng Hà. Như vậy Giáp hạ thấp tầm quan trọng của chiến dịch ở Lào. Bắc Kinh không đồng ý với kế hoạch của Giáp. Bác Kinh nhấn mạnh Việt Minh cần giữ nguyên kế hoạch tập trung vào Tây Bắc và Lào. Lãnh đạo Trung Quốc cho rằng nếu thực thi chiến thuật này, Việt Minh Cộng Sản có thể chuẩn bị lực lượng cho công cuộc đánh chiém đồng bằng sông Hồng và cuối cùng sẽ đánh bại Pháp ở Đông Dương

Tháng 9, Bộ Chính trị của Cộng Sản Việt Nam, phủ quyết kế hoạch của Giáp để theo kế hoạch của các cố vấn Tầu

Ngày 27 tháng 10 năm 1953, Vy Quốc Thanh trao cho ông Hồ một bản sao kế hoạch của Navarre mà tình báo Trung Cộng đã thu đoạt được. Sau khi xem xét, các lãnh đạo của Cộng sản Việt Nam nói đề nghị của Trung Quốc là đúng. Cộng Sản Việt Nam, nếu theo đúng kế hoạch của Trung Quốc, có thể phá vỡ kế hoạch của Navarre.

Khi Navarre đưa quân đến Điện Biên Phủ, Giáp và Bộ Tham mưu chưa nhận ra tầm quan trọng của vị trí này. Chính Vy Quốc Thanh là người đã thúc Giáp mở chiến dịch bao vây và tiêu diệt quân Pháp ở Điện Biên Phủ. Trung Quốc nhấn mạnh chiến dịch Điện Biên Phủ không chỉ quan trọng về quân sự mà còn có ảnh hưởng quốc tế.. Ngày 6-12-1953, Bộ Chính trị của Cộng Sản Việt Nam thông qua kế hoạch tác chiến ở Điện Biên Phủ. Giáp chỉ là người thi hành kế hoạch do cố vấn Trung Quốc Vy Quốc Thanh đề ra. Người hùng Điện Biên Phủ Võ Nguyên Giáp đã được cố vấn Tầu nặn ra.

Chính các cố vấn Trung Cộng đã giúp Việt Minh trong các chiến dịch biên giới, Tây Bắc và Điện Biên Phủ. (The Chinese military advisers actually planned and often helped direct Viet Minh operations, and there was a direct transmission of strategy and tactics from China to Viet Nam. The CMAG ( Chinese Military Advisory Group ) contributed greatly to the success of the border, NorthWest, and the Điện Biên Phủ engagements - Qiang Zhai )

Trung Cộng đã chi viện cho chiến trường Điện Biên Phủ 8286 tấn tiếp liệu gồm võ khí, lương thực vv…Cố vấn TC có mặt ở mọi đơn vị. Thí dụ họ đã giúp Việt Minh bố trí pháo binh trong các hào sâu trên sườn núi để tránh bị phi cơ Pháp phát hiện và phá hủy. Pháo binh của Việt Minh, được các cố vấn Trung Cộng điều khiển, là một bất ngờ cho quân đội Pháp. Nhưng sự tham dự tích cực của Trung Cộng vào sự thành công của chiến dịch không hề được Giáp nhắc tới trong các bài viết, trong các sách của y như cuốn Điện Biên Phủ: điểm hẹn lịch sử.

(In effect, the battle of Điện Biên Phủ would be planned and assisted by Chinese Advisors and fought with Chinese trained, equipped, supplied, transported and fed PAVN ( People Army of Vn ). This support is rarely mentioned as a contributing factor to the Vietnamese victory – (The Chinese support for the North Vietnam during the Vietnam War; The Decisive Edge by Bob Seals)

Sự giúp đỡ của Trung Cộng không ngừng ở chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, đánh dấu sự cáo chung của chủ nghĩa thực dân. Sự giúp đỡ vẫn được tiếp tục trong cuộc chiến xâm lăng miền Nam 1954-1975.

Thay lời kết

Người hùng Võ Nguyên Giáp, tướng huyền thoại của Cộng Sản Việt Nam chỉ là một nhân vật đại bịp trong số hàng trăm hàng ngàn tên bịp bợm (trong đó có cả tên Hồ), trong quá trình hiện hữu của đảng Cộng Sản Việt Nam. Y không phải là một thiên tài quân sự như đảng Cộng Sản Việt Nam thổi phồng. Chính các cố vấn Trung Cộng do Vy Quốc Thanh, Lã Quí Ba cầm đầu đã đánh thắng quân Pháp trong cuộc chiến 1946-1954 chứ không phải là Giáp. Hào quang của Giáp là do Trung Cộng nặn ra, treo vào cổ Giáp Sự thực các trận đánh lớn, có tính cách quyết định đều do các cố vấn Tầu Cộng thiết kê và điều khiển. Giáp đã sống trong cái vỏ thiên tài đó trong hơn nửa thế kỷ. Đến nay thì sự thực đã được phơi bầy:

Trong suốt hai cuộc chiến 1946-1954, 1954-1975, Giáp và đảng Cộng Sản Việt Nam đã dựa vào Trung Cộng gần như toàn diện. Nay họ đã và đang trả món nợ đó, trả bằng cả số phận của dân Việt, bằng cả đất nước do tổ tiên để lại: quê hương đang mất dần vào tay người Trung hoa Cộng sản.

Tài liệu tham khảo:

Việt ngữ:

- Trung Quốc có lợi gì trong chiến tranh Việt Nam Trần Gia Phụng 12/2008.

- Kỷ niệm 50 năm Điện Biên Phủm, http;//www.ykien.net

- Võ Nguyên Giáp m, http;//www.wikipedia.org

- Những tên thừa sai của Trung Cộngm, Nguyễn Văn Canh

- Quân sửViệt Nam, http://www. Quansuvn.net

- Cố vấn Trung quốc và đường đến Điện Biên, http://www.bbc.co.uk

- Đường tới Điện Biên Phủ, Võ Nguyên Giáp

Ngoại ngữ:

- China and the Vietnam warsm, 1950-1975Qiang Zhai 2000

University of North Carolina Press

- Senior General vo Nguyen Giapremembers, Cecil B. Currey Journal of Third World Study, 2003

- Chinese support to North Vietnam during the Vietnam war; The decisive Edge Bob Seals Military History on line.

- The Vietnam War; the untruthsand the facts

- Võ Nguyên Giáp, http://www.wikepedia.org

- Interview with Vo Nguyen Giap Viet Minh Commander, Peoples Cenntury, http://www.pbs.org



Vietnam War The Battle for Vietnam.

The most prominent Germans who fought with the Viet Minh were Erwin Borchers, Ernst Frey and Rudy Schroder, and their deeds were described in this article by Heinz Schutte, author of this book.

Ernst Frey was at one time acting member of the Vietnam Labor Party's Central Committee and was commander of forces defending the entire Viet Minh's vital Viet Bac region.



Foreground: Phạm Văn Đồng, Erwin Borchers, Ernst Frey,
Võ Nguyên Giáp, Đặng Bích Hà, Background: Lưu Văn Lợi,
unknown, unknown, Rudy Schröder



Left to right: Dương Bạch Mai, Ernst Frey (Nguyễn Dân), Trường Chinh,
unknown, Georges Wächter (Hồ Chí Thọ), Rudy Schröder (Lê Đức Nhân)


So, the German wasn't "the commander of the VM artillery at DPB", only a artillery battalion commander. I was not successful in identifying him. A Vietnamese book on foreign nationals fighting in the Viet Minh gave a figure of 761 German nationals who were sent to East Germany after the First Indochina War. Another FL deserter, Stefan Kubiak (not to be confused with his homonym who also was in the FL and never deserted, both fought at Béatrice), was an artillery company commander with the 312nd, but he was a Pole, not German.




Hồi kí cố vấn Trung Quốc (2)

QUYẾT SÁCH TRỌNG ĐẠI

TRUNG QUỐC XÂM LƯỢC TRONG VỎ BỌC VIỆN TRỢ
VIỆT NAM CHỐNG PHÁP


Trương Quảng Hoa



Hồ Chí Minh bí mật thăm Trung Quốc đi cầu viện ( Lê Chiêu Thống họ Hồ đi mời quân xâm lăng Tàu vào dày xéo đất nước )


Một buổi chiều hạ tuần tháng 1/1950, trên đường đất gồ ghề ở huyện Quảng Hòa tỉnh Cao Bằng, Việt Nam, có một ông già, thân hình gầy gò, đầu quấn khăn mặt đi đến cửa Thủy Khẩu, Long Châu – Quảng Tây, Trung Quốc. Ông già đó chính là Hồ Chí Minh, Chủ tịch Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (lúc đó gọi là Đảng Cộng sản Đông Dương). Cùng đi với Hồ Chí Minh có Trần Đăng Ninh, Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam phụ trách công tác hậu cần của Quân đội Nhân dân Việt Nam và năm, sáu trợ lý.

Chuyến đi này của Hồ Chí Minh hoàn toàn bí mật, ngay cả lãnh đạo Trung ương Đảng Việt Nam cũng chỉ có số ít người biết.

Hồ Chí Minh vừa chủ trì triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 2 Đảng Cộng sản Việt Nam (*), khi phân tích tình hình đấu tranh trước mắt, toàn thể hội nghị nhất trí cho rằng : “ Thiếu quân chính quy, thiếu binh chủng và vũ khí hạng nặng công kiên, đánh thành, thiếu phương tiện thông tin nhanh, thiếu cán bộ thực sự hiểu được thao lược chỉ huy vận động chiến ” là vấn đề lớn nhất đặt ra trước mắt cuộc chiến tranh chống Pháp lúc bấy giờ. Vì vậy hội nghị nêu rõ, cần phải gấp rút đào tạo và xây dựng quân đội nhân dân, xây dựng bộ đội chủ lực thích ứng với tình hình đấu tranh mới. Mục đích chuyến thăm Trung Quốc lần này của Hồ Chí Minh là thông báo tình hình đấu tranh chống Pháp của Việt Nam với Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, yêu cầu Đảng Cộng sản Trung Quốc và Chính phủ Trung Quốc giúp xây dựng quân đội và cử nhân viên quân sự viện trợ cuộc đấu tranh chống Pháp của nhân dân Việt Nam.

việt gian Cộng Sản Hồ Chí Minh rất quen thuộc cửa Thủy Khẩu. Trước kia, Người đã nhiều lần vào ra nơi đây vì sự nghiệp cách mạng Việt Nam, bây giờ nước Trung Quốc mới đã ra đời, lại đến đây, cảm nghĩ trong lòng khác xa ngày trước.

Theo chỉ thị của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, một số đồng chí phụ trách Ban bảo vệ quân khu Quảng Tây dẫn đầu ba mươi cán bộ chiến sĩ quân giải phóng đã sớm chờ đón Hồ Chí Minh ở đây.

Hồ Chí Minh từ từ đi tới, các đồng chí Trung Quốc lập tức ùa ra đón.

Hồ Chí Minh nói : “ Cám ơn, cám ơn ! Nơi đây bây giờ là cửa khẩu biên giới hữu nghị của nhân dân hai nước Trung – Việt, trước đây mỗi lần qua đây tôi phải thăm dò cẩn thận, thấp thỏm lo sợ, còn bây giờ thì hoàn toàn khác ”. Hồ Chí Minh đầu quấn khăn mặt trắng, hóa trang thành thương binh đi bộ đến Trung Quốc. Hồ đi dép cỏ, mặc quần áo vải, Xuất phát từ Thái Nguyên, hơn mười ngày hành quân Hồ Chí Minh nghỉ lại một đêm ở Long Châu – Quảng Tây, ngày hôm sau đến Nam Ninh, nghỉ ở khách sạn Kim Sơn, đường Dân Sinh.

Bí thư tỉnh ủy và chủ tịch tỉnh Quảng Tây, Trương Vân Dật tối hôm đó mở tiệc chào mừng Hồ Chí Minh và các vị khách Việt Nam. Trương Vân Dật nói với Hồ Chí Minh : “ Hiện nay Quảng Tây vừa mới giải phóng, thổ phỉ đặc vụ hoạt động rất điên cuồng, sản xuất công nông nghiệp đang chờ khôi phục, cải cách ruộng đất chưa bắt đầu, chúng tôi nhất định nỗ lực làm việc khiến Quảng Tây trở thành hậu phương vững chắc đáu tranh chống Pháp của Việt Nam ”. Lúc bấy giờ đường sắt Quảng Tây – Hồ Nam chỉ thông xe đến Lai Tân, Đông bắc Nam Ninh, đoàn Hồ Chí Minh phải đi ôtô từ Nam Ninh đến Lai Tân, rồi từ đó đáp xe lửa đi Bắc Kinh.

Trong mấy chục năm qua, hoạt động của việt gian Hồ Chí Minh nhiều lúc tiến hành ở Trung Quốc.

  • Năm 1924, Hồ Chí Minh từ Moskva đến Quảng Châu – Trung Quốc, Hồ ở đó cùng làm việc với những người cộng sản Trung Quốc cho đến năm 1927. “ Việt Nam cách mạng thanh niên đồng chí hội ”, tổ chức cách mạng đầu tiên lấy lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin làm chủ đạo, là do Hồ thành lập tại Quảng Châu.

  • Năm 1930, Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập tại Hồng Kông. Lúc đó, Hồ nhiều lần từ Hồng Kông đến Thượng Hải hoạt động cách mạng. Mùa thu 1938, Hồ Chí Minh từ Liên Xô đến Diên An, tăng cường liên hệ với Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, sau đó từ Diên An đến văn phòng Bát lộ quân Quế Lâm, từ đó qua lại các nơi như Quý Dương, Trùng Khánh v.v..

  • Tháng 2/1940, Hồ Chí Minh lãnh đạo công tác của Ban hải ngoại Đảng Cộng sản Việt Nam tại Côn Minh, tháng 5 năm đó, Hồ Chí Minh gặp Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp tại Côn Minh, theo đề nghị của Hồ Ban hải ngoại nhận hai người Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp vào Đảng.

  • Tháng 10/1940, Hồ Chí Minh từ Côn Minh đến Quế Lâm, ở đó thành lập “ Văn phòng Việt Nam độc lập Đồng minh hội ”, chẳng bao lâu sau lại thành lập “ Hội Đồng chí công tác văn hóa Trung – Việt ”.

  • Tháng 8/1942, Hồ Chí Minh bị chính quyền địa phương Quốc dân đảng bắt tại huyện Đức Báo – Quảng Tây, giải qua nhiều nhà giam . Sau đó được hai đảng Trung – Việt, Hội Hoa kiều tại Việt Nam và cả nhân sĩ tiến bộ Quốc dân đảng tìm nhiều cách cứu thoát nên mới được trả tự do vào ngày 10/9/1943.

  • Tháng 3/1945, vào giờ phút thắng lợi của các nước đồng minh, quân Pháp ở Đông Dương buộc phải đầu hàng quân Nhật. Hồ Chí Minh từ Côn Minh về nước, nhanh chóng triệu tập Hội nghị Trung ương Đảng, quyết định tổng khởi nghĩa vũ trang và đọc “ Tuyên ngôn độc lập: Tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ”.

Trong mấy năm, việt gian Hồ Chí Minh đã thành lập một lực lượng vũ trang khoảng 10 vạn người, nhưng do tố chất quân chính yếu kém, trang bị lạc hậu, khó đối phó với những cuộc tấn công của quân xâm lược đế quốc Pháp đang quay trở lại.


CS Tàu- Lưu Thiếu Kỳ

Lưu Thiếu Kỳ nói :

Viện trợ Việt Nam là trách nhiệm chúng tôi, phải làm tròn






Cuối tháng 1/1950, Hồ Chí Minh đến Bắc Kinh. Lúc đó Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai đang thăm Moskva, Lưu Thiếu Kỳ chủ trì công tác hằng ngày của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Tối hôm đó, Lưu Thiếu Kỳ mở tiệc chào mừng long trọng tại Trung Nam Hải. Các vị lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chu Đức, Đồng Tất Vũ, Lưu Bá Thừa, Nhiếp Vinh Trăn, Lý Duy Hán v.v.. đến dự. Phía Việt Nam có việt gian Trần Đăng Ninh, việt gian Hoàng Văn Hoan v.v...

Trong bữa tiệc, khi Lưu Thiếu Kỳ nói đến Hồ Chí Minh tổ chức lớp huấn luyện chính trị Việt Nam ở Quảng Châu năm 1925 đến năm 1926, hỏi thăm thân thiết các đồng chí dự lớp huấn luyện năm ấy hiện nay còn những ai, Hồ Chí Minh nói Hoàng Văn Hoan có mặt hôm nay là một trong số người đó,

Lần này, Hoàng Văn Hoan sẽ tạm thời ở lại Trung Quốc, sau khi đi vòng vèo đến Trung Quốc dự hội nghị công đoàn khu vực Á – Úc. Hồ Chí Minh nhớ lại nói một cách thắm thiết : “ Lúc đó khi tổ chức lớp huấn luyện ở Quảng Châu, Chu Ân Lai, Trương Thái Lôi, Bành Bái, Lý Phú Xuân, Đại Anh và một số đồng chí lãnh đạo cuộc bãi công lớn của tỉnh và Hồng Kông đều lên lớp giảng bài cho chúng tôi, đồng chí Thiếu Kỳ cũng là một trong những thày giảng bài của lớp huấn luyện. Chúng tôi rất biết ơn các đồng chí Trung Quốc quan tâm và giúp đỡ sự nghiệp cách mạng Việt Nam ”.

Hoàng Văn Hoan nói : “ Tôi là học viên khóa 3 của lớp huấn luyện, lúc đó học ở phố Nhân Hưng – Quảng Châu. Thông qua giảng dạy của các đồng chí Trung Quốc, chúng tôi học được rất nhiều kinh nghiệm quý báu trong cách mạng vô sản Trung Quốc ”.

Nói đến đây, Hoàng Văn Hoan xúc động đứng lên nâng cốc, thay mặt các học viên lớp huấn luyện chúc rượu Lưu Thiếu Kỳ. Cốc rượu đó làm cho Hoàng Văn Hoan phấn chấn, nói tiếp : “ Lúc đó, những người cách mạng hai đảng Trung – Việt chí đồng đạo hợp, thân như anh em. Lớp huấn luyện chính trị lúc bấy giờ không có nhà ăn, hằng ngày chúng tôi sang bên lớp tập huấn phong trào nông dân Trung Quốc ăn cơm, thường cùng các đồng chí Trung Quốc hát bài ca cách mạng 'đánh đổ đế quốc, diệt trừ quân phiệt, trừ diệt quân phiệt' v.v...”

Theo sự sắp xếp của Lưu Thiếu Kỳ, ngoài Lưu Thiếu Kỳ, còn có Chu Đức, Nhiếp Vinh Trăn, Lý Duy Hán, Liêu Thừa Chí v.v.. tham gia hội đàm với bọn việt gian v.v... Hồ Chí Minh nói : “ Chúng tôi rất phấn khởi chào đón thắng lợi của cách mạng Trung Quốc, thắng lợi của các đồng chí đã nâng cao niềm tin thắng lợi của chúng tôi, cung cấp rất nhiều kinh nghiệm quý báu cho chúng tôi. Chúng tôi hi vọng và yêu cầu các đồng chí Trung Quốc giúp đỡ chúng tôi huấn luyện bộ đội, xây dựng một quân đội nhân dân Việt Nam có sức chiến đấu tương đối mạnh; giúp chúng tôi chỉ huy tác chiến và chi viện cho chúng tôi về vật lực ”.

Lưu Thiếu Kỳ nói : “ Tình hình quốc tế hiện nay rất có lợi cho cuộc đấu tranh chống Pháp của Việt Nam. Trung Quốc đã quyết định công nhận Việt Nam và trao đổi với Liên Xô, đề nghị họ công nhận, khiến Việt Nam có vị thế quốc tế. Đảng chúng tôi cho rằng, viện trợ cuộc đấu tranh chống Pháp của nhân dân Việt Nam là trách nhiệm quốc tế mà Đảng Cộng sản Trung Quốc và nhân dân Trung Quốc phải làm tròn. Trung Quốc vừa mới giải phóng, mọi việc đều phải làm từ đầu, còn nhiệm vụ nặng nề như quét sạch bọn thổ phỉ đặc vụ, khôi phục kinh tế, cải cách ruộng đất v.v.., nhưng chúng tôi quyết tâm chi viện cuộc chiến tranh chống Pháp của Việt Nam, việc này sau khi Mao Chủ tịch và đồng chí Chu Ân Lai về nước, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ nghiêm chỉnh nghiên cứu nội dung và phương pháp viện trợ, chúng tôi sẽ xác định cụ thể theo yêu cầu của các đồng chí ”.

việt gian Hồ Chí Minh biết rằng, đối với việc lớn như thế này mà Lưu Thiếu Kỳ có thể xác định thái độ rõ ràng như vậy cho thấy lãnh đạo Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã sớm suy nghĩ về vấn đề này. Hồ Chí Minh còn nói với Lưu Thiếu Kỳ ông chuẩn bị sớm đi Liên Xô để gặp Trung ương Đảng Cộng sản liên Xô, gặp Stalin, yêu cầu Đảng và Chính phủ Liên Xô viện trợ. Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai đều ở Moskva, đến Liên Xô vào đúng lúc này có thể cùng trao đổi bàn bạc với các đồng chí đó. Hồ Chí Minh muốn Trung Quốc nhanh chóng sắp xếp liên hệ việc đồng chí đi Liên Xô”.

Lưu Thiếu Kỳ lập tức báo cáo Mao Trạch Đông về yêu cầu của Hồ Chí Minh đi Liên Xô và truyền đạt đến Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô; lãnh đạo hai nước Trung – Xô đều đồng ý Hồ Chí Minh đến Moskva.

Được biết Hồ Chí Minh sẽ đến thăm Liên Xô sớm, ngày 1-2 Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai đã gửi điện cho Lưu Thiếu Kỳ và yêu cầu báo cho Hồ Chí Minh : Hai nước Trung – Việt đã công nhận lẫn nhau và sắp thiết lập quan hệ ngoại giao, Liên Xô đã công nhận Việt Nam, các nước dân chủ mới khác dự tính cũng có thể công nhận (công hàm của Việt Nam yêu cầu các nước công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao, Đại sứ quán Trung Quốc tại Liên Xô đã chuyển đến sứ quán các nước dân chủ mới tại Liên Xô). Chúng tôi chúc mừng thắm thiết Việt Nam gia nhập đại gia đình dân chủ chống đế quốc do Liên Xô đứng đầu.

Stalin nói viện trợ Việt Nam chủ yếu do Trung Quốc phụ trách


Ngay tối hôm 6/2 Hồ Chí Minh đến Moskva, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô mở tiệc hoan nghênh. Stalin không đến dự. Mao Trạch Đông rất rõ tâm trạng của Stalin lúc này, Stalin lo lắng việt gian Hồ Chí Minh là người theo chủ nghĩa dân tộc, là Tito thứ hai (**). Trong một lần trao đổi với Stalin, Mao Trạch Đông kiên nhẫn nói rõ, Hồ Chí Minh là nhà cách mạng mác xít của Việt Nam rất được nhân dân Việt Nam ủng hộ và yêu mến, là lãnh tụ của nhân dân Việt Nam, đồng chí Stalin nên sớm gặp đồng chí Hồ Chí Minh, hỏi đồng chí ấy có yêu cầu và suy nghĩ gì không.

Stalin nói : “ Đồng chí Hồ Chí Minh yêu cầu Liên Xô trực tiếp cung cấp viện trợ cho Việt Nam, giúp họ đánh người Pháp, đối với vấn đề này, chúng tôi còn có suy nghĩ hơi khác ”.

Không để cho Mao Trạch Đông nói gì thì Stalin nói tiếp : “ Thắng lợi của cách mạng Trung Quốc chứng minh Trung Quốc đã trở thành trung tâm cách mạng của Châu Á, chúng tôi cho rằng, công tác chi viện và giúp đỡ Việt Nam chủ yếu do Trung Quốc gánh vác thì tốt ”.

Mao Trạch Đông nói : “ Việt Nam chủ yếu cần vũ khí đạn dược, cũng cần có vật tư quân sự khác, Trung Quốc không chắc chắn thỏa mãn mọi nhu cầu của họ, tất nhiên họ hy vọng Liên Xô cũng viện trợ ”.

Stalin ngẩng đầu nhìn Mao Trạch Đông, tiếp tục nói ý kiến của mình : “ Trung Quốc và Việt Nam địa lý gần nhau, liên hệ tương đối nhiều, để Trung Quốc giúp Việt Nam tương đối thuận tiện. Viện trợ xây dựng kinh tế Trung Quốc là nhiệm vụ quan trọng của Liên Xô. Chúng tôi đã đánh xong chiến tranh thế giới, số lớn trang bị vũ khí không dùng hết, có thể chuyển chúng sang Trung Quốc, có những cái Việt Nam dùng được thì tất nhiên các đồng chí có thể chuyển một ít đến đó ”.

Stalin lo sợ dẫn đến tranh chấp quốc tế, điều này đối với Mao Trạch Đông lãnh đạo cách mạng Trung Quốc mà nói thì đã được lãnh giáo rồi. Trước đó chẳng bao lâu, Lưu Thiếu Kỳ bí mật thăm Liên Xô, Stalin nhiều lần nhấn mạnh phải “phân công quốc tế”. Mao Trạch Đông không bày tỏ ý kiến bất đồng việc này nữa.

Một ngày thượng tuần tháng 2, Stalin cuối cùng tiếp Hồ Chí Minh ở văn phòng làm việc của mình. Malenkov, Molotov, Bunganin trong Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Liên Xô, Trần Đăng Ninh – Việt Nam và Vương Gia Tường – Đại sứ Trung Quốc tại Liên Xô v.v... đã tham gia hội đàm lần đó. Stalin nói : “ Chúng ta là bạn bè và anh em thân thiết ”. “ Gặp các đồng chí hơi muộn, mong thông cảm ”.

Không dám, không dám ”, Hồ Chí Minh nói, chúng tôi rất phấn khởi, cũng rất cảm động được đồng chí Stalin nhiệt tình đón tiếp, nghe chúng tôi hội báo tình hình. Hồ Chí Minh theo dự kiến từ trước, trình bày tóm tắt với Stalin tình hình cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam, tình hình chiến tranh chống Pháp hiện nay và kiến nghị, yêu cầu viện trợ.

Sau khi nói xong, Hồ Chí Minh nhìn Stalin. Trong ánh mắt của Người có thể thấy rõ niềm hy vọng và chờ đợi. “ Chúng tôi rất cám ơn những giới thiệu của đồng chí Hồ Chí Minh ”. Stalin xưa nay nói chậm rãi thong thả, nhưng đã nhanh chóng đi vào nội dung thực chất. “ Đảng Cộng sản Liên Xô và nhân dân Liên Xô hoàn toàn nên viện trợ cuộc đấu tranh chống Pháp của các đồng chí. Song, chúng tôi đã trao đổi với các đồng chí Trung Quốc, công việc viện trợ chiến tranh chống Pháp của Việt Nam chủ yếu do Trung Quốc phụ trách thích hợp hơn ”. Stalin nói : “ Trung Quốc ở sát Việt Nam, hiểu rõ tình hình Việt Nam hơn chúng tôi, kinh nghiệm đấu tranh của Trung Quốc càng có tác dụng làm gương đối với Việt Nam, giúp các đồng chí sẽ thuận tiện hơn ”.

Theo dòng suy nghĩ của mình, Stalin tiếp tục phát biểu quan điểm của đồng chí : “ Đánh bại người Pháp, chi viện của nước ngoài là cần thiết, điều quan trọng hơn vẫn là phải làm tốt công tác mọi mặt trong nước. Phát động quần chúng, thật sự động viên và tổ chức đông đảo quần chúng là điều then chốt để đánh bại người Pháp ”. Stalin hầu như rất không hài lòng : “ Phát động quần chúng, dắt dẫn quần chúng chiến thắng kẻ thù, thì cần phải mang lợi ích thực tế cho quần chúng, làm cho quần chúng phấn đấu bảo vệ lợi ích của mình. Làm tốt việc này, sẽ đẩy nhanh tiến trình đánh bại người Pháp ”.

Hồ Chí Minh nói : “ Chúng tôi đã từng suy nghĩ việc này, do nhiệm vụ đấu tranh quân sự nặng nề, chưa hạ quyết tâm làm ”. “ Xem ra điều then chốt là chúng tôi không thực sự làm rõ mối quan hệ giữa cải cách ruộng đất và chiến tranh chống Pháp, cũng không hoàn toàn nhận thức mối quan hệ giữa cải cách ruộng đất và chiến tranh chống Pháp, cũng không hoàn toàn nhận thức mối quan hệ giữa cải cách ruộng đất và phát động quần chúng. Đảng chúng tôi sẽ nhanh chóng nghiên cứu và bắt tay làm việc này ”.

Cuộc hội đàm giữa hai Đảng Liên Xô và Cộng Sản Việt Nam kết thúc. Hồ Chí Minh biết, công tác viện trợ từ nay về sau sẽ chủ yếu do Trung Quốc gánh vác. Hồ Chí Minh rất tán thưởng dùng biện pháp như “ Hiệp ước tương trợ đồng minh hữu nghị Trung – Xô ” để xác định rõ và củng cố hơn nữa mối quan hệ giữa các nước anh em xã hội chủ nghĩa, tin chắc đó là một nguồn sức mạnh to lớn. Hồ Chí Minh rất muốn giữa Cộng Sản Việt Nam và Liên Xô cũng có một hiệp ước tương tự và tìm cơ hội nêu vấn đề này với Đảng Cộng sản Liên Xô.

Ngày 16/2, chính phủ Liên Xô tổ chức chiêu đãi trọng thể Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai và toàn thể đoàn viên đại biểu Trung Quốc tại điện Kremli. Những người phụ trách đảng chính quyền quân đội Liên Xô hầu hết đều tham gia, việt gian Hồ Chí Minh và bọn việt gian Cộng Sản Việt Nam cũng được mời đến dự. Stalin rất vui, trong bữa tiệc luôn luôn trò chuyện với khách. Hồ Chí Minh nắm lấy thời cơ này, mỉm cười hỏi Stalin :

Đồng chí còn có chỉ thị gì nữa đối với công tác của Việt Nam chúng tôi không ? ”.

Stalin cười : “ Tôi làm sao có thể chỉ thị cho đồng chí, đồng chí là Chủ tịch nước, quan còn to hơn tôi mà ! ”.

Hồ Chí Minh lại nói : “ Các đồng chí đã ký hiệp ước với Trung Quốc, nhân tôi ở đây, chúng tôi cũng muốn ký một hiệp ước ! ”.

Stalin nói : “ Thế người ta hỏi đồng chí từ đâu ra ? Chúng tôi giải thích như thế nào !

Hồ Chí Minh nói : “ Điều đó rất dễ, đồng chí cho chiếc máy bay chở tôi lượn một vòng trên trời, sau đó cho người ra sân bay đón tôi, đưa một tin trên báo, không được sao ? ”.

Stalin cười lớn nói : “ Đó quả là sức tưởng tượng đặc biệt của người phương Đông các anh ”.

Rất nhiều người dự tiệc cũng đều cười vang lên.

Mao Trạch Đông nói “ Trung Quốc chỉ có thể cử sang Việt Nam cố vấn vườn


Chiều 17/2, Mao Trạch Đông, việt gian Hồ Chí Minh và Chu Ân Lai lên tàu hỏa về Bắc Kinh. Molotov và 1 số người lãnh đạo Liên Xô ra ga tiễn, tổ chức lễ tiễn đưa tại sân ga. Mao Trạch Đông phát biểu lời từ biệt, việt gian Hồ Chí Minh bí mật thăm Liên Xô nên yên lặng ngồi trong toa xe. Sau khi lên đường về nước, Mao Trạch Đông quyết định cứ đến mỗi ga lớn đều xuống xem xem, tìm hiểu tình hình các nơi dọc tuyến đường sắt. Hồ Chí Minh rất tán thành sắp xếp của Mao Trạch Đông.

  • Ở Sverdlovsk, họ tham quan một nhà máy chế tạo cơ khí và trường đại học Sverdlovsk.

  • Ở Omsk, sau khi dạo chợ, tham quan nhà máy chế tạo công cụ cơ khí, Mao Trạch Đông nhìn thấy một bộ phận sản phẩm của nhà máy này đang đóng thùng xuất xưởng, tiếp tục chở sang Trung Quốc.

  • Ở Tân Siberi, tham quan hai nhà máy quân dụng, xem đoạn phim “Hoàng từ Igor” trong vũ kịch ba lê.

  • Ở Krasnoyark, tham quan nhà máy sản xuất máy gặt liên hợp tự động, đi xem ca múa của Nga.

  • Ở Irkutsk đi xem thành phố, tham quan nhà máy đóng gói chè. Chè của nhà máy này đều nhập khẩu từ Trung Quốc.

  • Ở Chita, tham quan vườn trẻ.

Đoàn tàu tiếp tục tiến về phương Đông, đến ga cuối cùng của Liên Xô là ga Oterbur. Hồ Chí Minh ngắm nhìn ra cửa sổ, nơi chân trời xa dãy núi chập chùng, quanh năm tuyết phủ đỉnh núi, ruộng đồng hai bên đường sát cũng có màu trắng xóa. Người nheo đôi mắt, suy ngẫm cuộc hành trình Liên Xô và những điều nghe thấy trên đường... Stalin nói, công tác viện trợ cho Cộng Sản Việt Nam chủ yếu do Trung Quốc phụ trách, nhưng Trung Quốc sẽ cung cấp viện trợ quân sự gì ? Liệu Trung Quốc có cử cố vấn quân sự cho Việt Nam không ?

việt gian Hồ Chí Minh quyết định hỏi rõ Mao Trạch Đông, nên đi đến toa xe của Mao Trạch Đông, Hviệt gian ồ Chí Minh nói ngay bằng tiếng Trung Quốc :

Mao Chủ tịch, Stalin không chuẩn bị viện trợ trực tiếp cho chúng tôi, cũng không ký hiệp ước với chúng tôi, cuộc chiến tranh chống Pháp của Việt Nam từ nay về sau chỉ có thể dựa vào viện trợ của Trung Quốc ”.

Mao Trạch Đông ngắm nhìn Hồ Chí Minh thân thiết và hữu nghị : “ Chúng ta là đảng anh em, lại là láng giềng ! Về vật tư quân sự, cố gắng hết sức viện trợ cho các đồng chí là điều phải làm; tất nhiên đó là ý kiến của cá nhân tôi, còn phải do Trung ương quyết định ”.

Mao Trạch Đông cảm thấy nên nói lại cho rõ tình hình của Trung Quốc : “ Tất nhiên các đồng chí cũng đã rõ, công nghiệp quân sự của Trung Quốc cực kỳ lạc hậu, lực lượng của chúng tôi rất có hạn, quân giải phóng đánh bại Tưởng Giới Thạch chủ yếu dựa vào sự giúp đỡ và ủng hộ của quần chúng nhân dân. Trang bị vũ khí của quân giải phóng nhân dân tuyệt đại bộ phận là do đại đội trưởng vận tải Tưởng Giới Thạch chở đến, ngay cả một phiếu vay, chúng tôi cũng không viết cho ông ta ”.

việt gian Hồ Chí Minh nói: “trang bị vũ khí của người Pháp rất tốt, nhưng chúng tôi thu được rất ít”, “từ nay về sau chúng tôi phải học tập thật tốt kinh nghiệm của các đồng chí, nhưng quân đội nhân dân chúng tôi trang bị lạc hậu, rất ít được huấn luyện, càng thiếu cán bộ chỉ huy thật sự hiểu được chiến lược, chiến thuật. Vì vậy chúng tôi còn muốn yêu cầu Trung Quốc cử cố vấn quân sự các cấp quân đoàn, đại đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn, giúp chúng tôi huấn luyện bộ đội, xây dựng bộ đội và chỉ huy tác chiến. Đồng thời, tôi còn muốn, nếu Trung Quốc còn có thể cử ....”.

Mao Trạch Đông im lặng một lát : “ Hồ Chí Minh ơi ! Có những vấn đề phải căn cứ vào tình hình mọi mặt sau này để tính kế lâu dài và suy xét, tạm thời có thể không bàn được không. Về việc cử cố vấn quân sự sang Việt Nam, cũng như viện trợ vật tư quân sự, tôi tán thành. Đồng chí bảo đồng chí Võ Nguyên Giáp đưa ra phương án cụ thể. Sau khi chúng tôi về Bắc Kinh, Trung ương cũng phải nghiên cứu cụ thể để đưa ra quyết định chính thức ”. Mao Trạch Đông nói : “ Song tôi cũng phải nói rõ cán bộ chúng tôi cử sang là những cố vấn vườn ”.

Sau khi về đến Bắc Kinh, việt gian Hồ Chí Minh nêu ra với Chính phủ Trung Quốc, bổ nhiệm việt gian Hoàng Văn Hoan làm đại diện của Chính phủ và Đảng Cộng Sản Việt Nam tại Trung Quốc (về sau đổi lại là Đại sứ), Mao Trạch Đông đồng ý.

Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc bí mật sang Việt Nam


Ngày 9/3/1950, đại diện liên lạc Đảng ta La Quý Ba, đến Việt Bắc, nơi ở của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương. việt gian Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp sau khi nghiên cứu nhất trí cho rằng việc đầu tiên cần làm trước mắt là khai thông giao thông biên giới Trung – Việt, để bảo đảm vật tư viện trợ Việt Nam có thể vận chuyển sang Việt Nam thuận lợi; vì vậy, cần phải tác chiến ở vùng Cao Bằng, Lào Cai miền bắc Việt Nam. Ngày 19/3 La Quý Ba điện báo Trung ương Đảng Trung Quốc: Phía Việt Nam định tổ chức chiến đấu ở khu vực Cao Bằng, Lào Cai, tiêu diệt quân địch ở đây và yêu cầu Trung Quốc lựa chọn điều động một số cán bộ quân đoàn, đại đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn, làm cố vấn cho quân đội Việt Nam.

Sau khi nhận được báo cáo của La Quý Ba, các đồng chí lãnh đạo Trung ương, Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ đã trao đổi rất rất nhanh, nhất trí cho rằng nên thỏa mãn yêu cầu của Việt Nam, nhanh chóng tổ chức vật tư quân sự viện trợ Việt Nam, trù tính tổ chức đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc viện trợ Việt Nam.

Mao Trạch Đông nói tại cuộc họp : “ Chúng ta viện trợ Việt Nam là hoàn toàn không hoàn lại, không có bất cứ điều kiện gì. Tôi thấy hễ là nhu cầu thực tế của Việt Nam, chúng ta lại có thì hết sức cung cấp, phải cung cấp vật tư, cũng phải cử cố vấn quân sự ”.

Cộng Sản Quân ủy Trung ương căn cứ vào quyết định của Trung ương, rất nhanh xác định Vi Quốc Thanh làm trưởng đoàn cố vấn quân sự. Lưu Thiếu Kỳ viết một bức thư, muốn Vi Quốc Thanh mang thư đi tìm lãnh đạo các Dã chiến quân, nhờ họ chọn cử cán bộ cho đoàn cố vấn quân sự.

Vi Quốc Thanh mang thư của Lưu Thiếu Kỳ tìm đến Đặng Tiểu Bình trước tiên : “ Đặng Chính ủy, Trung ương quyết định cử tôi đi Việt Nam công tác ở đoàn cố vấn quân sự, Lưu Thiếu Kỳ muốn tôi báo cáo với các đồng chí, nhờ Dã chiến quân 2 lựa chọn điều động một số cố vấn cho đoàn cố vấn ”.

Khi khởi nghĩa Bách Sắc năm ấy, Vi Quốc Thanh còn trẻ, Đặng Tiểu Bình bóc thư cấp dưới của mình ra xem, mỉm cười nói : “ Thế này nhé, chúng tôi đều họp ở đây, đồng chí đi tìm từng người rất vất vả, chúng ta cùng đi gặp họ trao đổi thử xem ”.

Đặng Tiểu Bình và Vi Quốc Thanh cùng đến chỗ ở của Lâm Bưu, Đặng Tiểu Bình nói với Lâm Bưu : “ Trung ương quyết định cử đoàn cố vấn quân sự đi Việt Nam, Vi Quốc Thanh đến nhờ các Dã chiến quân chúng ta chọn điều động cán bộ, đồng chí Thiếu Kỳ còn có thư, chúng ta cùng đến chỗ Bành Đức Hoài bàn bạc xem sao ? ”. Lâm Bưu đồng ý, cùng đến chỗ ở của Bành Đức Hoài.

Sau khi Bành Đức Hoài và Lâm Bưu lần lượt xem thư của Lưu Thiếu Kỳ, Bành Đức Hoài phấn khởi nói : “ Hiện nay chiến tranh trong nước cơ bản đã chấm dứt, các đồng chí cần cán bộ gì thì cung cấp cán bộ nấy, cần bao nhiêu cấp bấy nhiêu, chúng tôi dốc toàn lực ủng hộ. Đồng chí cần bao nhiều người nói đi ”.

Vi Quốc Thanh nói : “ Hiện nay Việt Nam thành lập 3 đại đoàn (sư đoàn), có đại đoàn vừa mới thành lập sau khi La Quý Ba đến Việt Nam. Ý kiến của phía Việt Nam là ngoài cơ quan Bộ Tổng tham mưu ra, bước thứ nhất phải chọn cử cố vấn các cấp của ba sư sang Việt Nam ”.

Lâm Bưu cũng tỏ thái độ ngay, nói : “ Tôi hoàn toàn ủng hộ quyết định của Trung ương, cần bao nhiêu cấp bấy nhiêu, quyết không giảm bớt, mà còn phải chọn, điều động cho tốt cán bộ cử đi ”.

Đặng Tiểu Bình nói : “ Tôi thấy cố vấn của ba đại đoàn do Trung ương quyết định phân phối ! Để công tác thuận tiện, những người trong Ban chỉ huy đoàn cố vấn quân sự do Dã chiến quân số 3 của đồng chí lựa chọn điều động có được không ? ”.

Vi Quốc Thanh nói : “ Như thế cũng được, tôi báo cáo lại đồng chí Thiếu Kỳ ”.

Sáng hôm sau, Vi Quốc Thanh vội đến Trung Nam Hải báo cáo với Lưu Thiếu Kỳ.

Lưu Thiếu Kỳ nói: “ Ý kiến của đồng chí Đặng Tiểu Bình rất hay, nhân viên do Dã chiến quân 3 điều động, có 3 đại đoàn còn có cố vấn cho một trường, cần ra thông tri nói rõ sự phân phối, cho các Dã chiến quân biết ”.

Vi Quốc Thanh nói: “ Liệu có nên để các Dã chiến quân 2, 3, 4 lựa chọn điều động cố vấn các cấp cho mỗi một đại đoàn, cố vấn và giáo viên của trường quân chính do Dã chiến quân số 4 lựa chọn điều động ! ”.

Lưu Thiếu Kỳ nói : “ Như thế là được đấy. Dã chiến quân 1 ở vùng Tây Bắc, nhiệm vụ cũng rất gian khổ phức tạp, người lại ít, lần này miễn cho họ ! Đồng chí, suy nghĩ rồi báo cáo với Nhiếp Vinh Trăn, xem đồng chí ấy còn có ý kiến gì nữa không, rồi đề nghị Trung ương ra thông tri ”.

Ngày 17/4, được Mao Trạch Đông phê duyệt, Quân ủy Trung ương ra thông tri: Mỗi Dã chiến quân số 2, 3, 4 điều động cố vấn các cấp cho một sư từ đại đoàn đến tiểu đoàn, do Dã chiến quân số 3 điều động bố trí nhân viên công tác trong Ban chỉ huy đoàn cố vấn quân sự, tổ chức thành Đoàn cố vấn quân sự sang Việt Nam. Ngoài ra, do Dã chiến quân số 4 điều động bố trí toàn bộ cố vấn giáo viên cho trường cán bộ quân chính quân đội nhân dân Việt Nam.

Trong “thông tri” đã quy định cụ thể sáu điều kiện cần phải có của cán bộ được lựa chọn, điều động như “ hoàn toàn trung thực vững vàng về chính trị, tư tưởng tiến bộ, tính kỷ luật cao, tác phong đứng đắn, có thể đoàn kết cán bộ ”, “ có năng lực nghiệp vụ nhất định và có tri thức xã hội nhất định ”, “ có trình độ văn hóa từ cấp 2 trở lên ”, “ tuổi dưới 40 ” v.v.., còn nhấn mạnh “ đây là một nhiệm vụ chính trị rất nặng nề ”, cần phải lựa chọn nghiêm túc, do các đồng chí phụ trách đại quân khu đích thân thẩm tra và được Trung ương thẩm tra cuối cùng, những người không đạt yêu cầu thì trả về, điều động người khác.

Trước khi Đoàn cố vấn quân sự còn chưa vào Việt Nam, Hồ Chí Minh đã điểm tướng, mời Trần Canh đến trước Việt Nam hỗ trợ hoạch định và tổ chức tác chiến ở vùng biên giới. Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đồng ý yêu cầu của Hồ Chí Minh. Ngày 7/7, Trần Canh dẫn đầu nhân viên của Đoàn cố vấn do Dã chiến 2 điều động rời Côn Minh đi Việt Nam.

Sáng ngày 27/6 các lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước: Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Đức thân mật tiếp hơn 40 nhân viên cố vấn của Bắc Kinh tại Di Niên đường, Trung Nam Hải. Mao Trạch Đông nói : “ Không phải tôi muốn cử các đồng chí sang Việt Nam, mà là Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Trung Quốc yêu cầu chúng ta. Cách mạng chúng ta thắng lợi trước, nên giúp đỡ người ta, giúp họ gọi là chủ nghĩa quốc tế ”. Mao Trạch Đông lại nói : “ Trong lịch sử Trung Quốc ức hiếp Việt Nam ”. Mao Trạch Đông kể tỉ mỉ chuyện triều Hán “ Mã Viện đánh Giao Chỉ. Mao Trạch Đông nói : “ Sau khi đến Việt Nam, các đồng chí phải nói với họ, tổ tông xưa chúng tôi ức hiếp các đồng chí, chúng tôi tạ tội xin lỗi các đồng chí và một lòng một dạ giúp đỡ các đồng chí đánh bại bọn thực dân Pháp ”. “ Các đồng chí sang Việt Nam, phải ra quân là thắng lợi ”.

Sau buổi tiếp, ba người Vi Quốc Thanh, Mai Gia Sinh, Đặng Dật Phàm bàn bạc công việc của đoàn cố vấn ở Di Niên đường. Vi Quốc Thanh nói : “ Trung ương muốn tôi nắm công việc chung của đoàn cố vấn, tôi đành phải làm theo. Tôi suy nghĩ, Bộ Tư lệnh do đồng chí Mai Gia Sinh chủ trì, đồng chí Mai Gia Sinh làm tham mưu trưởng, công tác chính trị do đồng chí Đặng Dật Phàm phụ trách, tức Chủ nhiệm Ban chính trị ”.

Sau này sang Việt Nam, Mai, Đặng đều là phó đoàn trưởng đoàn cố vấn quân sự, còn các đồng chí trong đoàn cố vấn đều gọi “Mai tham mưu trưởng”, “Đặng chủ nhiệm”. Khi ba người đang trao đổi thì Lưu Thiếu Kỳ bước vào Di Niên đường nói : “ Các đồng chí còn cần ai nữa cứ nêu ra, sau đó chúng tôi phê chuẩn là được. Các đồng chí còn có vấn đề gì khó khăn cũng có thể nêu lên ”.

Vi Quốc Thanh nói : “ Trung ương đã sắp xếp cho chúng tôi rất chu đáo, đồng ý cấp phát ngoại lệ bút, giầy da, đồng hồ cho mỗi đồng chí, còn sẵn sàng sắp xếp chu đáo cho gia đình chúng tôi, mọi người rất hài lòng ”.

Sau khi đoàn cố vấn đến Nam Ninh, Chủ tịch, Bí thư tỉnh ủy tỉnh Quảng Tây – Trương Vân Dật nhìn thấy Vi Quốc Thanh trưởng thành từ quân đoàn 7 hồng quân khi mình lãnh đạo khởi nghĩa Bách Sắc tháng 12/1929, làm trưởng đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc viện trợ Việt Nam chống Pháp, vô cùng phấn khởi và theo yêu cầu của Vi Quốc Thanh, đọc một bài phát biểu quan trọng trước toàn thể các đồng chí trong đoàn cố vấn quân sự, giúp Vi Quốc Thanh làm công tác động viên tư tưởng rất có tác dụng.

trancanh

Từ trái sang phải : Trường Chinh, Hồ Chí Minh, Trần Canh, La Quý Ba. Nguồn : QGP Trung Quốc

Trước khi đoàn cố vấn ra nước ngoài, đã chế định : “ Quy tắc công tác của đoàn cố vấn quân sự ”, làm cho mọi người có chuẩn tắc và yêu cầu rõ ràng trong công tác và hành động từ nay về sau, thành lập đảng ủy đoàn cố vấn quân sự do Vi Quốc Thanh làm Bí thư, Đặng Dật Phàm làm Phó Bí thư, Mai Gia Sinh, Mã Tây Phu, Lý Văn Nhất, Đặng Thanh Hà v.v.. làm ủy viên.

Ngày 9/8/1950, đoàn cố vấn quân sự từ Nam Ninh lên đường. Trên đường đi qua Điền Đông, Bách Sắc, Tịnh Tây, rạng sáng ngày 12/8 đến vùng Quảng Uyên tỉnh Cao Bằng, Việt Nam, nơi ở Bộ chỉ huy tiền tuyến chiến dịch biên giới của quân đội nhân dân Việt Nam, được các đồng chí lãnh đạo quân đội Việt Nam Võ Nguyên Giáp, Trần Đăng Ninh nhiệt liệt hoan nghênh.

Trong chiến tranh Việt Nam chống Pháp, Trung Quốc là nước duy nhất viện trợ số lớn quân sự không hoàn lại. Theo tài liệu hữu quan, Trung Quốc viện trợ cho quân đội nhân dân Việt Nam hơn 150.000 khẩu súng, hơn 3.000 khẩu pháo và số lớn đạn dược, xe cộ, quần áo, lương thực, thực phẩm phụ và đồ dùng hằng ngày khác như màn, khăn bông, bát tráng men v.v..

Một trong những nhiệm vụ của tôi công tác ở văn phòng đoàn cố vấn quân sự lúc bấy giờ là thống kê, nắm vững tình hình giao nhận vật tư quân sự viện trợ cho Việt Nam và báo cáo với lãnh đạo đoàn cố vấn.

Tôi cảm thấy thấm thía rằng, không có viện trợ số lớn, vô tư của Trung Quốc thì thắng lợi của chiến tranh Việt Nam chống Pháp sẽ không đến nhanh như thế./.

Trương Quảng Hoa

(đăng trên Viêm Hoàng xuân thu số 5 năm 1999.
Khi đưa vào cuốn sách này, tác giả có sửa chữa đôi chút.)

Đây là chứng cớ Tàu xâm lược


****Tối hôm đó, Lưu Thiếu Kỳ mở tiệc chào mừng long trọng tại Trung Nam Hải. Các vị lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chu Đức, Đồng Tất Vũ, Lưu Bá Thừa, Nhiếp Vinh Trăn, Lý Duy Hán v.v.. đến dự. Phía Việt Nam có Trần Đăng Ninh, Hoàng Văn Hoan v.v...

Chu Đức (tiếng Trung: 朱德, Wade-Giles: Chu Te, tự: Ngọc Giai 玉阶; 1 tháng 12 năm 18866 tháng 7 năm 1976) là một chính khách và một nhà lãnh đạo quân sự Đảng Cộng sản Trung Quốc. Ông tên thật là Đại Trân, tự là Ngọc Giai, quê ở huyện Nghi Long, tỉnh Tứ Xuyên.

Ông là một trong mười Nguyên soái của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, được phong hàm trong một đợt phong Nguyên soái duy nhất vào ngày 23 tháng 9 năm 1955. Ông được xem là người sáng lập ra Hồng quân Trung Quốc (tiền thân của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc) và là một nhà chiến thuật đã chỉ huy quân đội làm nên cuộc cách mạng khai sinh ra nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Năm 1928, Chu Đức đem khoảng 10.000 quân đến vùng núi Tỉnh Cương nhập với một lực lượng nhỏ hơn của Mao Trạch Đông để lập ra Quân đoàn 4 Hồng quân, và ông là Quân đoàn trưởng Quân đoàn 4, trong khi Mao Trạch Đônglàm đại biểu Đảng tại đây, và lực lượng này được gọi là "bộ đội Chu-Mao". Ông làm Tổng Tư lệnh Hồng quân Trung Hoa thời kỳ 1931-37. Khi Quốc-Cộng hợp tác năm 1937, ông là Tổng chỉ huy Bát lộ quân, thuộc Quân Cách mạng quốc dân (do Tưởng Giới Thạch chỉ huy).

Đổng Tất Vũ (tên tiếng Hoa: 董必武, Wade-Giles: Tung Pi-wu) (1886 - ngày 2 tháng 4, 1975) là một nhà lãnh đạo chính trị Cộng sản Trung Quốc trong thời kỳ cầm quyền của Mao Trạch Đông.

Lưu Bá Thừa (giản thể: 刘伯承, phồn thể: 劉伯承, bính âm: Liú Bóchéng, Wade-Giles: Liu Po-ch'eng; 4 tháng 12 năm 1892 - 7 tháng 10 năm 1986) là một lãnh đạo quân đội và là một trong 10 nguyên soái của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc.

Lưu Bá Thừa được biết đến là một trong "Ba và 1/2 nhà chiến lược" của Trung Quốc trong lịch sử hiện đại. (Hai vị kia là Lâm Bưu, chỉ huy quân đội của Đảng Cộng sản Trung Quốc, và Bạch Sùng Hi, chỉ huy của Quốc Dân Đảng; còn 1/2 là nói đến chỉ huy quân đội Đảng Cộng sản Trung Quốc Túc Dụ.) Về mặt chính thức, Lưu Bá Thừa được công nhận là một nhà cách mạng, nhà quân sự và nhà lý luận quân sự, và là một trong những người sáng lập của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc. Tên hiệu của ông là "Sao Hỏa Trung Quốc" và "Độc Nhãn Long", cũng phản ánh tính cách và thành tích quân sự của ông.

Nhiếp Vinh Trăn (giản thể: 聂荣臻, phồn thể: 聶榮臻, bính âm: Niè Róngzhēn, Wade-Giles: Nieh Jung-chen; 29 tháng 12 năm 1899 - 14 tháng 5 năm 1992) là một trong "thập đại nguyên soái" của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc.

Hai Lá Cờ, Hai Bên Chiến Tuyến 1--Trần Quốc Kháng

Hai Lá Cờ, Hai Bên Chiến Tuyến:

Tổ Quốc VN Và “Tổ Quốc Xã Hội Chủ Nghĩa”

(Bài I)

* Ôn lại những trang lịch sử nước nhà, ai cũng thấy các vị Anh Hùng Hào Kiệt VN, đều lấy lòng NHÂN TỪ và CHÂN THÀNH làm gốc. Từ lời nói đến việc làm, Tiền Nhân đã làm sáng tỏ Chính Nghĩa Quốc Gia, hoàn toàn đối nghịch với bản chất BẤT NHÂN, PHI DÂN TỘC và XẢO QUYỆT khôn lường, xuất phát từ tà thuyết Mác-Lênin mà Hồ Chí Minh đã mang từ Liên Sô về áp đặt trên quê hương chúng ta để bành trướng “Tổ Quốc XHCN”.

* Việt Nam Cộng Hòa và “Cộng Hòa XHCN Việt Nam” chỉ khác nhau có 4 chữ “XHCN”. Khi người Cộng Sản trở về với Tổ Quốc VN, xóa bỏ XHCN thì 2 phía đều là Cộng Hòa. Được vậy, đương nhiên ranh giới Quốc Cộng không còn, thảm cảnh “huynh đệ tương tàn” tự nhiên tan biến.

Trần Quốc Kháng

Kể từ ngày miền Nam thất thủ đến nay, hơn 33 năm trời đã trôi qua. Mặc dù VN Cộng Hoà đã xụp đổ, chiến tranh đã chấm dứt, nhưng ranh giới hay chiến tuyến giữa 2 phía Quốc Gia và Cộng Sản vẫn còn đậm nét. Đến khi nào, ranh giới ấy mới phai mờ trong tâm trí của tất cả mọi người?

Ở trong nước, sách báo, phim ảnh, tài liệu, bản tin, mới và cũ đủ loại, do nhà nước VC ấn hành, không nhiều thì ít, không công khai thì tiềm ẩn ý tưởng, theo “đường xưa lối cũ” mạt sát phía Quốc Gia hay VN Cộng Hòa. Đồng thời, CSVN còn lùng bắt những người tranh đấu cho Dân Chủ Tự Do, lùng bắt những người phản đối đảng CSVN dâng lãnh thổ và lãnh hải cho Tàu Cộng. Chúng buộc tội các nạn nhân là “phản động” hay “phá rối trị an”.

Ở hải ngoại, chuyện Quốc Cộng sôi nổi hơn nhiều, nhất là trên mạng lưới điện toán toàn cầu. Vì mọi người được quyền Tự Do ngôn luận hoặc biểu lộ tư tưởng của mình. Nên phía Cộng Sản cùng với lá cờ Đỏ Sao Vàng bị dân chúng tỵ nạn — bao gồm cả các viên chức cũ của VN Cộng Hoà và những người yêu chuộng Dân Chủ Tự Do — đả kích rất mãnh liệt. Ngược lại, phía Cộng Sản và tay sai “nằm vùng” trong cộng đồng tỵ nạn tiếp tục gia tăng nỗ lực, bôi nhọ những người Quốc Gia, hoặc đánh phá các đảng phái chính trị đấu tranh dưới lá cờ Vàng Ba Sọc Đỏ.

Đâu là nguyên nhân sâu xa sinh ra ranh giới Quốc Cộng? Tại sao dân tình ly tán, xã hội bất an, kinh tế phát triển khó khăn, đời sống dân chúng ghèo khổ, lầm than? Làm thể nào để xóa bỏ ranh giới Quốc Cộng trong thâm tâm người Việt chúng ta?

  • Vì Ai Gây Dựng Cho Nên Nỗi Này?

trong đại khối Quốc Dân, có hàng triệu người như chúng tôi, từ tư tưởng đến việc làm hoàn toàn trái ngược với đảng CSVN — dẫn đầu là Hồ Chí Minh. Chứng cớ cụ thể là trên trang 351 của cuốn “Tuyển Tập Hồ Chí Minh”, xuất bản năm 1960. Trong bản “Báo Cáo Chính Trị”, đọc trước Đại Hội Đảng lần thứ II, Hồ Chí Minh đã long trọng tuyên bố:

“Sau ngày Cách mạng tháng Mười (Nga) thành công, Lê-Nin lãnh đạo việc xây dựng Quốc tế Cộng sản. Từ đó, vô sản thế giới, cách mạng thế giới thành một đại gia đình, mà Đảng ta là một trong những CON ÚT của đại gia đình ấy”.

Như vậy thì rõ ràng, Hồ Chí Minh đã tự nguyện, tôn kính Lê-Nin là CHA. Nước VN do đảng CSVN lãnh đạo, hiển nhiên trở thành chư hầu của Đế Quốc Đỏ Liên Sô. Lẽ dĩ nhiên CHA bảo sao, CON phải vâng lời như vậy. Đế Quốc Đỏ ban lệnh thế nào, chư hầu phải cúi đầu làm theo như thế.

Không hiểu quý vị có cảm nghĩ thế nào? Đó là điều vinh quang hay ô nhục cho Hồ Chí Minh và đảng CSVN? Đó là điều “vinh quang” hay Ô NHỤC cho đất nước khi sử dụng lá cờ Máu Sao Vàng của đảng CSVN làm “Quốc Kỳ”?

Dù sao, Hồ Chí Minh cùng đảng CSVN đã đi ngược lại truyền thống yêu chuộng Độc Lập Tự Do của đại khối Quốc Dân — hay Dân Tộc VN — từ thời Quốc Tổ Hùng Vương lập quốc. Ngay cả khi gần chết, Hồ vẫn ngoan cố, viết di chúc tỏ ý ước ao “khi xuống âm phủ được gặp cụ Mác, cụ Lê”. Hiển hiện, đó là “2 vị Quốc Tổ Xã Hội Chủ Nghĩa” mà Hồ cùng đồng đảng tôn thờ bên cạnh “Mao Chủ Tịch” của Tàu Cộng.

Ngược lại là đại khối Quốc Dân. Hầu như ai đến lúc lâm chung cũng mong ước, khi xuống âm phủ, sẽ được gặp Tổ Tiên hay Ông Bà Cha Mẹ nơi Cõi Phật hay Cõi Chúa. Riêng đối với thành phần cựu Quân Nhân VN Cộng Hòa như chúng tôi, nhiều người có thêm ao ước: Khi xuống âm phủ, mong có dịp đến chầu vua Hùng Vương cùng các Anh Hùng dân tộc như vua Quang Trung và Đức Trần Hưng Đạo để TẠ TỘI. Vì chúng tôi là những người cầm súng chiến đấu, nhưng không hoàn thành được trách nhiệm bảo vệ Tổ Quốc VN năm 1975.

Thật ra, còn hàng trăm hay cả ngàn chuyện đối nghịch, liên tục xẩy ra trên đất nước chúng ta từ khi Cộng Sản xuất hiện năm 1925. Chỉ vì Hồ Chí Minh, “người cha già muôn vàn kính yêu” của đảng CSVN, sau khi đi làm bồi tàu cho Pháp thì đến Mạc Tư Khoa bên Liên Sô. Ở đó, Hồ được DƯỠNG DỤC — có nghĩa là được nuôi nấng và dậy bảo — để trở thành người Cộng Sản Đệ Tam Quốc Tế. Khi Liên Sô sai khiến, Hồ đem thân khuyển mã, thi hành mệnh lệnh, đem chủ nghĩa Mác-Lênin về áp đặt trên đất nước chúng ta.

Đó là cội nguồn phát sinh ra 2 bên chiến tuyến, một bên là đại khối Quốc Dân phụng sự Tổ Quốc VN, một bên là Cộng Sản, phục vụ “Tổ Quốc XHCN” ở bên Liên Sô.

Đó là cội nguồn, làm cho Đất Nước chia đôi suốt 20 năm theo Hiệp Định Genève, do Cộng Sản và Liên Hiệp Pháp ký kết năm 1954.

Đó là cội nguồn gây nên thảm cảnh chiến tranh máu lửa ròng rã suốt 30 năm trời (1945 – 1975).

Nói ngắn gọn là băng đảng CSVN — cầm đầu là Hồ Chí Minh — đã TỪ BỎ Tổ Quốc VN để cúc cung tận tuỵ “Tổ Quốc XHCN” bên Liên Sô. Do đó mới có thảm cảnh chiến tranh “huynh đệ tương tàn”. Do đó mới có ranh giới Quốc Cộng.

Đúng là như vậy. “Việt Nam Cộng Hòa” và “Cộng Hòa XHCN Việt Nam” khác nhau có 4 chữ “XHCN”. Khi người Cộng Sản trở về với Tổ Quốc VN, xóa bỏ 4 chữ XHCN thì 2 phía đều là Cộng Hòa. Được vậy, đương nhiên ranh giới Quốc Cộng không còn, thảm cảnh “huynh đệ tương tàn” tự nhiên tan biến.

Quả là điều bất hạnh cho dân tộc VN, giấc mơ ấy chưa trở thành sự thật như ở bên Liên Sô và các nước Đông Âu. Có hàng triệu đảng viên Cộng Sản, đã biết “cải tà quy chính”, đồng khởi vùng lên quẳng Mác-Lênin vào “xọt rác lịch sử” để trở về với Chính Nghĩa Quốc Gia, lấy Dân Chủ Tự Do làm nền tảng cho thể chế chính trị. Rõ ràng là “Mẫu Quốc” Liên Sô đã “ăn năn hối cải”, dẹp bỏ lá cờ “Máu Búa Liềm” để sử dụng lá cờ Chính Thống của Quốc Gia Nga với ba màu “Đỏ, Trắng, Xanh”.

Nói cách khác là “Quốc Tế Vô Sản” đã phá sản. Đế Quốc Đỏ Liên Sô cùng các nước Cộng Sản Đông Âu đã HỒI CHÁNH tập thể. Hiện thời CSVN chỉ còn quan thầy Tàu Cộng. Nhưng ở bên Tàu, “linh hồn Mác-Lênin” cũng đã cúi đầu đi theo chiều hướng “Kinh Tế Thị Trường” của chủ nghĩa Tư Bản!

Thế mà CSVN vẫn ngoan cố, tiếp tục cho tay sai áp dụng chiến thuật “Ba Mặt Giáp Công”.

Thứ Nhất, chúng tung ra những chiêu bài bịp bợm, kêu gọi “hòa hợp hoà giải”, kêu gọi xóa bỏ ranh giới Quốc Cộng, kêu gọi “đoàn kết” dưới lá cờ Máu Sao Vàng để “thờ Mao chủ tịch thờ Stalin bất diệt” — như lời VC Tố Hữu, “Trưởng Ban Văn Hoá Tư Tưởng Trung Ương” đã xác nhận thú.

Thứ Hai, chúng “xuất cảng” ra hải ngoại những “chiến sĩ Dân Chủ” CUỘI, “phản tỉnh” CUỘI, tổ chức “đấu tranh” CUỘI. Ngay sau đó, bọn thiên tả, hay “trở cờ” trong cộng đồng VN tỵ nạn, “đánh trống khua chiêng” om xòm trên các hệ thống truyền thông. Nhiều người mắc mưu tưởng là thật, để rồi mất thời giờ, mất công tranh cãi với những người bất đồng ý kiến. Hệ qủa là khối tỵ nạn VC bị phân hóa.

Thứ Ba, chúng cho bọn bồi bút viết sách báo, bôi nhọ các Anh Hùng Hào Kiệt VN để chuẩn bị dư luận, VIẾT LẠI LỊCH SỬ VN. Chúng đang sửa soạn cho tương lai xa, dần dần sẽ XOÁ BỎ TỔ QUỐC VN để thay vào đó là “Tổ Quốc XHCN”. Gần gũi và thực tế hơn là CSVN muốn làm đẹp lòng quan thầy Tàu Cộng. Chỉ vì tất cả các vị Anh Hùng Hào Kiệt VN đều là người Quốc Gia Chân Chính, đã giáng những đòn chí tử khi giặc Tàu xâm lấn VN. Như vua Quang Trung chẳng hạn. Sự nghiệp cứu quốc của Ngài đã bị bọn bồi bút như Nguyễn Huy Thiệp, Trần Độ... và Nguyễn Gia Kiểng viết sách báo thoá mạ.

  • Quốc Gia Và Cộng Sản: Hai Thái Cực Đối Nghịch

Trong cuốn "Lịch Sử đảng CSVN" do Việt Cộng xuất bản năm 1979, đảng CSVN đã khẳng định:

"Chúng ta theo Chủ Nghĩa Quốc Tế, KHÔNG THEO CHỦ NGHĨA QUỐC GIA. Chúng ta phải nâng cao tinh thần đấu tranh giải phóng... nghĩa là HÌNH THỨC THÌ DÂN TỘC MÀ NỘI DUNG LÀ QUỐC TẾ”.

Rõ ràng như năm với năm là mười. Đảng CSVN đã TỪ BỎ Quốc Gia, TỪ BỎ Đất Nước, TỪ BỎ Dân Tộc, TỪ BỎ Tổ Quốc VN để đi theo “Chủ Nghĩa Quốc Tế”. Hiển hiện Đất Nước, Dân Tộc và Tổ Quốc VN đối với Cộng Sản, chỉ còn lại là những chiêu bài. Điển hình là “Mặt Trận Tổ Quốc” và “Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam” chỉ là 2 công cụ để đảng CSVN “lừa già dối trẻ” không hơn không kém. Đồng thời, việc Hồ cùng đồng đảng, 2 lần dâng lãnh thổ và lãnh hải của Tổ Quốc VN cho Tàu Cộng là những bằng cớ hùng hồn cho thấy thực chất của đảng CSVN đối với Đất Nước.

Vì thế, trong bài “Quốc Kỳ Và Quốc Ca VN” của giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, phổ biến trên đặc san Tự Do Dân Bản, số 27 & 28, phát hành hồi tháng 3 & 4 năm 1988, tác giả đã viết nguyên văn:

“Chúng ta không nên quên rằng hai điều căn bản trong điều lệ của Đảng Cộng Sản Đệ Tam Quốc Tế do Lenin thành lập là người tuyên thệ vào đảng này phải xem Liên Sô là tổ quốc số một của mình và phải triệt để tuân lịnh cơ quan lãnh đạo của Đảng đặt tại Liên Sô. Lấy cờ đỏ sao vàng làm quốc kỳ, Hồ Chí Minh và tập đoàn CSVN đã biểu lộ ý muốn xem lực lượng quân sự Việt Nam là một lực lượng phụ dịch cho Quân Đội Liên Sô, và như vậy thì dĩ nhiên nước Việt Nam Cộng Sản phải là một nước chư hầu của Liên Sô”.

Khi đối chiếu với tài liệu do CSVN xuất bản để kiểm chứng, quả thật nhận định của giáo sư Huy rất chính xác. Chứng cớ là trong cuốn "Chủ Nghĩa Quốc Tế Vô Sản" do VC xuất bản, đã xác nhận:

"Đảng ta ngay từ khi mới thành lập đã khẳng định mình là một đơn vị của đoàn quân QuốcTế Vô Sản".

Vả lại, Hồ Chí Minh cũng đã xác nhận vai trò tôi tớ của hắn, phục vụ “Tổ Quốc XNCH” rất tận tuỵ:

"Nhận chỉ thị của Quốc Tế Cộng Sản để giải quyết vấn đề cách mạng ở nước ta, tôi đã hoàn thành nhiệm vụ".

Hai chữ “cách mạng” trong câu nói của họ Hồ có nghĩa là “cách mạng vô sản”. Đó là việc áp đặt chủ nghĩa phi nhân Mác-Lênin trên quê hương chúng ta để “mở mang bờ cõi” của “Tổ Quốc XNCH”. Trong 30 năm chiến tranh, dưới chiêu bài "đánh Pháp chống Mỹ", Quốc Tế Cộng Sản đã sử dụng đất nước VN làm bãi chiến trường. Quốc Tế Cộng Sản đã đem "núi xương sông máu" của dân tộc VN, lót đường cho chủ nghĩa phi nhân Mác-Lênin bành trướng. Kết quả hiện thời, sau 28 năm chiến tranh chấm dứt, VN vẫn là nơi nghèo khổ, lầm than và nhiều tệ đoan xã hội nhất thế giới.

Chỉ cần chừng ấy chứng cớ cũng đủ chứng minh, từ tư tưởng đến việc làm, CSVN hoàn toàn đi ngược lại nguyện vọng của đại khối Quốc Dân VN mà Quốc Tổ là vua Hùng Vương. NGƯỜI vừa có công lập quốc, vừa có công khai sáng Chủ Nghĩa Quốc Gia trên quê hương chúng ta. Nhưng CSVN đã TỪ BỎ, đi theo “Tổ Quốc XHCN” bên Liên Sô.

Đúng là như vậy. Nếu hiểu 2 chữ Quốc Gia theo "Quốc Tế Công Pháp" hiện thời quy định gần 5 ngàn nằm trước đây, nước Văn Lang của dân tộc chúng ta đã hội tụ đủ 3 thành tố Lãnh Thổ, Dân Chúng và Chính Quyền để trở thành Quốc Gia.

Nếu dịch 2 chữ "Quốc Gia" sang tiếng Mỹ là NATION và tiếng Pháp là ÉTAT thì mới dịch được chữ QUỐC, còn thiếu chữ GIA. Vì theo nguyên ngữ tiếng Hán thì QUỐC là nước, GIA là nhà. Do đó khi hiểu sâu đậm hơn, người Quốc Gia Chân Chính là người vừa yêu thương GIA ĐÌNH, vừa yêu thương TỔ QUỐC. Nói nôm na là chăm lo cho gia đình mà vẫn không quên nghĩa vụ đối với Đất Nước. Vì Đất Nước và Gia Đình song hành với nhau như hình với bóng. Nên từ ngàn xưa, VN ta mới có câu "nước mất nhà tan". Người Tàu có câu như "quốc phá gia vong" hay “quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”.

Đọc lại những trang sử nước nhà, ai cũng thấy tất cả các Anh Hùng Hào Kiệt VN đều là những người Quốc Gia Chân Chính. Hiển nhiên không có vị nào dính líu gì đến "Chủ Nghĩa Cộng Sản”. Tiền nhân chúng ta đã thể hiện lòng YÊU NƯỚC THƯƠNG DÂN cùng lòng CHÂN THÀNH qua lời nói và việc làm, hoàn toàn đối nghịch với chủ trương sử dụng BẠO LỰC và GIAN TRÁ của Hồ Chí Minh và đảng CSVN.

1- Trong thời quân chủ cực thịnh khi xưa, vua Lý Thánh Tông nổi danh là ông vua NHÂN TỪ, thương dân như thương con. Ngài đã từng nói:

"Lòng trẫm yêu dân cũng như yêu con trẫm vậy, nhưng vì trăm họ ngu dại, làm càn phải tù tội, trẫm lấy làm thương lắm. Từ nay về sau, tội gì cũng giảm nhẹ bớt đi".

Một hôm trời rét, nhà vua bảo cận thần:

"Trẫm ở trong cung ăn mặc thế này mà còn rét, nghĩ những tù phạm trong ngục, phải trói buộc cơm không đủ ăn, vả lại có người xét hỏi chưa xong, gian ngay chưa rõ, nhỡ rét quá mà chết thì thật là thương lắm."

Nói xong nhà vua ban lệnh lấy thêm chăn chiếu cho tù nhân và mỗi ngày cho họ ăn 3 bữa no. Quốc sách Nhân Trị của nhà vua đã cải hóa được rất nhiều người, khiến mức độ phạm pháp trong xã hội gỉam thiểu, không có trường hợp nào trầm trọng đáng kể.

2- Trong thời gian chống quân Mông Cổ, Đức Trần Hưng Đạo đã mở đầu bản hịch Cứu Quốc bằng lời lẽ đầy thù hận, phát xuất vì tình YÊU NƯỚC THƯƠNG DÂN:

"Ta đây, ngày thì quên ăn, đêm thì quên ngủ, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm tức rằng chưa được lột da quân giặc, dẫu thân này phơi ngoài nội cỏ, xác này gói trong da ngựa thì cũng đành lòng".

Vì tình yêu nước thương dân thúc đẩy, Người sẵn sàng hy sinh tính mạng cho đại nghĩa. Trong thời kỳ oanh liệt ấy, cũng có một số quan quân "xôi thịt" trong triều đình, cũng có bầy "giá áo túi cơm" trong xã hội. Chẳng thế mà trong Bản Hịch, Đức Thánh Trần đã liệt kê chúng là phường "vô liêm sỉ":

"Thấy nước nhục mà không biết lo, nhìn quốc sỉ mà không biết thẹn, thân làm tướng phải hàng giặc mà không biết tức".

3- Trong thời giặc Minh đô hô nước ta, Lê Lợi là "ĐẠI ĐỊA CHỦ". Ngài có lòng ÁI QUỐC và chí lớn từ lúc lúc thiếu thời và thường nói với bạn hữu:

"Đại trượng phu sinh ra ở đời để phò nguy cứu khổ, lưu tiếng lại nghìn năm sau, chớ đâu để làm tôi tớ cho người ta".

Hồi ấy, nhiều lần giặc Tàu đã tìm cách mua chuộc ông, nhưng lần nào chúng cũng bị thất bại. Cả vùng Lam Sơn ai cũng biết ông là người giàu lòng nhân ái. Ai nghèo, ông cho tiền. Ai sa cơ, ông tận tình giúp đỡ. Sinh trưởng trong gia đình giàu có, mà lại thừa trí thông minh, nhưng Lê Lợi không muốn đeo đuổi việc học để ra làm quan. Ông nuôi chí cả nên chiêu hiền đãi sĩ, tìm cách giải phóng quê hương. Sau khi khởi nghĩa, ông thường tâm sự với quần thần:

"Trẫm đối với ai cũng hết lòng thành thật. Thà để người ta phụ mình, mình chớ có phụ người ta".

4- Vị khai quốc công thần Nguyễn Trãi mang nặng lòng “thù nhà nợ nước”, đã chủ trương:

"Đem ĐẠI NGHĨA thắng hung tàn; lấy CHÍ NHÂN thay cho cường bạo".

5- Trước khi đem quân tiêu diệt giặc Thanh, vua Quang Trung, vị Anh Hùng có thiên tài điều binh khiển tướng ‘th ần tốc’, đã tâm sự với cận thần qua lời nói, phảng phất lòng YÊU NƯỚC THƯƠNG DÂN:

"Chúng nó sang phen này là mua cái chết đó thôi, ta ra chuyến này, thân coi việc quân đánh giữ, đã định mẹo rồi, đánh đuổi quân Tàu chẳng qua chỉ 10 ngày là xong việc. Nhưng nghĩ chúng là nước lớn gấp 10 lần nước ta, sau khi thua trận rồi, tất chúng lấy làm xấu hổ lại mưu báo thù như thế thì đánh nhau mãi không thôi. Dân ta bị hại nhiều, TA ĐÂU NỠ THẾ. Vậy đánh xong trận này, ta phải nhờ Thì Nhiệm dùng lời nói cho khéo để đình chỉ việc chiến tranh. Đợi 10 năm nữa, nước ta dưỡng sức phú cường rồi thì không phải sợ chúng nữa".

Qua những trang sử nêu trên, ai cũng thấy các vị Anh Hùng Hào Kiệt VN, đều lấy lòng NHÂN TỪ và CHÂN THÀNH làm gốc. Từ lời nói đến việc làm, Tiền Nhân đã làm sáng tỏ Chính Nghĩa Quốc Gia, hoàn toàn đối nghịch với bản chất vong bản, BẤT NHÂN, PHI DÂN TỘC và XẢO QUYỆT khôn lường, xuất phát từ tà thuyết Mác-Lênin mà Hồ Chí Minh đã mang từ Liên Sô về áp đặt trên quê hương chúng ta nhằm bành trướng “Tổ Quốc XHCN”. (1)

Chứng cớ là trong “kinh điển Mác-Lê-nin” cũng như trên thực tế, Hồ Chí Minh cùng đồng đảng đã được dậy bảo, phải thực hiện “Cách Mạng Vô Sản” bằng bạo lực và gian trá. Lê-nin đã khẳng định:

“Thứ bạo lực này đứng trên mọi luân lý, mọi luật pháp và trên cả Quốc Gia Dân Tộc”.

Vì vậy, nhìn lại lịch sử nước nhà, một ngàn năm giặc Tàu đô hộ dân ta, một trăm năm giặc Pháp giày xéo đất nước ta, nhưng không ai thấy giặc nào ác độc và xảo quyệt như giặc Cộng. Chưa ai thấy thời kỳ nào, Xã hội VN có nhiều chuyện vô luân, nhiều chuyện bất nhân như thời “Xã Hội Chủ Nghĩa”.

Chứng cớ rõ ràng là sau khi chiếm được miền Bắc, CSVN đã chủ mưu, xách động người nghèo, đấu tố người giàu. Thảm trạng cướp cuả giết người trong những năm “Cải Cách Ruộng Đất” diễn ra khắp nơi. Luân thường đạo lý trong xã hội tiêu tan. Con đấu tố cha, vợ đấu tố chồng. Họ hàng hoặc bạn hữu nghi kỵ nhau, tố cáo nhau, hậm hực tranh giành nhau từng ly từng tý!

Hiện nay, xã hội VN ở trong tình trạng "thượng bất chánh, hạ tắc loạn". Bên trên, băng đảng “Mafia Đỏ” tham nhũng ‘lừng danh’ trên thế giới: Ðánh cắp công quỹ, hối mại quyền thế, làm nhiều chuyện hại dân hại nước. Bên dưới, băng đảng “Mafia Đen” là Năm Cam cùng ma cô, du đãng, cướp trộm hoành hành.

Hồi đầu năm 2003 vừa rồi, báo chí VC đã tiết lộ, có cả ngàn cán bộ Cộng Sản, kể cả đảng viên cao cấp — như cựu thủ tướng VC Võ Văn Kiệt; Trần Mai Hạnh, Giám Đốc đài phát thanh VC; Phạm Sĩ Chiến, Phó Giám Đốc Viện Kiểm Soát Nhân Dân v.v. — đã đỡ đầu, che chở, hay đồng loã với trùm Mafia Năm Cam trong các "dịch vụ”:

Mãi dâm, tống tiền, thủ tiêu nhân chứng, cướp đoạt tài sản của dân, buôn lậu ma túy, buôn bán phụ nữ và trẻ thơ ra ngoại quốc.

Đó chỉ là vài nét đại cương về tai họa cùng tệ đoan xã hội VN do Hồ Chí Minh cùng đồng đảng đã gây ra. Như đã trình bầy ở phần trên, Hồ Chí Minh và đảng CSVN đã TỪ BỎ Quốc Gia, TỪ BỎ Đất Nước, TỪ BỎ Dân Tộc, TỪ BỎ Tổ Quốc VN để đi theo “Chủ Nghĩa Quốc Tế”, phục vụ “Tổ Quốc XNCH” bên Liên Sô. Do đó mới có ranh giới giữa Quốc Gia và Cộng Sản. Đất Nước, Dân Tộc, Tổ Quốc VN đối với chúng chỉ là những chiêu bài không hơn không kém. Điển hình là “Mặt Trận Tổ Quốc” và “Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam” chỉ là 2 công cụ để đảng CSVN “lừa già dối trẻ”. Đồng thời, Hồ cùng đồng đảng, 2 lần dâng lãnh thổ và lãnh hải của Tổ Quốc VN cho Tàu Cộng.

Đó là những bằng cớ hùng hồn cho thấy thực chất của CSVN đối với Đất Nước.

Đó là những nguyên nhân sâu xa, tạo ra làn ranh Quốc Cộng.

(Xin Xem Tiếp Bài II)

Ngày Quốc Nạn Cộng Sản

2–9-2003

Trần Quốc Kháng

ToQuocVN-XHCN-Uni1-Paris

Rev 29/7/09
-------------------------

(1) Khoảng giữa thập niên 1980, chúng tôi đã trình bầy ý tưởng này trong cuốn “Nửa Đường Gẫy Cánh” và những bài viết khác liên quan đến 2 thái cực đối nghịch — Quốc Gia và Cộng Sản — để phản bác bọn bồi bút VC đã thoá mạ các Anh Hùng Hào Kiệt VN.

Monday, June 29, 2009

BĂNG ĐẢNG VIỆT TÂN, VỎ BỌC QUỐC GIA, CHỨA MA CỘNG SẢN.

BĂNG ĐẢNG VIỆT TÂN, VỎ BỌC QUỐC GIA, CHỨA MA CỘNG SẢN.

Lịch sử hình như thường hay lập lại, dù đây không phải là qui tắc trong sinh hoạt chính trị, đôi khi không đúng với nhiều trường hợp đã xảy ra; chẳng hạn như chuyện toàn khối Cộng Sản Đông Âu sụp đổ, kể cả cái nôi Liên Sô, nhưng không thể xảy ra ở các nước Cộng Sản tàn dư ở Á Châu như Trung Công, Việt Nam, Bắc Hàn, Lào và ngay cả Miên nữa; trái với những gì mà nhà" bốc sư dỏm chính trị" được đánh giá là một trong những" tủ lạnh" trong băng đảng Việt Tân " tài ba lổi lạc HẬU", kiêm lý thuyết gia hàng đầu là Lý Thái Hùng, người từng viết sách, đem ra mắt, bán" ế" tại nhiều nơi ở Hoa Kỳ, Âu Châu, Úc...Tuy nhiên nhìn vào quá trình lịch sử cận đại tại Việt Nam, đây có thể là sự" tình cờ" mà có vài sự kiện lập lại, gần như cách nhau 20 năm xảy ra một lần, chỉ có 3 lần thôi, mà đất nước Việt Nam tan tác, kể cả những người thoát khỏi gông xiềng của chế độ Cộng Sản:

-Vào những năm đầu thập niên 1940, Mặt Trận Việt Minh ra đời, ban đầu tập hợp những người quốc gia, nhưng bên trong có phần tử Cộng Sản trà trộn, xâm nhập; nên sau đó, chúng khuynh đảo, biến tổ chức nầy thành công cụ, lấn áp dần quyền hành, do tên quốc tặc, tay sai Liên Sô là Hồ Chí Minh cầm đầu. Cái Mặt Trận Việt Minh nầy trở thành đại họa cho dân tộc, nên thời gọi là" đánh Tây giành độc lập", những người quốc gia, yêu nước nằm trong mặt trận, bị ám sát, thủ tiêu và phần còn lại nhẹ dạ, trở thành công cụ cho Hồ Chí Minh, sau khi thành lập nhà nước miền Bắc 1954, thì đảng cướp Cộng Sản ra tay thanh toán những người quốc gia, được coi là có công với Hồ Chí Minh, trong các cuộc tàn sát dã man" cải cách ruộng đất" với phương châm:" trí, phú, địa, hào, đào tận gốc".

-Sau hiệp định Geneve chia đôi đất nước, cũng chính do tên Hồ Chí Minh cấu kết với hai quan thầy Nga, Tàu và thực dân Pháp gây ra, đáng lẽ miền Nam được sống an bình. Nhưng đảng Cộng Sản Việt Nam có chủ ý phát động cuộc chiến mới, theo lịnh quan thầy; đó là sự kiện Hồ Chí Minh ra lịnh cho nhiều cán bộ gốc miền Nam ở lại nằm vùng, gầy dựng lực lượng khủng bố trong tương lai, cài gián điệp vào cơ cấu chính quyền miền Nam, điển hình là các cụm tình báo chiến lược A 22, A 54, A 26, xâm nhập từ dinh Tổng Thống, quốc hội đến tư lịnh quân khu 1. Do đó vào năm 1960, cũng gần đúng 20 năm sau, tổ chức công cụ tay sai đắc lực ra đời, mang tên" Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam" do tên luật sư Nguyễn Hữu Thọ cầm đầy, hắn từng có thành tích" hiếp dâm" ở Nha Trang năm 1959, ra tòa và tạm thời né được bản án hình sự và sau đó vào bưng, trở thành chủ tịch cái tổ chức khủng bố ở miền Nam. Đây là cái lý do" đi làm cách mạng" của đa số những tên Việt Cộng nổi tiếng như:

-Hồ Chí Minh, mò qua Pháp từ năm 1911 để nộp đơn vô trường thuộc địa, nhưng bị từ chối, vì thiếu điều kiện trình độ văn hóa, sau đó đi" du thủ du thực" đến 1924, sang Nga học cách khủng bố và trở thành tay sai đắc lực cho đệ Tam Quốc tế; vậy mà đảng cướp Cộng Sản lếu láo:" từ bến Nhà Rồng, Bác đã ra đi tìm đường cứu nước"

-Tên Phạm Văn Đồng, thụt két sở Hỏa xa của Pháp, sợ ở tù nên đi theo Cộng Sản....

-Cái Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam nầy qui tụ một số khoa bảng" ăn cơm quốc gia, thờ ma Cộng Sản" như bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, luật sư Trương Như Tảng....làm bình phong, để thu hút đám nông dân dốt, đám du thủ, du thực, đầu trộm đuôi cướp, thành lập lực lượng" khủng bố nhân dân" gây máu đổ từ nông thôn đến thành thị, mà bọn nầy được gọi bằng cái tên là Việt Cộng, được quốc tế biết đến như là Al Qaeda ngày nay vậy. Miền Bắc dưới chế độ cai trị độc tài, độc đảng, nên cần phải" giải phóng"; nhưng cái Mặt Trận nầy lại" giải phóng" lộn địa chỉ, gây ra biết bao tai họa cho dân tộc, chính bọn Việt Cộng, tay sai nầy là nguyên nhân chính rước" giặc từ miền Bắc vô đây", nếu không, thì những sư đoàn chánh qui Bắc Việt do tên Hồ Chí Minh lãnh đạo, cũng không có lý do chánh đáng để đi vào Nam gây chiến; chúng được Việt Cộng chứa chấp, tiếp tế, làm bình phong....tóm lại bọn Việt Cộng miền Nam đáng bị lên án, tội nặng hơn cán binh miền Bắc, bọn Việt Cộng chính là giặc nội thù nguy hiểm nhất trong cuộc chiến Việt Nam. Giặc từ trong xương ở vùng nông thôn, các đơn vị khủng bố thành thị, lại thêm" Giặc Thầy Chùa" Khối Ấn Quang do tên thượng tọa Thích Trí Quang lãnh đạo một bọn nằm vùng" núp bóng từ bi, đâm sau lưng chiến sĩ", bọn giặc" núp bóng nhà thờ, lập lờ cờ đỏ" là đám quạ Đen với các linh mục" dựa vào chúa để múa máy quay cuồng theo ý đồ Việt Cộng" như Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, Phan Khắc Từ, Trần Bá Cương...

-Sau ngày miền Nam bị lọt vào tay giặc Cộng, đám công an" cà sa" và quạ đen linh mọp, cùng với Việt Cộng, Cộng Sản miền Bắc nhảy múa ăn mừng" đại thắng mùa xuân" và sau đó, thì cả bọn công cụ đắc lực bị" vắt chanh bỏ vỏ", nhiều tên dốt, ít học phục viên, nên chửi bới khi có chất men; còn những kẻ có học, danh vọng như bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, nhiều tăng sĩ Ấn Quang như Thích Thiện Minh (Đổ Xuân Hàn) bị cầm tù và giết chết, như huề thượng Thích Quảng Độ cũng trở thành" phản tỉnh" nhưng không nguy hiểm và có lợi cho đảng trong việc" tương kế tựu kế" để chứng tỏ là" Việt Nam có cải thiện tình trạng nhân quyền, tự do tôn giáo" để hưởng lợi của các nước Tây Phương, nên Quảng Độ và một số" phản tỉnh cò mồi" trở thành" con tin nội địa" như Đổ Nam Hải, Nguyễn Khắc Toàn.... giúp đảng cướp đòi yêu sách bằng cách bắt và thả ra nhịp nhàng trong" giao thương" và bang giao, theo những" triều cường chính trị".

Tại hải ngoại, cũng gần như cách nhau 20 năm, tức là những năm đầu thập niên 1980, một tổ chức mang tên" Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam" ra đời tại đất Thái Lan, do phó đề đốc Hoàng Cơ Minh lãnh đạo, cùng với một số nhà" yêu nước gắng liền với lừa đảo, thu tiền" ồn ào đâu tư lòng tin, như Hồ Chí Minh trước đây. Với chiến khu dỏm, đánh những trận đánh giả trên báo Kháng Chiến và 10 ngàn quân" mờ trong bóng chiều, một đoàn quân thấp thoáng", ban đầu thu được nhiều tiền, nhờ tổ chức" kinh tài" là Phong Trào Quốc Gia yểm Trợ Kháng Chiến do ông Phạm Ngọc Lũy làm chủ tịch. Sau nầy, Mặt Trận lộ dần bản chất của một băng đảng Mafia qua các cuộc ám hại, ám sát những nhân vật như Tú Rua ( Lê Triết), Cao Thế Dung ( bắn không chết), nhà văn Hoài Điệp Tử.....và nhất là dếu nhẹm cái chết của Hoàng Cơ Minh đến 14 năm mới chịu làm lễ truy điệu.

Nhờ gian manh, lợi dụng lòng yêu nước của người dân hải ngoại mà anh em Hoàng Cơ Minh trở thành" triệu phú kháng chiến", tổ chức nầy cố gắng duy trì nhản hiệu Mặt Trận, đoạn tung ra những " phân xưởng chống Cộng dỏm" như: Liên Minh Việt Nam Tự Do, Hội Chuyên gia Việt Nam....thành lập ủy ban liên kết để gom những tổ chức yếu, cùng chung trong một" đại công ty chống Cộng" như Quang Phục, Phục Hưng....và họ còn đẻ ra các tổ chức tùy theo" triều cường chính trị" như ủy ban bảo vệ bờ cõi, ủy ban bảo vệ người lao động nước ngoài....Cho nên, sau bao năm kinh nghiệm, người Việt Nam khi nghe đến hai chữ MẶT TRẬN là phải" đề cao cảnh giác" trước những kẻ gian manh, lừa đảo, nhất là cái Mặt Trận Tổ Quốc tại Việt Nam ngày nay, là công cụ đắc lực của đảng cướp Việt Cộng trong việc kiểm soát dân chúng, đàn áp tôn giáo.

Mặt Trận Hoàng Cơ Minh, sau nầy nhắm làm ăn không khá, đổi tên thành đảng Việt Nam Canh Tân Cách Mạng, dù hai cánh nhưng cũng là tổ chức" giải phóng lộn xòng", thay vì hoạt động mạnh, chủ yếu ở trong nước, lại hoạt động mạnh ở hải ngoại để thu tiền. Đã vậy, còn mang cả những tổ chức dỏm như cái khối 8406 gồm các nhà" dân chủ phòng lạnh" nhi nhô chống đảng bằng" mồm" và đôi khi dùng" khổ nhục kế" la lớn là bị công an" sách nhiễu", chận đường, xét nhà, tịch thu máy vi tính, cắt điện thoại, chận đường thông tin bằng cách cắt internet....thế mà các nhà dân chủ nầy lại đều đều có tiếng nói qua các cuộc phỏng vấn tại nhiều đài phát thanh, gởi bài đăng báo hải ngoại để" bày tỏ lập trường" và những" bức xúc" từ trong nước..... đó là những tổ chức, cá nhân phản phé, tù nhân lương lẹo, được băng đảng Việt Tân đánh bóng, trở thành mặt hàng thu tiền có bài bản và đồng thời tung ra liều thuốc" ngủ" về công cuộc" đấu tranh dùng bất bạo động để tháo gở độc tài" và băng đảng Việt Tân còn có cả mặt hàng dùng" cựu tu sĩ khối Ấn Quang" làm bình phong tôn giáo, lãnh đạo" trong nước" để làm theo sách lược giữ đảng không sụp đổ là: " biểu tình tại gia và bất tuân dân sự" nhằm kêu gọi dân chúng đừng ra đường biểu tình, ở tại nhà là" có dân chủ theo định hướng xã hội chủ nghĩa ngay", khỏi xuống đường như ở Liên Sô vào tháng 8 năm 1991.

Như cây kim dấu trong bọc, lâu ngày cũng lòi ra, lòi từ lâu, nên ngày nay thì tổ chức nầy dù có thay tên đổi" business name" cũng không thể tin được. Điển hình là tổ chức Liên Minh Việt Nam Tự Do, với tổng thư ký là kỷ sư Nguyễn Ngọc Đức ở Pháp, dùng chiêu bài" những nhà phản tỉnh trong nước" để mị dân và tung hỏa mù, khiến một số người ngây thơ, nhẹ dạng, lười biếng suy luận tin tưởng là: nhờ những nhà phản tỉnh trong nước, lật đổ chế đố Cộng Sản, là khỏe re như " bò kéo xe", đỡ tốn xương máu. Thời kỳ của những nhà" dân chủ" trong nước, nở rộ như:

-Nguyễn Hộ, 50 tuổi đảng với" quan điểm cuộc sống", cũng là người tuyên bố một câu, đáng được ghi vào" châm ngôn đảng cướp" là:" nhà chúng ta ở, vợ chúng ta lấy, con chúng ta bắt làm nô lệ"; là bản chất" cách mạng" mà bè lũ Hồ Chí Minh huênh hoang. Sự kiện Nguyễn Hộ được các cơ quan truyền thông Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất" Giải Phóng Hải Ngoại" đánh bóng gần như thường trực trong các cơ quan truyền thông của tổ chức; nhưng sau nầy thì tên Việt Cộng ác ôn nầy tuyên bố:" chỉ ủng hộ Sáu Dân ( Võ Văn Kiệt) mà thôi".

Tức là bọn Việt Cộng, gốc miền nam, sau bao năm làm tay sai, khi thành công thì bị đảng cướp vắt chanh bỏ vỏ, bèn cố vùng lên tranh quyền, đưa đến thành lập cái gọi là" Câu Lạc Bộ Miền Nam" vung vít như Ung Văn Khiêm, sau khi tập kết ra Bắc đã biết bị bạc đãi mà gom những cán bộ gốc miền Nam lại để than thở mà thôi.

-Nguyễn Văn Trấn, trớt quớt với" Thơ cho mẹ và quốc hội", nào là bài viết" tờ cớ mất trộm" được bản tin Việt Nam Tự Do đăng nhiều lần, như là" áng văn phản tỉnh tuyệt tác", nhưng không bao giờ làm cho bạo quyền Việt Cộng sụp đổ.

-Tiêu Dao Bảo Cự, kẻ bất mãn la lớn và cũng bị trù dập, nhưng cũng" ráng" viết bài chống đảng dà dài, đăng trên các cơ quan truyền thông của Mặt Trận, Liên Minh.

Thời kỳ của những Hoàng Minh Chính, Lê Hồng Hà, Hà Sĩ Phu, La Văn Liếm ( tay ác ôn công an lừng danh giết người miền Nam), giáo sư Đoàn Viết Hoạt, bác sĩ Nguyễn Đan Quế...là những người" hồ hởi phấn khởi" tiếp đón đoàn quân rừng rú, hợp cùng với bản" nối CÒNG tay lớn".

Những" nhà dân chủ" kiểu nầy, một thời làm nức lòng những người" ngây thơ" hay đã bị Mặt Trận Hoàng Cơ Minh cho uống thuốc an thần, trở thành" trường mộng du". Song hành với sách lược" giao lưu văn hóa" nên Mặt Trận và các tổ chức liên hệ chủ trương: tiếp cận với du sinh, con cán, cháu Bác... để" cảm hóa" mà lôi kéo chúng trở về" với chính nghĩa", nhưng nào ngờ đám giống đỏ nầy đã lây lan bịnh" cúm Vẹm" vào những hạt giống lành, sau nầy mới có những giống" lai tạo" qua các yếu tố:" con cháu quốc gia, theo ma Cộng Sản" như cuộc triển lãm V.A.A.LA. của Brian Đoàn ở Hoa Kỳ, Phở Chó, Nam Bang...với La Thảo Nhi, Hạnh Ngô... Úc Châu; đáng lư ý là vụ Taste Vietnam ở tiểu bang Queensland, do bác sĩ Bùi Trọng Cường, chủ tịch cộng đồng, thành viên Việt Tân, lợi dụng vị thế cộng đồng, cùng với du sinh Việt Cộng hạ cờ vàng ba sọc đỏ công khai tại hải ngoại.

" Bác Sĩ Cường, lập trường chao đảo.
Cùng Minh Đức, bải cứt Việt Tân".

Được biết, đám du sinh Việt Cộng chỉ sang các nước dân chủ để học hỏi kỷ thuật, khoa học, lấy bằng cấp, và đồng thời" điều nghiên" luật lệ của các nước để di dân, mang về biến thành luật" buôn bán phụ nữ" bán nô lệ...do đó, từ ngày phong trào du sinh rần rộ, thì tình trạng buôn bán phụ nữ càng gia tăng, là thành quả mà lũ du sinh mang về, còn dân chủ, tự do thì phải" đợi kiếp sau" nhé.

Theo bản tin của Liên Minh Việt Nam Tự Do, ngày 8 tháng 3 năm 1999, có một cán bộ phản tỉnh trong nước là Nguyễn Trung Trực, gởi ra, với những" tâm tình" thật là" chất lượng" cao như sau:

" Đảng ta do Bác Hồ sang lập và rèn luyện đã có công lao vô cùng to lớn trong thời kỳ trước cách mạng và trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Trong suốt tiến trình lịch sử 45 năm đó ( 1930-1945), đảng đã đưa dân tộc ta từ một dân tộc nô lệ lầm than, không có tên trên bản đồ thế giới, trở thành một dân tộc anh hùng, một thời lâm tâm của loài người, là lương tri của thời đại.
Có được thành quả kỳ diệu đó, chúng ta phải mãi mãi ghi nhớ công ơn trời biển của Bác Hồ, vị lãnh tụ vĩ đại, bằng đạo đức trong sáng, mẫu mực của mình, đã xây dựng được đội ngũ cán bộ đảng viên xứng đáng với danh hiệu người Cộng Sản chân chính, làm cho đảng trở thành nguyên nhân của mọi thắng lợi của nhân dân Việt Nam....Tóm lại, phải cương quyết chỉnh đốn đảng, nếu không thì không kịp đâu. Các nước đã sụp đổ hết rồi. Liên Sô, Rù Mà Nì, In đồ nề Xi, đều sụp đổ nhanh chóng trước sức mạnh như vũ bảo của nhân dân. Phải chỉnh đốn ngay từ ban lãnh đạo cao nhất. Phải đuổi ngay Lê Đức Anh, Đoàn Khuê, Nguyễn Đức Bình, Lê Xuân Tùng, Phạm Thế Duyệt, Ngô Xuân Lộc ra khỏi đảng, tạo điều kiện cho Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu làm việc....Toàn đảng, nhân dân ta hảy độ lượng ủng hộ Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh, Trần Đức Lương..".

Đây là một bản tin của tổ chức Liên Minh Việt Nam Tự Do, do người cầm đầu là tổng thư ký Nguyễn Ngọc Đức, một cánh tay nối dài của Mặt Trận Hoàng Cơ Minh, phổ biến rộng rải, gây xôn xao dư luận thời đó. Mặt Trận Hoàng Cơ Minh chủ trương" ôm lấy những cán bộ phản tỉnh" để nhờ họ giải phóng đất nước dùm, đó là sách lược" trước sau như một" của Mặt Trận từ khi thành lập đến nay: trong chiến khu dỏm, chiêu mộ cả bội đội Việt Cộng, hải ngoại cũng ôm cả du sinh hay những người phía bên kia, bỗng dưng" phản tỉnh", chống đảng bằng lời.

Một tổ chức tự xưng chống Cộng, nhưng lại đăng cả những lời ca tụng tên đại quốc tặc Hồ Chí Minh, từ một ngươi phản tỉnh, đảng viên Cộng Sản với lời lẽ y như là một bào báo trên cơ quan truyền thông quốc doanh, thì rõ ràng, tổ chức Liên Minh Việt Nam Tự Do là:" Mượn vỏ bọc quốc gia, chứa ma Cộng Sản". Phản tỉnh kiểu nầy, đúng là phản phé và được Mặt Trận phổ biến, đồng tình với đảng. Theo những từ ngữ trên, nên người ta mới biết Mặt Trận Hoàng Cơ Minh ủng hộ một phe cánh trong đảng và ngày nay thì băng đảng Việt Tân đã ủng hộ đúng" băng tầng" là đứa con của Hồ Chí Minh là Nông Đức Mạnh, làm 2 nhiệm kỳ, hy vọng sẽ giữ được cái ghế như cha hắn đến khi" viên tịch" tiêu diêu nơi miền" Lê-Mác" và hy vọng được ướp xác. Do đó, băng đảng Việt Tân ngày nay gặp thời, nên đã hoạt động nhịp nhàng từ hải ngoại: biến ngày quốc hận 30 tháng 4 thành diễn hành cho tự do ( hình thức ăn mừng" Đại thắng mùa xuân" công khai tại các nước dân chủ, có người Việt tỵ nạn định cư), bưng bợ, đánh bóng những" cò mồi" của Việt Cộng đưa sang hải ngoại, thu tiền. Cố gắng lập ra các tổ chức với danh nghĩa" bảo vệ bờ cõi" chống xâm lược Trung Cộng, nhằm khỏa lấp tội bán nước, dâng đảo, hải đảo, quặng Bô xít ....nhưng khéo léo tránh né tội của Việt Cộng.

Đây là một trong những bằng chứng mạnh mẻ để lột mặt Mặt Trận Hoàng Cơ Minh ngày xưa và băng đảng Việt Tân ngày nay, có chủ trương:" coi đảng Cộng Sản Việt Nam là thành phần dân tộc, Hồ Chí Minh là người có công với đất nước", nên tổ chức của Mặt Trận đăng những lời ca tụng hết mình tên quốc tặc Hồ Chí Minh, từ một tên cán bộ phản tỉnh Nguyễn Trung Trực, cũng có lý do đấy. Một điều cần lưu ý là: từ lâu, người Việt hải ngoại đã bị Mặt Trận Hoàng Cơ Minh đến băng đảng Việt Tân lừa đảo, móc tiền, mức độ tăng dần và" hiện đại hóa". Ngày xưa Mặt Trận thu tiền ủng hộ kháng chiến, ngày nay hợp cùng với Việt Cộng, thu tiền bằng nhiều cách: từ thiện, không từ chối lợi dụng cả danh nghĩa phế binh, giúp Việt Cộng làm nhiều công tác địa phương (đào giếng, làm cây cầu nhỏ..), sửa lại mái trường xưa, giúp người nghèo, xây chùa dùm cho các" sư" gốc công an hay cán bộ phục viên có" cơ ngơi hoành tráng để tu hành và thu tiền" và cũng nhằm ru ngủ theo thuyết" luân hồi", để cho Phật tử" thanh tâm trường chịu đựng" trả quả, không đứng dậy nhằm trả quả cho kiếp trước, tốt nhất là" biểu tình tại gia" là không vi phạm pháp chế xã hội chủ nghĩa, hợp với tinh thần" đại từ bi" và công an là những người" kiếp trước gieo công đức tốt" nên kiếp nầy được hưởng những cái quả đó....

Việt Cộng còn dùng" khổ nhục kế" giả vờ tung ra những" cò mồi" nằm trong loại" phản tỉnh", và đồng thời Việt Cộng dùng" tương kế tựu kế" bằng cách giả vờ đàn áp, khủng bố, những " nhân vật bất đồng chính kiến" nhưng không giết:, thế là băng đảng Việt Tân hứng lấy, đánh bóng nhịp nhàng và những nhà phản tỉnh nầy trở thành" máy hút tiền" khá kỷ, móc hầu bao, cũng là thương nghiệp khai thác lòng yêu nước" hiện đại" sau khi Mặt Trận bị lộ mặt" kinh doanh kháng chiến".

Nhưng sau thời gian phản tỉnh, nay người Việt hải ngoại thừa biết ai phản tỉnh giả thì nhi nhô la lớn chống đảng bằng mồm, và những ai yêu nước thật, thì nằm tù dài hạn và bị lãng quên dần, trong khi" hàng giả" cứ trưng bày và thu tiền đều đều. Đóng góp tiền ủng hộ cho các nhà phản tỉnh dỏm, dân chủ giả, tù nhân lương lẹo...do băng đảng Việt Tân hay các tổ chức râu ria thực hiện là vô tình giúp đảng có thêm nguồn tài chánh, gọp chung với số tiền do Tam Du:" du lịch, du dâm, du hý" hàng năm, trở thành nguồn tài chánh dồi dào, dường như chắc chắn, giúp cho đảng cướp Việt Cộng vượt qua bao khủng hoảng kinh tế, điều chỉnh lạm phát và dùng tiền để đánh phá người Việt hải ngoại... đúng là" gậy ông đập lưng ông", mà người Việt hải ngoại đã bị lọt vào bẩy của Việt Cộng qua những tổ chức" cai thầu" ở hải ngoại, từ kháng chiến, tôn giáo, từ thiện./.



TRƯƠNG MINH HÒA
26.06.2009


Monday, June 22, 2009

Chiến Lược Domino Trung Cộng sẽ thất bại tại Việt Nam


Chiến Lược Domino Trung Cộng sẽ thất bại tại Việt Nam


Năm 2002, người Mỹ không thể quên hẳn Việt Nam. Cái thế domino Trung Cộng phải thất bại, và chắc chắn sẽ thất bại, chính là lý do giúp cho Việt Nam tiêu diệt Cộng sản, dành lại độc lập tự do. Hà Nội hiện nay đang tính kế "bắt bí" Hoa Kỳ! Cộng sản Hà Nội đang nợ hàng chục tỷ đôla mà không thể kiếm đâu ra tiền trả nợ đáo hạn.

Nếu không trả nợ đáo hạn thì kinh tế ngoại thương và nhập cảng có thể bị gián đoạn bất cứ lúc nào. Nguồn tiền để cấp cứu (để trả nợ) duy nhất chỉ có từ Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) và từ hai ngân khoản của họ là ESAF (Enhanced Structural Adjustment Facility) và SAC (Structural Adjustment Credit), mà ta gọi là "giật tạm, vay sổi" với mức lời rất nhẹ.

Nhưng Quỹ IMF đòi hỏi phải có sự hứa hẹn chắc chắn với lịch trình trả nợ thật đúng ngày. Đó là chưa kể đến vấn đề phải áp dụng sửa đổi cơ cấu (đổi mới) kinh tế. Ngoài ra, hai ngân khoản nói trên rất ít ỏi, chỉ có vài trăm triệu đôla mỗi năm.

Trong tình hình kiệt quệ tài chính của Hà Nội hiện nay, thì mấy chục triệu hay mấy trăm triệu đôla cũng quý. Nhưng Hà Nội sẽ chỉ dùng để trả nợ tạm, mua thời gian, kéo dài sự thoi thóp kinh tế trong khi ráo riết sửa soạn chiến tranh.

Quỹ IMF nhìn thấy rõ là Hà Nội đang mua vũ khí của Nga để đe dọa Mỹ. Như vậy sẽ có một màn quịt nợ hay là gây hấn, gây căng thẳng chiến tranh để khỏi trả nợ theo lối săng-ta (blackmail). Hà Nội ngụ ý "nếu các anh đừng đòi nợ" thì mọi việc sẽ êm đềm, vui vẻ.

Nếu các anh cứ đòi, thì chúng tôi gây xáo trộn, bất ổn trong vùng, để cho sụp đổ kinh tế tất cả. Như vậy IMF và Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) sẽ lỗ to và mất mát nhiều hơn nữa! Do đó, hiện nay IMF đang thảo luận với Hà Nội về vấn đề cho vay ESAF và SAC, nhưng chắc không đi đến đâu. Lừa được Mỹ để lấy tiền đã khó. Mà dọa Mỹ để vay rồi quịt nợ lại càng khó hơn.

Một giả thuyết, nếu Bắc Kinh "sai khiến" Hà Nội gây căng thẳng tại biển Đông, dọa tấn công tầu hải quân Mỹ thì người Mỹ tính sao? Năn nỉ bắc Kinh dàn hòa dùm? Đồng thời I-Rắc và Bắc Hàn cũng gây hấn, sinh sự, thì sao? Nếu có điều đình hay dàn hòa, hoặc "nhờ" Bắc Kinh thu xếp hộ thì Hoa Kỳ vẫn ở cái thế yếu. Trên phương diện quân sự chiến lược, hễ mất thế "thượng phong" (initiatives) thì kể như là thua, bị lép vế, và rất khó đảo ngược, trừ phi đánh nhau? Mà Hoa Kỳ không thể đánh nhau với Bắc Kinh trong khi Bắc Kinh không trực diện đối đầu, mà chỉ ném đá giấu tay!

Ngày 26/1/1999, tại Hà Nội, ông Eric Offerdal, đại diện Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế IMF, nói rằng nếu Việt Nam không có thay đổi trong quy mô cũng như phương hướng cải tổ thì kinh tế Việt Nam khó lòng ngóc đầu dậy nổi.

Trong khi vật giá gia tăng khoảng 50% với thuế Trị giá Gia Tăng thì Hà Nội vẫn còn tính mức tăng trưởng sẽ đạt 5.8 đến 6%. IMF ước tính mức tăng trưởng hàng năm cao lắm sẽ là 3% trong khi mức đầu tư trực tiếp vào Việt Nam tiếp tục giảm. Vào đầu năm 1999 đến nay , nhờ số Việt Kiều đông đảo về ăn Tết và mang theo thật nhiều đôla tiền mặt nên đồng tiền Cộng sản còn vững giá.


1. Trung Quốc liên tay với Khờ Me Đỏ để chận Cộng sản Hà Nội thực hiện Domino Sô Viết.

Ngày 3 tháng 1 năm 1978, Khờ Me Đỏ do PolPot cầm đầu chính thức cắt đứt ngoại giao với Cộng sản Hà Nội. Hà Nội đắng cay vì đã trông thấy rõ sự rạn nứt giữa hai nước Cộng sản. Thế domino tiến đánh Thái Lan và Đông Nam Á đã bị phá vỡ hoàn toàn và đưa tới hậu quả chiến tranh Miên Việt. Hà Nội cũng biết Cao Miên có sự hỗ trợ của Trung Cộng nên mới dám ra mặt chống đối.

Tuy Cộng sản Hà Nội thấy có "dịp" đánh chiếm Cao Miên và thanh toán chế độ PolPot nhưng còn úy kỵ Trung Cộng sẽ ra tay tấn công miền Bắc.

Bộ Chính trị Hà Nội ra chỉ thị ngầm cho các đảng viên, cán bộ là Trung Cộng đã trở mặt "chống chúng ta" và căn dặn phải "đề cao cảnh giác". Chuyên gia Trung Quốc đã bỏ về không giúp cho sự xây cất các kiến trúc quan trọng như cầu Thăng Long, khai thác các hầm mỏ, xây dựng các nhà máy.

Các viện trợ cũng bị cắt đứt. Trần Quốc Hoàn, bộ trưởng công an, ủy viên bộ Chính Trị, đưa ra một đề nghị khá hấp dẫn: Nếu "đánh và đuổi" toàn bộ Hoa kiều miền Bắc, nhà nước có thể được "lợi" khoảng 200 triệu Mỹ kim do cướp đoạt của cải của họ!

Bộ Chính Trị nghe thấy "Mỹ kim" là mừng rơn, chấp thuận liền, không cần nghĩ đến thực tế và hậu quả. Khoảng hơn 200 ngàn Hoa kiều miền Bắc bị tịch thu tài sản, đuổi ra khỏi các nơi làm việc, công trường, và cho "tự do" đi qua Móng Cái, Đông Hưng về Tàu. Số tài sản và nhà cửa nhỏ nhoi cướp được thì bọn công an cán bộ chia nhau, chẳng thấy đồng "mỹ kim" nào cho nhà nước Cộng sản.

Các cơ sở, nhà máy, hầm mỏ tự nhiên mất hết các công nhân dầy kinh nghiệm người Hoa, đã bị tê liệt.

Đổi lại, Việt Cộng "được" sự chống phá của nước khổng lồ Trung Hoa! Trung Quốc công khai giúp Khờ Me Đỏ PolPot chống phá Hà Nội và dồn Hà Nội vào thế lưỡng đầu thọ địch. Sự duy trì một quân đội thật lớn lao tới 60 vạn để trấn giữ vùng biên giới đã khiến cho cộng sản Hà Nội bị lún sâu mỗi ngày vào sa lầy và kiệt quệ.


2. Trận đánh cuối cùng của chiến lược Domino Sô Viết!

Tháng 3 năm 1978, Liên xô bí mật đổ lên Cam Ranh khoảng 4 ngàn xe tăng, xe lội nước PT 76, và các xe tải, đại pháo 130 ly. Tất cả được di chuyển vào ban đêm. Chúng chạy vào tới Tháp Chàm thì rẽ vào Sông Pha, theo đường cận sơn xuống Tây Ninh và sửa soạn tràn qua Miên. Việt Cộng đã ỷ lại vào Liên xô, không sợ Trung Cộng.

Liên xô cũng căm tức Trung Cộng xé rào theo Mỹ nên muốn cho Việt Cộng chọc tức khiến Trung Cộng phải tấn công Bắc Việt, và Liên xô sẽ có dịp tấn công Trung Cộng từ phía Bắc.

Liên Xô biết chắc chắn Trung Cộng sẽ tấn công Bắc Việt nếu Việt Cộng tràn qua Miên. Nếu Liên Xô tấn công, thì Việt Cộng sẽ từ phía Nam đánh lên, và Trung Cộng sẽ bị kẹt vào cái thế lưỡng đầu thọ địch, vô cùng nguy hiểm. Nếu có chiến tranh, Bắc Kinh sẽ khó lòng giữ vững được sự thống nhất chặt chẽ. Sự phân hóa, chia rẽ nội bộ sẽ xẩy ra và Trung Cộng rất dễ trở thành "Tam Quốc", với nội loạn triền miên trong hàng thế kỷ!

Trung Cộng và Hoa Kỳ khi thả cho Cộng sản thắng tại Cao Miên và Việt Nam trong vòng hai tuần lễ (17/4 và 30/4, 1975), đã tính trước Việt Cộng sẽ theo lệnh Liên Xô đánh domino tràn qua Miên, qua Thái, chiếm Mã Lai, Singapore và uy hiếp Nam Dương, Brunei, Úc châu, với sự hỗ trợ của quân lực hùng mạnh với các tàu ngầm nguyên tử Liên Xô tại Thái Bình Dương.

Vậy vấn đề là làm sao cho Việt Cộng vào thật nhanh chiếm Miền Nam và Saigon để rồi bị Khờ Me Đỏ cản trở không cho mượn đường qua Miên tiến đánh Thái Lan. Nếu Việt Cộng tấn công Cao Miên thì Khờ Me Đỏ sẽ đánh du kích và làm cho bộ đội Việt Cộng sa lầy tại Miên. Trong sự sa lầy, các đoàn quân nghèo nàn đói khổ sẽ không thể tiến xa hơn để chiếm Đông Nam Á, và kinh tế Việt Cộng sẽ mau kiệt quệ. Việt Cộng sẽ phải quay sang Tây Phương năn nỉ và sẽ phải chấp nhận nhiều điều kiện trong số đó có vấn đề thả các tù cải tạo cũng như các người Mỹ mất tích có thể còn đang bị cầm tù. Do đó người ta đã "thả" cho PolPot vào Nam Vang trước ngày 17 tháng 4, 1975 để củng cố quyền lực trước khi "thả" cho Việt Cộng vào Saigon ngày 30 tháng 4, 1975.

Suy nghĩ chiến lược của cả Liên Xô và Trung Cộng, đều sai lầm vì chiến tranh quá nhanh, chớp nhoáng. Người Mỹ thì an ủi là dù sao cũng chận được thế domino Sô Viết tại Đông Nam Á Châu. Đúng một năm sau khi Việt Cộng tràn ngập Căm Bốt ngày 26 tháng 12, 1978, vào lễ Giáng Sinh 1979, Liên Xô cũng nhào vào A Phú Hãn (Afghanistan) và cũng bị sa lầy luôn ở đó. Phải đến năm 1986, nhờ sự dàn xếp của Mỹ, Liên Xô mới rút ra khỏi A Phú Hãn nhưng đã trở thành một con sư tử què. Sự bại trận và thất bại trong cuộc chạy đua vũ trang với Mỹ đã đưa đến sự sụp đổ của toàn đế quốc Liên Xô vào những năm 1989-1991.

Cuối năm 1975, PolPot sang thăm Trung Quốc và được các lãnh tụ Trung Quốc đón tiếp trong một lễ nghi long trọng chưa từng có trong lịch sử thành Bắc Kinh. PolPot đã không ngờ mình chỉ là một tên nghèo hèn, từ một nước nhỏ bé lại được hậu đãi trọng thể như vậy, nên đã vô cùng cảm động và biết ơn sự tử tế hiếm có và nồng hậu của Bắc Kinh. Tự nhiên y được Bắc Kinh khuyến cáo phải đề phòng dã tâm của Hà nội sẽ xâm lăng Miên và đặt bù nhìn lên cầm quyền. PolPot cũng hứa chắc là sẽ làm cho quân đội Việt Cộng phải sa lầy tại Miên với chiến thuật du kích của y. Trung Quốc cũng cam đoan sẽ viện trợ tối đa cho PolPot để đối phó với Hà nội.

Không biết Bắc Kinh dặn dò y ra sao, PolPot sau khi về Nam Vang đã ra lệnh giết sạch những người biết đọc biết viết từ 11 tuổi trở lên. Đeo kính trắng cũng là người có "học" và phải bị giết. Cuộc tàn sát này quả vô cùng ghê rợn đến nỗi chính các cán bộ Khờ Me Đỏ cũng chịu không nổi. Những cán bộ trí thức cũng bị nghi ngờ có thể bắt tay với Việt Cộng và bị thủ tiêu. Người Việt sinh sống ở Miên cũng bị cả Lon Nol lẫn Khờ Me Đỏ tàn sát khoảng 200,000 người. Bọn Miên giết người Việt theo lối “cặp chả”. Chúng dùng tre kẹp khoảng 5 hay 6 người một rồi chặt đầu. Xác bị kẹp được thả xuống sông để thành một cái bè xác người chết, trôi suôi giòng Cửu Long về vùng Cần Thơ, Hậu Giang. Xương trắng đầy đồng. Sông Cửu Long tại miền Nam trôi nổi toàn xác chết từ Miên theo giòng nước phù sa chẩy về. (Sau này người Mỹ có làm một cuốn phim tên là "Cánh đồng giết người" (The Killing Field) kể chuyện PolPot giết dân Miên ra sao?)

Mục đích của PolPot rất giản dị: giết hết những người có học thì Việt Cộng sẽ không có người làm bù nhìn tay sai và như vậy chúng sẽ chậm tấn công vì không lẽ lại lập người Việt lên làm chính phủ bù nhìn tại Miên! Trong thâm tâm PolPot chỉ muốn giết sạch những người ngoại chủng như Miên gốc Hoa, gốc Việt mà phần nhiều là giai cấp thượng lưu, có học thức, giầu có và lãnh đạo nước Miên. Nhiều cán bộ Khờ Me Đỏ khi bị giết cũng không ngờ rằng bị giết vì có máu ngoại chủng (Miên lai Hoa, lai Việt, hoặc gốc Hoa, gốc Việt) trong người. Năm 1975, sau khi nắm chính quyền, PolPot cho mời nhiều người Miên du học bên Pháp về hợp tác. Trong số những người đáp lời mời có Sien An là bạn cũ cùng học từ nhỏ. Khi từ Pháp về tới phi trường Pochentong, Sien An tuyên bố đặt mình dưới sự chỉ huy của cách mạng. Nhưng không ai hiểu vì lý do gì mà chỉ 3 ngày sau, cả hai vợ chồng nhà trí thức Siên An bị PolPot cho lệnh phải xử tử ngay. Chính Siên An cũng không ngờ vì mình là Miên gốc Hoa mà bị giết.

Tuy PolPot có hai tên phụ tá có trình độ học vấn khá cao là Khieu Samphan và Ieng Sary, nhưng tất cả bọn đã được Bắc Kinh đánh giá quá cao trong kế hoạch ngăn chặn Việt Cộng.

Đúng như sự tiên liệu của Trung Cộng. Sau khi nhận đầy đủ võ khí do Liên Xô cung cấp để đánh Miên, bộ tham mưu Việt Cộng đã nắm chắc phần thắng nhưng kẹt không kiếm được một người Miên nào có tác phong xứng đáng lập chính phủ bù nhìn. Tuy lực lượng của y chỉ có vỏn vẹn một sư đoàn 101, luộm thuộm, chắp vá, và mấy chục ngàn quân du kích lẻ tẻ, ô hợp, nhưng PolPot ỷ vào cái "thế mạnh" Trung Cộng nên ra sức quấy rối Việt Nam.

Một trận chiến giữa hai phe cộng sản nghèo đói có vẻ thê thảm hơn người ta ước lượng. Các giếng nước đều bị PolPot cho lệnh thả xác chết xuống. Nhưng bộ đội Việt Cộng khát quá cũng phải uống vậy. Quân lính "trẻ con" Việt Cộng xài xe tăng Liên xô thật phí phạm. Chúng không cần tránh né các bãi mìn. Chúng coi thường cái chết vì biết trước sau gì thì cũng chết , cần gì phải giữ gìn? Chúng cũng không biết giá trị tiền bạc về chiếc xe tăng và không hiểu gì về máy móc để có thể có một chút hiểu biết về bảo trì xe tăng. Xe tăng hư là bỏ. Việt Cộng thường xích chân lũ bộ đội trẻ nít này vào xe tăng nên khi xe tăng bị đạn cháy chúng cũng bị chết cháy luôn.

Một tên bộ đội trẻ con viết thư về nhà nói “Đã hai lần con mất dịp hi sinh.... “! Y ngụ ý suýt chết 2 lần nhưng Đảng Cộng sản dậy y “chết” là “hi sinh” cho tổ quốc xã hội chủ nghĩa! Điều khủng khiếp trong câu chuyện nhỏ này là trẻ con miền Bắc đã bị nhồi sọ tới mức chúng đã trở thành người máy, không còn tính người và tình người, chỉ biết bắn giết “bất cứ ai” kể cả cha mẹ anh em, cho Đảng và hi sinh vì Đảng.

Tháng 9, 1978, Việt Cộng tấn công vùng "mỏ vẹt" Soài Riêng (Parrot Beak, Svay Rieng) và sư đoàn duy nhất chủ lực của Miên Cộng bị tan rã. Trong trận này có một trung đoàn trưởng Miên tên là Heng Samrin ra hàng. Việt Cộng mừng quýnh liền chuẩn bị cho Heng Samrin ra cầm đầu chính phủ bù nhìn tương lai, và rút quân về. Đám tàn quân Miên Cộng vì quá sợ PolPot giết nên đã báo cáo tốt, nói đã đánh bại quân Việt Cộng khiến chúng phải chạy về Việt Nam.

PolPot yên chí Việt Cộng thua thật sự và như vậy chắc còn lâu mới dám tấn công lần nữa. Y yên chí là mọi chuyện tốt đẹp nên đã báo cáo thêm thắt cho tốt đẹp hơn cho các cố vấn Trung Cộng nghe.

Cũng trong khoảng tháng 9 năm 1978, đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (Voice of America) lên án tội ác diệt chủng của PolPot trong ba ngày liền. Sự kiện này có vẻ mào đầu hay mời mọc cho sự tiến công của Việt Cộng vào Cao Miên để tiêu diệt chế độ PolPot. Đêm lễ Giáng Sinh 1978, tuy PolPot không theo Thiên Chúa giáo, nhưng cũng là dịp y uống rượu say sưa với các đồng chí và cố vấn Trung Cộng

Ngay sau nửa đêm 25 rạng ngày 26 tháng 12 năm 1978, quân đội Việt Cộng tràn sang như nước vỡ bờ bằng 7 mũi dùi tiến sâu vào lãnh thổ Miên và tiến thẳng lên Nam Vang, cách Tây Ninh khoảng 200 cây số mà không gặp một chút kháng cự nào.

PolPot và các đồng chí bỏ chạy tán loạn, bỏ cả giấy tờ chạy lấy người. Các cố vấn Trung Quốc chạy như ma đuổi lên Battambang, rồi từ đó qua Thái Lan đáp máy bay về Tầu. Việt Cộng đánh thốc lên Battambang và nhìn qua Thái Lan, nhưng không tiến quân xa hơn nữa. Đây là giai đoạn Việt Cộng giở quẻ với Liên Xô. Việt Cộng ngại tiến sang Thái thì Trung Cộng sẽ tấn công Lạng Sơn ở phía Bắc. Việt Cộng ra điều kiện cho Liên Xô phải viện trợ thêm xe tăng, đại pháo, quân dụng, lương thực và phải chuẩn bị tấn công Trung Cộng từ phía Bắc để làm nhẹ áp lực tại Lạng Sơn. Một ẩn ý “riêng” của Việt Cộng lúc đó là chiếm Cao Miên “cho mình”, không phải cho Liên Xô. Chính vì việc này mà tổng bí thư Leonid Brezhnev của Liên Xô đã tức ói máu, tức cho đến chết vào năm 1982.

Trở lại cuộc rút bỏ miền Nam của Hoa Kỳ năm 1973 và 1975, ta thấy người Mỹ quả cao tay khi dùng chính Cộng sản ngăn chận domino. Ta có thể kết luận rằng Hoa Kỳ đã chấp nhận (giả) thua chiến tranh chiến thuật tại Việt Nam nhưng họ đã toàn thắng trong chiến tranh chiến lược domino. Nhưng ngày nay, Hoa Kỳ lại phải đối phó với chiến lược domino mới tại Việt Nam của Trung Cộng. Trung Cộng chắc chắn sẽ thắng Mỹ, đuổi Mỹ ra khỏi Á Châu và làm bá chủ thế giới. Nếu Trung Cộng thua thì nước Tầu sẽ bị chia cắt làm nhiều tiểu quốc. Cộng sản Hà Nội chắc chắn sẽ bị tiêu diệt vì ở trong cái thế kẹt... domino, giữa hai đại cường!

Chính vì thủ đoạn tráo trở lật lọng của Việt Cộng mà Trung Quốc ngày nay nắm chặt Việt Cộng bằng bàn tay sắt, không cho đi với Mỹ. Năm 1978, Đặng Tiểu Bình tuyên bố công khai rằng
Chế độ Cộng sản Hà Nội là một tập đoàn chó đẻ lưu manh nhất Á Châu!”

Năm 1976, tổng bí thư Cộng sản Lê Duẩn đi Liên Xô để tấu trình về thành quả "chiến thắng" miền Nam, các sự thu hoạch khả quan trong tương lai, và hi vọng Liên xô sẽ giúp đỡ phát triển kinh tế hậu chiến với kỹ nghệ (công nghiệp) nặng. Brezhnev và các đồng chí lớn trong bộ Chính Trị Liên xô dựa vào báo cáo của Duẩn và đặt chỉ tiêu cung cấp các thứ lương thực như gạo, thịt cá, trái cây, lâm sản, cao su, cà phê, trà, vải vóc, sữa, thuốc tây, toàn là những sản phẩm của miền Nam, để trả nợ súng đạn.

Liên xô cũng vui vẻ đưa cho Lê Duẩn coi danh sách 41 nhà máy công nghiệp nặng hiện Liên xô đang xử dụng. Các nhà máy này sẽ được tháo gỡ cho xuống tàu chở sang Việt Nam. Việt Nam sẽ "chỉ" phải đài thọ lương bổng và nuôi ăn ở các chuyên gia Liên xô tháo gỡ, lắp ráp, và điều hành các nhà máy này cho đến khi người Việt có khả năng thay thế. Lê Duẩn mừng quýnh, cảm ơn cảm tạ các đồng chí vĩ đại Liên xô rối rít và hăng hái ký ngay vào bản thỏa hiệp trao đổi cũng vĩ đại này.

Nhưng đến khi về nước kiếm được người đọc chữ Nga (cả Bắc Việt chỉ có vài người có đủ khả năng nói tiếng Nga thông thạo đủ làm thông ngôn thông dịch trong mọi vấn đề trong cuộc bang giao Việt Sô), cả tập đoàn lãnh đạo cộng sản Hà nội ngẩn ngơ vì các nhà máy phần nhiều đã quá già nua, cổ lỗ sĩ, từ hồi Đệ Nhất thế chiến (1914-1918) hay trước khi cách mạng tháng 10 cộng sản Bolshevik lên cầm quyền năm 1917.

Những "nhà máy" này không đáng giá trị sắt vụn vì phần nhiều làm bằng gang hay loại thép xấu đã han rỉ, mục nát phần lớn. Liên xô đang muốn canh tân nên phế bỏ nhà máy cũ để mua các nhà máy hiện đại từ các nước tư bản thay thế. Trong thập niên '60s, Liên xô đã phải mua toàn bộ nhà máy chế tạo xe hơi LaĐa của hãng Fiat của Ý, và sau đó mua thêm nhà máy chế tạo xe vận tải hiệu Kama của hãng Ford, Hoa Kỳ.

Trong các thập niên '50s, '60s, người ta "đo lường" tiến bộ khoa học, kinh tế, và phát triển tại mỗi nước bằng kỹ nghệ xe hơi và số xe hơi tính theo đầu người dân, sau đó mới tới TV, tủ lạnh, máy bay, và các tiện nghi khác. Liên Xô đã phải xấu hổ, đỏ mặt ngượng ngùng mỗi khi khoe các tiến bộ về hỏa tiễn (tên lửa) và phi hành gia không gian, nhưng người dân Nga hầu hết không biết đến xe hơi, TV, tủ lạnh, máy điều hòa không khí hay phát nhiệt là cái gì?

Cho đến những năm 1989-1993 thì sự thiếu thốn bên Liên Xô đã tệ hại thê thảm đến mức những người dân Nga phải xếp hàng từ sáng đến tối trong tuyết giá để được mua một mẩu phó mát hay một ổ bánh mì mà không biết tương lai sẽ ra sao?

Ruột gan tê tái, nhưng vẫn phải ngậm bồ hòn làm ngọt, Lê Duẩn phải thảo văn thư từ chối khéo vì Việt Nam chưa đủ khả năng tiếp nhận công nghiệp nặng, nhưng vẫn giữ các lời cam kết cung cấp lương thực, nhu yếu phẩm để trả nợ võ khí!

Nhưng Lê Duẩn cũng vẫn thua sự lưu manh tráo trở của cán bộ cộng sản. Sau khi Duẩn chết, cán bộ cộng sản đã toa rập với Hoa thương lưu manh từ Singapore, Hồng Kông, Đài Loan nhập cảng máy móc thiết bị để đầu tư sản xuất, mở mang kinh tế. Năm 1994, người ta khui ra có tới 78% máy móc nhập nội từ năm 1988 đến 1993 đã chỉ là máy loại "vất đi" đã phế thải từ thập niên '50s và được tạm tân trang lại. Những máy móc này được tính theo giá máy mới, hiện đại, kiểu tối tân nhất để cổ phần đầu tư từ phía người Tầu có vẻ nhiều theo đúng khế ước!

Chính các thỏa hiệp trả nợ năm 1976 đã làm cho kinh tế kiệt quệ, tinh thần cán bộ xuống dốc trở nên tiêu cực làm cho cả nước phá sản. Các cán bộ kinh tế không hiểu tại sao chỉ được lệnh thu mua, sản xuất hàng và đưa xuống tàu Liên xô "xuất khẩu" mà không thấy tiền bạc gì cả. Chỉ thấy tiền giấy lộn "bạc cụ Hồ" mỗi ngày mỗi nhiều và mất giá trị thật nhanh.

Nước Việt Nam nghèo nàn hậu chiến, chưa phục hồi được gì, chính phủ lại không biết làm kinh tế, mà lại phải lo cung cấp trả nợ cho một nước khổng lồ như Liên xô với mấy chục tàu biển lúc nào cũng chực sẵn lấy hàng thì làm sao có thể "khá"? Sự phí phạm "chất xám" bằng cách giam giữ tù đầy hàng triệu người, sự cấm đoán làm ăn buôn bán kiểu "cấm chợ ngăn sông", nền giáo dục thoái hóa cực kỳ với giáo sư, giáo viên đói ăn... đã khiến cho hàng chục triệu người bất mãn, oán thù, phá hoại, thì làm sao đứng vững? Chính vì thấy Liên xô hút máu hút mủ nước Việt một cách tàn bạo vô hạn định mà các cán bộ đã nản lòng, lo xoay sở kiếm chác làm lợi cho bản thân.

Sự kiện cán bộ trở nên tham ô, ăn cắp đã trở thành đại nạn quốc gia vào năm 1993. Toàn thể cán bộ, công an các ngành đã trở thành một lũ ăn cắp, cướp ngày và buôn lậu. Chúng không từ một cái gì, không từ một thủ đoạn nào, không từ một mánh khóe nào để thủ lợi. Từ thủ tướng Võ Văn Kiệt trở xuống đến các giám đốc thủ trưởng nhỏ nhất, toàn bộ Nhà nước đều ăn cắp. Công an các cấp thì buôn lậu và bao che buôn lậu đĩ điếm. Công ty du lịch thì buôn bán gái điếm tổ chức "sex tours" cho Hoa kiều hành lạc với trẻ nhỏ. Tướng Đoàn Khuê, tham mưu trưởng quân đội, là trùm ma túy và các đồn điền quân đội trồng thuốc phiện từ Lai Châu xuống đến Điện Biên Phủ. Đà Nẵng và Hải Phòng đã trở thành những điểm xuất phát của bạch phiến tinh chế và thuốc phiện ra thị trường quốc tế.

Nếu các nước tư bản có "thương tình" dân Việt mà viện trợ thì cũng chỉ làm giầu cho Liên xô và chính quyền cộng sản. Lệnh cấm vận đã giúp cho dân Việt mau kiệt quệ và thật nghèo để có thể quịt nợ Liên xô và làm cho Hà nội mất sự ủng hộ của Liên xô một khi Liên xô thấy không có lợi gì tại Việt Nam!

Tất cả các sự viện trợ và cứu trợ nhân đạo bằng tiền bạc và phẩm vật cho dân Việt đều bị Nhà nước Việt Cộng chiếm giữ hết, không bao giờ phân phát cho dân nghèo.

Cũng năm 1976, Lê Duẩn cho khởi đầu kế hoạch ngũ niên (5 năm) để sản xuất và tiến mau, tiến mạnh, tiến vững chắc đến chủ nghĩa xã hội. Chỉ tiêu của y ra là đến năm 1981 mức sản xuất lương thực phải đạt 21 triệu tấn cho cả nước. Ước lượng năm 1976 là 16 triệu tấn. Quả là một sự ước lượng quá lạc quan với chương trình 5 năm, mỗi năm gia tăng 1 triệu tấn!

Đài BBC đã phê bình những người lãnh đạo cộng sản tính toán kinh tế như người đi săn lạc quan! Chúng tính có 10 viên đạn mang đi thì chắc chắn sẽ mang về 10 con thú!

Trong bài diễn văn đọc trước đại hội Đảng kỳ 4, cuối năm 1976, Lê Duẩn nói dân tộc Việt sẽ xây dựng một xã hội mới trong đó không có cảnh người bóc lột người! Câu này quả là đúng! Trong nước Việt xã hội chủ nghĩa, không có người nào bóc lột người nào mà chỉ có Đảng và Nhà nước bóc lột người dân Việt đến tận xương tủy!

Kết quả sau 2 cái kế hoạch 5 năm, từ 1976 đến 1986, chỉ tiêu đạt được có 18 triệu tấn theo báo cáo láo của cán bộ. Còn cái kế hoạch 5 năm sau cùng 1986-1991 thì bỏ dở vì Liên xô quá kiệt quệ đã cắt ngang nửa chừng viện trợ.

Những người quốc gia bị tù đã sống lây lất, lê lết trong kiếp sống mỏi mòn trong nhiều năm. Đa số đã không ân hận là đã góp sức trong cuộc chiến chống Cộng. Tất cả đều tiếc là trước kia đã không hết lòng gắng sức tiêu diệt Cộng sản nhiều hơn nữa. Tất cả những người dân đã sống trong chế độ cộng sản đều nghĩ phải tiêu diệt Cộng sản và không thể nhân đạo với chúng.

Tháng 10, 1991, sau cái chết thảm khốc của vợ chồng tên đồ tể Cộng sản Ceaucescu tại Lỗ Mã Ni do đám đông cuồng nộ, một "lũ bốn người" tự nhận là luật gia, trí thức tại San José, Orange, San Diego và Pháp đã ra kiến nghị hêu gọi khoan hồng và tha tội cho cộng sản mặc dầu bọn này chưa chết và chưa biết ai sẽ giết chúng. Đó là các ông Vũ Quốc Thúc, Nguyễn hữu Thống, Nghiêm xuân Hồng và Nguyễn cao Hách. Mấy vị trí thức này quả là đầy lòng nhân đạo. Lẽ dễ hiểu là các ngài đã ra đi từ năm 1975 và có một vị, Vũ Quốc Thúc, được Mai Chí Thọ đích thân cho đi Pháp năm 1976 vì đã từng học chung với Tổng Thống Pháp Giscard D'Estaing và đã được ông này can thiệp với Thọ cho xuất ngoại.

Trước khi vị này ra đi Mai Chí Thọ đã đãi ăn và yêu cầu vị này nếu có sang Pháp thì nói "tốt cho anh em cộng sản" dùm! Các vị này quả là những người có nhân đạo và phước đức. Các vị đã không cần nghĩ đến hàng chục triệu oan hồn và hàng chục triệu người còn sống là nạn nhân cộng sản, đang đòi Cộng sản phải trả nợ máu, và đang đòi tiêu diệt Cộng sản! Các vị đã không nghĩ những tên Cộng sản với tội ác đẫm máu của chúng phải bị tiêu diệt để cho toàn thể dân tộc Việt có cơ hội hồi sinh xây dựng lại đất nước.

Nếu muốn cho chúng sống thì các vị nên lập kiến nghị đừng lật đổ Cộng sản có phải tiện sổ sách hơn không? Các vị theo học luật "người" có vẻ giỏi với cấp bằng tiến sĩ đầy mình nhưng các vị không biết theo Luật Trời thì những người xin tha tội cho cộng sản thì phải gánh tội cho chúng! Dù không biết Luật thì Luật Trời vẫn áp dụng thẳng tay dù mới chỉ trong kiến nghị!

Từ sau khi tên hai vợ chồng tên đồ tể sát nhân Ceaucescu bị giết ở Roumania vào cuối năm 1989, đã có vài tên cò mồi cho Cộng sản viết bài mong đại xá cho Việt Cộng, đừng tàn sát chúng tội nghiệp! Không lẽ các vị luật gia trí thức cũng giống mấy tên cò mồi này? Có thể ta cũng nên chiều theo ý các vị này không giết những tên cao cấp cộng sản và nên cho các vị này cùng đi học tập cải tạo với các cán bộ cộng sản cao cấp cho vui, cho bõ tình đồng chí thương xót lẫn nhau. Thỏ chết, cáo thương mà!

Các ngài đã ngây thơ tưởng tượng "người ta" sẽ bắt Việt Cộng nhốt lại rồi mang ra tòa xử và các ngài sẽ đứng ra bào chữa cho chúng theo truyền thống dân chủ pháp trị kiểu Mỹ hay kiểu Pháp! Chúng tôi sẽ tàn sát lãnh đạo Việt Cộng và những tên tăng ni quốc doanh, sư công an trong các chùa quốc doanh. Chúng tôi sẽ cho chúng tắm trong máu của chúng. Thấy dân Việt "dã man" như vậy, các ngài nên từ bỏ, đừng nhận mình là người Việt nữa cho tiện! Có lẽ giờ này các ngài cũng đã có quốc tịch nước ngoài rồi. Cộng sản không phải là "người Việt", chúng là quỷ đỏ!

Chính vì sự cấm vận bao vây kinh tế của Hoa Kỳ đã khiến chúng nhượng bộ thả gần hết khoảng hơn 100 ngàn sĩ quan quốc gia và cho phép họ được đi Hoa Kỳ do người Mỹ đài thọ. Tuy một số khá đông tù nhân đã bị chết, nhưng những người còn sống đều căm thù sự tàn ác của cộng sản. Hầu hết đều tàn tạ, kiệt sức, mất tinh thần sau hàng chục năm bị đầy đọa đói khổ.

Tuy ba người kia có vẻ im hơi lặng tiếng nhiều năm qua, đến những năm 1998, 1999, 2000, luật sư Nguyễn Hữu Thống trở thành một thứ lý thuyết gia cố vấn cho bọn cò mồi Mạng Lưới Nhân Quyền cho đến ngày nay .


3. Cuộc tấn công của Việt Cộng tại Miên ,Trung Cộng nhằm tiêu diệt các tướng Cộng sản người Việt sáng giá?

PolPot sau này trú ngụ vùng PaiLin giáp biên giới Thái Lan. Quân đội Thái, do lệnh từ Bắc Kinh, cũng nuôi dưỡng, tiếp tế và bao che cho PolPot được tồn tại cho đến năm 1995. Hai đoàn đặc nhiệm (task forces) Thái số 388 và 830 thường xuyên tiếp tế lương thực và vũ khí cho Khờ Me Đỏ. Tháng 12 năm 1993, người ta bắt được mấy trăm xe tải chở 1,500 tấn vũ khí từ Thái Lan cho Khờ Me Đỏ. Trong số này có 30 khẩu đại bác 130 ly. Vũ khí đều của Trung Cộng. Sau vụ này, không hiểu người Mỹ thu xếp ra sao mà Trung Cộng đã cắt giảm viện trợ cho PolPot rất nhiều có thể nói là hết hẳn vào năm 1995. PolPot chỉ còn trông cậy vào nguồn lợi hồng ngọc và đá quí sản xuất tại PaiLin. Có lẽ quân đội Thái Lan đã ham nguồn lợi này nên mới trợ giúp cho PolPot. (Pol Pot và Khờ Me Đỏ trên thực tế đã bị tiêu diệt vào tháng 4 năm 1998)

Thời gian Việt Cộng chiếm xong Miên chưa đầy một tuần lễ, khác hẳn với Liên Xô sau này bị sa lầy tại Afghanistan trong 8 năm và chịu thua, rút quân. Trung Cộng và Hoa Kỳ sững sờ vì PolPot đánh quá bết, hay Việt Cộng đánh quá hay? Trung Cộng cũng khá đau vì Việt Cộng đánh và thắng PolPot quá nhanh khiến Trung Cộng không kịp trở tay cứu đàn em. Tướng Lê Trọng Tấn đã bầy kế hoạch đánh chiếm Cao Miên một cách thần tốc ngoài tất cả mọi dự liệu của Trung Quốc. Vì lẽ này, hai đại tướng Lê Trọng Tấn (chết 1986) và Hoàng văn Thái (chết 1990) đã bị gián điệp Trung Cộng (?) ám hại trước khi nắm bộ Quốc Phòng. Trung Cộng không bao giờ muốn thấy Việt Nam, dù là Cộng sản hay Quốc Gia, có những tướng lãnh hay chiến lược gia tài giỏi có thể làm cho Trung Cộng điêu đứng và có thể tan rã.

Đây cũng là một bài học về đối ngoại cho người Việt. Hồ chí Minh trước kia đã tin tưởng hoàn toàn vào Trung Cộng. Hồ đã khiến cho các lãnh đạo Cộng sản Hà Nội phải tin tưởng tuyệt đối vào "thiện chí" của lãnh đạo Bắc Kinh. Trung Cộng cũng đã chấp thuận cho Đoàn Khuê, một tên vô tài và thần phục Bắc Kinh, được nắm bộ Quốc Phòng từ năm 1990 đến 1996.

Tuần báo Newsweek phê bình trận đánh Cao Miên của quân đội nhân dân Hà Nội đáng được gọi là điển hình và có thể được dậy trong các quân trường. Kế hoạch làm cho Việt Cộng bị sa lầy tại Miên đã thất bại không như ý muốn của Hoa Kỳ và Trung Cộng. Hoa Kỳ chỉ có thể tự an ủi chế độ diệt chủng của PolPot đã bị đuổi ra khỏi Nam Vang và ít ra Việt Cộng vì sợ Trung Quốc đánh sau lưng đã không dám tiến sang Thái Lan.

Dầu sao PolPot đã làm cho dân Miên phải kinh tởm y và bộ đội Việt Cộng đã được mừng đón như những cứu tinh! Ngày 7 tháng 1 năm 1979, Heng Samrin lập xong chính phủ mới và hai tháng sau, Hồng Thập Tự quốc tế viện trợ nhân đạo cho Miên khoảng 150 triệu Mỹ kim phẩm vật. Có thể nước Mỹ đã hối hận với dân tộc Miên sau vụ 17 tháng 4 năm 1975 và vụ ủng hộ PolPot chống Việt Cộng sau này, nên đã viện trợ cho dân Miên qua hội Hồng Thập Tự. Bộ đội Việt Cộng có đi cướp vàng yểm tâm tại các tượng Phật và chôn dấu trong các chùa.

Năm 1979, khi Hồng Thập Tự quốc tế chở phẩm vật cứu trợ tới Miên thì các cô gái Miên biểu tình với các biểu ngữ: "Hãy gửi cho chúng tôi những xe vận tải đầy đàn ông!" PolPot quả đã giết khá nhiều đàn ông Miên. Nhờ quân đội Việt Cộng sang Miên cũng khá đông (khoảng 200 ngàn), các cô gái Miên cũng dễ kiếm chồng. Bất cứ bộ đội nào lấy vợ Miên cũng được giải ngũ ở lại đất Miên sinh hoạt bình thường. Hiện nay số con lai Miên-Việt đã khá đông và tiếng Việt được xử dụng tại khắp nơi và trong trường học. Các đoàn người nghèo miền Bắc đã di cư tới Miên cũng khá nhiều. Việt Cộng tổ chức cho đi di dân cả huyện một lúc cho những huyện thật nghèo và đông dân như vùng Thái Bình, Thanh Nghệ.

Tháng 9, 1995, quốc trưởng Cao Miên Sihanouk đi thăm Hà Nội. Trước khi đi, ông Sihanouk cũng cảm tạ quân đội Cộng sản Việt Nam đã đánh đuổi PolPot. Nếu không thì bản thân ông và nhiều người Miên khác sẽ bị giết chết hết.


4. Trận đánh “bài học” biên giới Lạng Sơn 4giờ sáng ngày 17 tháng 2,1979. Trung Cộng áp dụng chiến tranh diệt chủng (genocidal war) tại Việt Nam.

Sau khi Việt Cộng "đánh" người Hoa và tống xuất người Hoa năm 1978, Trung Cộng cũng dồn quân xuống biên giới Bắc Việt. Trung Cộng đưa một số lớn máy bay MiG, khoảng vài trăm chiếc, xuống các phi trường Hoa Nam. Những phi cơ này luôn luôn bay lượn sát không phận Bắc Việt như để thị oai với Hà nội.

Việt Cộng tỏ ra anh hùng vì còn ỷ lại vào Liên xô nên không sợ áp lực quân sự Trung Quốc. Võ Nguyên Giáp và các tướng Việt Cộng đã điều quân ra biên giới với chủ yếu xử dụng tối đa các dàn súng và hỏa tiễn phòng không. Người ta ước lượng Việt Cộng đã đưa ra biên giới khoảng 4 ngàn(4,000) dàn đại bác và đại liên phòng không và hàng ngàn hỏa tiễn phòng không SAM2! Việt Cộng chắc mẩm chuyến này sẽ bắn máy bay Trung Cộng rụng như sung (turkey shoot), nhưng chúng đã không học đến chữ ngờ!

Trung Cộng đã định bụng khi Việt Cộng tấn công mạnh sang Miên sẽ áp lực tại miền Bắc khiến cho Việt Cộng không thể toàn thắng tại Miên và rất dễ bị sa lầy. Nhưng khi Việt Cộng tốc chiến, tốc thắng chiếm Miên trong vòng một tuần lễ thì cả Trung Cộng lẫn Hoa Kỳ đều chưng hửng. Trước chuyện đã rồi, Trung Cộng không có "cớ" đánh Việt Cộng và cũng úy kỵ Liên xô sẽ tấn công miền Bắc Trung Hoa. Nhưng Trung Cộng đã không chịu bó tay một cách giản dị như vậy!

Ngày 16 tháng 2 năm 1979, thủ tướng Việt Cộng Phạm Văn Đồng và Văn Tiến Dũng, tổng tham mưu trưởng quân đội cộng sản, người đã "đại thắng Miền Nam" cùng đi Cao Miên để chứng kiến thắng trận và chính phủ mới do Heng Samrin lãnh đạo.

Đúng 4 giờ sáng ngày hôm sau, 17 tháng 2 năm 1979, trong cái lạnh khoảng O độ Celsius, quân đội Trung Cộng do tướng Dương Đắc Chí tư lệnh Hoa Nam chỉ huy, đã lẳng lặng đi bộ sang phía Việt Nam suốt dọc biên giới dài gần 1,000 dặm Anh (miles) hay là 1,500 cây số. Vì bị tràn ngập bất ngờ trong khi đang ngủ say, sự chống trả của bộ đội Bắc Việt gần như không có. Không có một máy bay nào được xử dụng. Tất cả các dàn cao xạ, đại bác phòng không, các hỏa tiễn SAM2 đều bị quân Trung Cộng hốt sạch. (Tướng Dương đắc Chí đã chết mùa thu năm 1994.)

Tất cả các đường rầy xe lửa cũng bị dọn sạch, luôn cả "tà vẹt" (ties) và đá lót đường rầy. Các cây cầu bằng sắt thì được khiêng đi mất. Cầu bằng bê tông thì bị đập tan lấy sắt. Thậm chí các đầu cầu (abutments) có thể được dùng để xây cất lại cầu cũng bị phá nát. Các cột đèn, cột điện thoại cũng được khiêng về Tàu.

Các đồ vật, vải vóc, máy móc, ăn cướp được trong miền Nam chất đầy trong các hang núi như động Tam Thanh cũng bị dọn sạch sẽ. Các phẩm vật như vải vóc, đường, sữa trong các hợp tác xã được mang ra phát không cho dân chúng. Mỏ Apatít (phosphate) tại LaoKay được dọn sạch đến mức toàn bộ khu mỏ trở lại thời kỳ nguyên thủy, khi chưa khai thác!

Hang Pắc Bó là nơi Hồ Chí Minh trú ngụ giữa dân tộc Tày chất phác đã được Việt Cộng coi như là mả tổ, vì đây là nơi Hồ thành lập Mặt Trận Việt Minh. Hồ rất sợ người Việt, nên y thường trú ngụ nơi các dân tộc thiểu số. Trước cửa hang Pắc Bó có một ao nước với một cái suối nước nhỏ chảy qua. Hồ đặt tên là hồ Các Mác và suối Lê nin! Việc này chứng tỏ Hồ đã vong bản hoàn toàn, không còn nhớ đến tổ tiên Hồng, Lạc. Sau khi chiếm miền Nam, Việt Cộng đã đưa những đồ quý ăn cướp được dấu vào trong hang Pắc Bó vì hang này đã trở thành di tích lịch sử, "thánh địa" của cộng sản! Lúc nào cũng có lính gác bảo vệ hang và bảo vệ luôn cả kho tàng của chế độ!

Về địa lý phong thủy (fengshui) thì người Tàu coi hang Pắc Bó là mả tổ thực sự của cộng sản Hà nội. Vậy muốn triệt long mạch khiến cho cộng sản Việt Nam tiêu tùng thì phải phá tan hang Pắc Bó! Sau khi đã dọn sạch của cải, quân Trung Cộng đã đưa nhiều xe chất nổ vào hang và phá cho sập. Lạng Sơn cũng bị phá nổ tan gần thành bình địa. Bắc Kinh đã triệt để áp dụng “chiến tranh diệt chủng” tại vùng biên giới Hoa Việt. Lũ đàn em của Hồ từ Lê Duẩn trở xuống đều vô cùng đau đớn về chuyện này và chúng cũng kinh sợ thủ đoạn ghê gớm của Trung Cộng.

Từ Đồng Đăng về đến Lạng Sơn có khoảng hơn 40 pháo đài (fortresses) kiên cố bằng bê tông cốt sắt được xây cất từ thời Pháp và Nhật để bảo vệ Lạng Sơn hay là cửa ngõ vào Hà Nội. Mỗi pháo đài được xây chìm vào trong núi với đủ chỗ ở, súng đạn, lương thực cho khoảng một ngàn người cầm cự lâu dài. Các pháo đài kiên cố này không sợ bom đạn vì dựa vào các núi cao, hiểm trở, đầy sương mù với chướng khí quanh năm mù mịt. Như vậy riêng trong các pháo đài này có khoảng hơn 40 ngàn quân Bắc Việt.

Vì Lạng Sơn chỉ cách Hà nội có 140 cây số (90 miles), nên các pháo đài này đã được ví là cánh cửa bằng thép để bảo vệ Hà nội. Nếu mất các pháo đài thì mất Lạng Sơn, mà mất Lạng Sơn thì Hà Nội khó lòng giữ được.

Quân Trung Cộng đã nhẹ nhàng đưa các xe đặt máy hơi ép (air compressors) loại lớn có công xuất cao đến các pháo đài và bơm hơi độc vào trong giết hết quân phòng thủ. Chỉ trong có mấy ngày đầu, quân Trung Cộng đã hoàn toàn làm chủ biên giới và chiếm Lạng Sơn. Toàn bộ lãnh tụ cộng sản Hà Nội và gia đình đã hốt hoảng di tản gấp vào Nam trong đêm tối. Nhưng quân đội Trung Quốc đã rút bỏ ngày 6 tháng 3, 1979 sau khi "dọn" sạch sẽ hết mọi thứ.

Hà nội phải đợi đến đúng một tháng sau, ngày 17 tháng 3 năm 1979, mới dám trở lại Lạng Sơn và khoe rầm đã "chiếm lại" Lạng Sơn. Số quân Bắc Việt bị bắt và bị giết không ai biết rõ bao nhiêu, nhưng có thể tới 70 ngàn. Tất cả các xác chết được đốt sạch cho phi tang. Sau này, tháng 6 năm 1989, xác mấy chục ngàn sinh viên bị giết tại Thiên an Môn cũng bị đốt ngay tại chỗ.

Trận Lạng Sơn dầu sao cũng có một điểm "son" về tinh thần chống xâm lăng phương Bắc của người Việt. Mức độ "tử chiến" đầy hận thù "ngàn năm" của người Việt chống Trung Quốc đã biểu lộ và thể hiện trong trận Lạng Sơn. Các chiến sĩ du kích và chính qui, cả nam lẫn nữ, đều đã "quên" họ là cộng sản hay không cộng sản. Họ đã "quên" luôn cả cộng sản khi cầm súng chiến đấu chống quân thù truyền kiếp. Sự liều mình quyết tử trước họng súng quân thù Trung Cộng đã làm cho các cấp chỉ huy Trung Cộng phải khiếp đảm. Bọn Trung Cộng đã mang các chiến sĩ Việt Nam bị bắt ra cho xe tăng cán đến nát thây. Cả hai bên đều tàn sát tù binh vô cùng dã man. Tinh thần "Sát Thát" hay là "Sát Trung" cao độ của người Việt đã làm cho người Tầu phải nhụt chí mỗi khi tính đến chuyện xâm lăng Việt Nam bằng võ lực.

Ngay sau khi tốc chiến, tốc thắng và cấp tốc rút lui, Trung Cộng đã tuyên bố chỉ cho Việt Nam một bài học. Sở dĩ Trung Cộng tránh dùng danh từ chiến tranh để cho Liên Xô không có cớ gây sự, gây hấn, và tấn công. Người Mỹ thì làm như không biết chuyện gì đã xảy ra.

Báo chí có hỏi chính phủ Hoa Kỳ về tình hình trận Lạng Sơn mà họ nghĩ vệ tinh nhân tạo của Mỹ có những hình ảnh rõ ràng. Nhưng chính phủ Mỹ trả lời Lạng Sơn mây mù dày đặc, vệ tinh không thể chụp ảnh. Sự thật thì vệ tinh Mỹ trong giai đoạn này có thể chụp ảnh bất chấp thời tiết. Có nhiều loại máy ảnh có thể "xuyên thủng" qua sương mù, hay lá cây rừng như chụp bằng radar, bằng hồng ngoại tuyến (infra red).

Cả hai bên tham chiến, Trung Cộng và Việt Cộng đều nín lặng coi như không có gì quan trọng đã xảy ra. Sự kiện Trung Cộng thu dọn sạch sẽ không còn dấu tích khiến cho không còn một bằng chứng nào về "tội ác" của Trung Cộng. Trung Cộng ngậm miệng là phải vì họ cho "bài học" chứ không nói là chiến tranh nên không thể nói là thắng hay thua.

Việt Cộng thì đau như hoạn, nhưng phải ngậm bồ hòn làm ngọt. Việt Cộng cũng dựa vào sự kiện "không có bằng chứng" để nói đại với nhân dân trong nước là thắng, không thiệt hại gì cả. Để có thể tác chiến chớp nhoáng như vậy trên một mặt trận dài 1500 cây số, Trung Cộng chắc chắn đã phải dùng hàng triệu quân và dân công "thu dọn chiến trường".

Sau khi trở lại Lạng Sơn khoảng trung tuần tháng 3 năm 1979, Việt Cộng có đưa nhiều đơn vị đặc công sang qua biên giới đột kích và bắt sống một ít lính và thường dân Trung Cộng để sau này trao đổi tù binh với Trung Cộng cho đẹp mặt. Phải đến tháng 9, 1979, Liên Xô mới ký hiệp ước An Ninh Hỗ Tương với Cộng sản Hà nội để ngăn ngừa một cuộc tấn công khác của Trung Cộng.

Việt Cộng sau này phải xử dụng tới 60 vạn quân để án ngữ biên giới. Đa số quân này là thành phần Thanh Nghệ Tĩnh, rất quả cảm và chiến đấu giỏi. Nhưng duy trì một số quân lớn như vậy quả là hao tốn tiền bạc, lương thực. Lần này, Việt Cộng khôn ngoan hơn. Chúng không cho đóng quân lẻ tẻ. Chúng cho đóng thành đại đơn vị như những căn cứ khổng lồ trên các yếu điểm dọc biên giới. Mỗi căn cứ đều có đầy đủ các đơn vị cần thiết để có thể tự túc, cầm cự lâu dài. Năm 1980, Trung Cộng đổi chiến thuật. Họ cho tập trung đại pháo 130 ly và bắn trải thảm (blanket fire) tiêu diệt nhiều căn cứ loại này, rồi thôi!

Tuy nhiên, Trung Cộng vẫn không thể chấp nhận chiến tranh nếu Việt Cộng đánh từ phía Nam lên và Liên Xô từ phía Bắc xuống. Đến tháng 9, 1979, Liên Xô mới ký kết Hiệp Ước Hỗ Tương Phòng thủ (Mutual Defense Pact) với Hà Nội với mục đích cùng liên tay tấn công Trung Cộng, nhưng đã quá muộn. Bắc Kinh liền ra lệnh cho quân khu Hoa Nam phải đưa nhiều sư đoàn công binh đến trồng khoảng 2,300,000 quả mìn các loại dọc theo biên giới Hoa Việt dài hơn 1 ngàn cây số, từ Vân Nam tới Quảng Tây.

Cuối năm 1993, chủ tịch Trung Cộng Giang Trạch Dân đến tận miền Nam Việt Nam để nhìn những ruộng lúa mênh mông. Họ Giang hiểu rằng đến năm 2020, Trung Quốc sẽ phải nhập cảng ít nhất 33 triệu tấn lương thực để nuôi dân. Chỉ riêng hai vựa lúa miền Nam và Thái Lan cũng đủ nuôi dân Tầu sang tới cuối thế kỷ 21. Họ Giang liền ra lệnh cho quân khu Hoa Nam mang 300,000 quân đến gỡ mìn. Đến tháng 7, 1999, quân khu Hoa Nam báo cáo đã dọn xong mìn. Biên giới Hoa Việt đã mở rộng cho Trung Cộng tiến quân xuống Việt Nam và đồng thời buộc Việt Cộng phải động viên khoảng 4 triệu quân và 2 triệu dân công tải lương, đạn, để tiến đánh Đông Nam Á theo chiến lược domino.

Tháng 7, 1979, bộ trưởng thương mại Hoa kỳ Balridge sang Bắc Kinh và trao cho Trung Quốc một tấm chi phiếu 300 triệu đô la để giúp Trung Quốc có tiền bồi thường các nạn nhân đã bị cộng sản truất hữu tài sản tại Thượng Hải năm 1950.

Năm 1980, tạp chí Paris Match của Pháp đăng hình lính cộng sản Bắc Việt dùng hình Đặng Tiểu Bình làm "bia" để tập đâm lưỡi lê. Tấm hình này chứng tỏ sự ngoan cố và hỗn láo của Việt Cộng. Dĩ nhiên Bắc Kinh đã được thể ra điều kiện bắt buộc Việt Cộng phải thay đổi nhân sự theo ý muốn của Bắc Kinh. Việt Cộng đã phải triệu tập đại hội Đảng kỳ 7 vào tháng 6, 1991 để loại bỏ hai tên thân Mỹ là Mai Chí Thọ và Nguyễn Cơ Thạch và đưa Lê đức Anh và Đoàn Khuê lên cầm quyền.

Đến cuối tháng 1, 1994, trước khi Mỹ công bố bỏ cấm vận ngày 3 tháng 2, 1994, Việt Cộng lại bị Trung Cộng bắt buộc phải họp đại hội Đảng bán nhiệm kỳ để đưa số ủy viên bộ Chính Trị từ 13 lên 17 tên, đa số là người của Bắc Kinh. Đại hội Đảng cũng loại bỏ những tên không được lòng Trung Cộng và duy trì những tên chuyên môn làm chó săn nghe lệnh Trung Cộng như Lê Đức Anh, Đoàn Khuê, Lê Khả Phiêu, Nguyễn mạnh Cầm, Nguyễn Hà Phan. Lê đức Anh và Đoàn Khuê nắm quân đội. Lê khả Phiêu nắm công an. Nguyễn mạnh Cầm nắm ngoại giao. Thủ tướng VC Võ văn Kiệt chỉ còn chức vụ nhận tiền đầu tư và kinh tài cho tập thể lãnh đạo. Sau đại hội bất thường này, tại Trung Ương Đảng và bộ Chính trị, phe làm chó săn cho Trung Cộng nắm đa số tuyệt đối.

5. Ra Đi Bán Chính Thức và Chính Thức.


Cuối năm 1978 và đầu năm 1979, song song với chiến trường Việt Miên, Việt Cộng thả cho Hoa Kiều được xuất ngoại "bán chính thức" với điều kiện nộp vàng cho nhà nước và bỏ vàng ra đóng ghe, tàu. Mỗi người trung bình đóng cho cộng sản khoảng 1 cân Anh vàng (gần nửa kilô). Mai Chí Thọ đã thu được rất nhiều vàng, hàng chục tấn. Các đàn em y cũng béo bở không kém. Nhưng không mấy ai biết Mai Chí Thọ xử dụng số vàng đó ra sao? Thọ giao cho Hà nội khoảng 1 nửa để trả nợ cho Liên Xô còn bao nhiêu Thọ chia chác với lũ đàn em và bỏ túi.

Trong khoảng 6 tháng đầu năm 1979, số người Hoa tỵ nạn, có lẫn người Việt, sang tới Mã Lai và Nam Dương có tới 100 ngàn người. Sự tràn ngập người tỵ nạn khiến cho toàn thế giới báo động. Các nước triệu tập một hội nghị khẩn cấp về tỵ nạn và buộc Việt Cộng phải ngưng ngay các cuộc cho đi "bán chính thức". Việt Cộng phải lập thủ tục giấy tờ cho những người Việt nào có đủ điều kiện đoàn tụ gia đình theo chương trình Orderly Departure Program - ODP.

Trong vụ ra đi "chính thức" này, Mai Chí Thọ cũng lấy tiền, nhưng ít hơn, mỗi người khoảng 3 lạng vàng (112.5 grams). Trong danh sách những người được Mai Chí Thọ cho đi chính thức hầu hết là người Hoa trong khi danh sách của Hoa Kỳ toàn người Việt. Đệ Thất Hạm Đội của Hoa Kỳ cũng "cắm sào" tại biển Nam Hải để giám sát Việt Cộng. Thật ra thì người Mỹ cũng đã răn đe Việt Cộng không cho tấn công Thái Lan. Nhưng Hoa Kỳ đã mặc nhiên mặc kệ Việt Cộng chiếm đóng Cao Miên cho tới 1990!

(Khi vào việc người ta mới thấy cái "tài" bóc lột, làm tiền, đòi hối lộ, móc ngoặc, buôn lậu, gian giảo, xoay sở, mánh mung, ăn cắp của công... của cán bộ cộng sản từ cấp cao nhất đến cấp thấp nhất quả là tinh vi, láu cá và lưu manh hạng nhất.)

Trong khoảng 10 năm Việt Cộng chiếm đóng Cao Miên từ 1979 đến 1989, dân Miên quả đã dễ thở và hồi sinh trở lại. Việt Cộng đã đối đãi khá nhân đạo với dân Miên và không giết người Miên như PolPot. Nhưng Việt Cộng đã không ngờ bị kẹt ở Miên lâu dài, không thể bỏ, và cũng không thể tiến xa hơn! Thế domino và sự xâm chiến Đông Nam Á đã trở thành ảo mộng! Phải đến năm 1990, 1991, vì áp lực quốc tế mạnh và sự sụp đổ đế quốc Liên xô đã làm cho Việt Cộng suy yếu và phải rút quân ra khỏi Miên. Người ta biết Việt Cộng có để lại một số lớn quân cải trang thành lính Miên của chính quyền Hun Sen nhưng không ai biết con số đích xác là bao nhiêu.

Trung Cộng cũng không mạnh miệng phản đối vụ Việt Cộng tống xuất Hoa kiều. Lẽ dễ hiểu tất cả các Hoa Kiều đã được đi tới các nước Âu châu và Mỹ, Úc châu, và đời sống của họ chắc chắn khá hơn tại Việt Nam và Trung Quốc. Các Hoa kiều sẽ tập hợp thành "bang". Các bang trưởng sẽ phải thu tiền của kiều dân để "cống" cho Bắc Kinh! Con số về tiền "triều cống" của khoảng 130 triệu Hoa Kiều hải ngoại quả khổng lồ. Có thể tới hàng chục tỷ đôla. Tại Nhật có khoảng hơn 100 ngàn Hàn kiều. Những kiều dân này đã gởi "biếu" chủ tịch Kim Nhật Thành Bắc Hàn hơn 1 tỷ đôla mỗi năm. Nhờ số tiền này, Bắc Hàn cộng sản đã đứng vững đến ngày nay. Kim Nhật Thành đã chết tháng 7, 1994.

Trong Miền Nam cũng không có gì sáng sủa hơn. Sau khi điều nghiên kỹ càng và huấn luyện hàng trăm ngàn thanh niên cán bộ trong hơn 6 tháng về cách thức kiểm kê, Mai Chí Thọ đề nghị "đánh tư sản mại bản" và được sự chấp thuận của Liên xô và Hà Nội.

Ngày 21 tháng 3, 1978, Thọ ra lệnh "đánh" những nhà giầu miền Nam, đa số là người Hoa trong Chợ Lớn. Tổng cộng đợt đầu 30,000 nhà giầu, các tiệm buôn lớn. Đợt 2 đánh 20,000 hộ thương mại, gọi là “Tư Sản Mại Bản”. Chỉ tiêu đưa ra là phải "lấy" được 10 tấn vàng nộp cho Liên xô. Kết quả, các thương gia “giấu” vàng giả và kim cương giả cho chúng lấy. Trận "đánh" này đã thất bại hoàn toàn và hơn 8 ngàn cán bộ đã đi tù vì bị cáo là ăn cắp vàng thật và tráo vàng giả! Liên Xô mang vàng ăn cướp của Việt Nam bán tại Thụy Sĩ. Người Thụy Sĩ nấu vàng lên thấy đều là đồng và chì. Mai Chí Thọ liền đề nghị cho người Hoa đi “bán chính thức” để thu số vàng cần thiết giao nộp cho Liên Xô.

Sự cho ra đi "bán chính thức" có nghĩa là người ra đi được phép công khai xuất ngoại "không giấy tờ, không sổ thông hành" xuống thuyền ra ngoài biển để đến các bờ bến nước khác như Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương, Phi Luật Tân, Hồng Kông hoặc được tàu lớn vớt trên biển, và họ được nhận với tư cách tỵ nạn.

Những người đi "bán chính thức" được đăng ký với chủ tàu có công an kiểm soát với giá trả bằng vàng từ 12 lạng trở lên. Số vàng này chủ tàu chỉ lấy độ 2 lạng, công an địa phương 2 lạng, còn 8 lạng phải đóng cho Mai Chí Thọ (mỗi lạng vàng nặng 37.5 gram).

Những người vượt biên đi "chui" có nghĩa là đi lén lút, trốn tránh công an, chỉ tốn ít tiền khoảng từ 1 đến 3 lạng vàng. Nhưng rất dễ bị lừa gạt mất vàng hoặc bị công an bắt bỏ tù vừa mất vàng vừa phải có tiền chuộc ra khỏi tù. Nếu đi lọt ra ngoài biển lại sợ nạn bão tố, phong ba, hỏng máy trôi dạt trên biển chết đói chết khát, hoặc bị hải tặc Thái Lan cướp bóc, hãm hiếp và quăng xuống biển.

Trong mấy năm đầu số người ra đi dễ dàng được các nước nhận tỵ nạn và cho vào nước họ, nhiều nhất là Hoa Kỳ. Nhưng sau này, số người quá đông nên có sự thanh lọc coi người nào có đủ tiêu chuẩn mới được nhận. Nếu không thì phải sống lay lất trong các trại tạm cư, hoặc bị đuổi trả về Việt Nam.

Chính phủ Thái Lan cũng đã dung túng cho các thuyền đánh cá Thái trở thành hải tặc để làm nhụt chí người ra đi. Những thủ đoạn tàn bạo của hải tặc Thái cũng nhằm mục đích làm nản chí người Việt. Mã Lai cũng là nước đã tiêu diệt khoảng 50 ngàn thuyền nhân Việt riêng trong năm 1979 bằng cách cắt dây cho ghe thuyền trôi nổi và chết trên biển cả. Chính bộ trưởng nội vụ Mã Lai năm 1979 đã ra lệnh này. Lệnh cắt dây đuổi ghe tị nạn ra ngoài biển vẫn được Mã Lai duy trì cho đến năm 1991... ).

Khoảng những năm cuối thập niên '80s, hải tặc Thái lộng hành đến mức chúng dàn hàng mấy trăm chiếc sẵn ngoài khơi để đợi thuyền vượt biên. Mỗi khi chúng thấy có ghe vượt biên chúng ra lệnh cho 4 hay 5 chiếc săn bắt, bao vây và cướp. Chúng cướp của, hãm hiếp và giết sạch các thuyền nhân cho hết nhân chứng.

(Năm 1991, Việt Cộng cũng tổ chức "hải tặc" để cướp lại khiến cho Thái Lan phải báo động. Sau này, những dữ kiện về hải tặc phải được góp lại thành một cuốn "Bạch Thư" kể tội Thái Lan và Mã Lai. Hai nước Thái Mã phải có thái độ rõ ràng về vấn đề này nếu không muốn bị Việt Nam trừng phạt báo thù. Thái Lan cũng phải trả lại 25 ngàn dặm vuông đất đã dựa thế Nhật Bản chiếm của hai nước Miên Lào vào năm 1941! Thái Lan cũng phải cho những người Việt cư ngụ tại Bắc Thái Lan được sống bình thường như người Thái. Hiện nay, những người này bị cấm làm 44 nghề. Năm 1994, người ta được biết Trung Hoa vĩ đại đã tổ chức hải tặc ngay tại biển Đông để "làm chủ" mặt nước tại vùng đang có sự tranh chấp về dầu khí này. Một làng ở Bắc Thái thân Cộng sản đến nỗi ngày nay đã trở thành “bảo tàng viện Hồ chí Minh”.

Nước Mỹ với trách nhiệm chiến tranh ở Đông Dương đương nhiên phải đứng ra tiếp nhận những người tỵ nạn cho định cư tại Hoa Kỳ. Trung Quốc thấy người Hoa có dịp vào Hoa Kỳ cũng tỏ ý ủng hộ. Người Hoa được coi là "nạn nhân" vì họ đã bỏ lại tài sản để làm giầu cho Việt Cộng!

Người Mỹ ngẩn ngơ vì họ chỉ muốn cứu người Việt. Họ không ưa gì người Hoa Chợ Lớn vì chính nạn đầu cơ tích trữ, làm giá, tiếp tay cho cộng sản, tham nhũng do người Hoa chủ trương đã khiến cho chiến tranh chống Cộng không thể thắng. Nay lại phải "rước" cái đám người Hoa này vào Mỹ ăn hại và phá hoại kinh tế Hoa Kỳ! Thành tích của người Hoa Chợ Lớn tại Mỹ đáng kể nhất là gần 10 cái sòng bạc (casinos) tại tỉnh Commerce, bang California.

Chỉ trong khoảng 6 tháng cuối năm 1978 và 6 tháng đầu năm 1979, số người ồ ạt ra đi tới hơn 100 ngàn người hầu hết là những người Hoa giầu có và một số ít người Việt. Sự ra đi này đã làm giầu cho Mai Chí Thọ và toàn bộ đảng ủy, công an miền Nam. Ta thử làm con tính nhân mỗi đầu người trung bình 12 lạng vàng ta sẽ thấy Mai Chí Thọ hốt của nhiều như thế nào?

Mỗi kilô vàng là 26 lạng (tael, 37.5 grams). Số vàng Thọ thu được lên đến nhiều tấn vàng. Khi những người Hoa xuống tàu thì công an đã chực sẵn ngay tại đầu cầu với cân, với chuyên viên coi vàng thật hay giả, và nhiều giỏ tre lớn mà người ta gọi là giỏ "cần xế"! Mỗi người phải trình giấy tờ chứng minh mình là người Hoa, sau đó để vàng trên bàn. Số vàng được mở ra cân và xét thật giả rồi bỏ vào giỏ cần xế. Lần lượt tiếp tục những người khác cho đến khi đầy tàu khoảng từ 700 đến 1,500 người tùy theo tàu lớn nhỏ.

Người Mỹ thấy làn sóng tung người đi bán chính thức là một đòn của Việt Cộng đưa gánh nặng nuôi người Hoa cho Mỹ, vội phản công cấp tốc. Tháng 4, 1979, Đệ Thất Hạm Đội được lệnh vào sát bờ biển Việt Nam và người Mỹ cảnh cáo Việt Cộng cấm không cho tung người xuất ngoại kiểu "luật rừng" nữa, nếu không người Mỹ sẽ có biện pháp!

Việt Cộng cũng bị buộc phải đi họp hội nghị Giơ Neo tháng 7, 1979 và chúng phải thỏa thuận cho những người không thích ở với chế độ cộng sản và có thân nhân ở nước ngoài được ra đi hợp pháp và trong vòng trật tự. Chương trình ra đi trật tự này dưới danh nghĩa là Liên Hiệp Quốc bảo trợ nhưng thật ra là người Mỹ và mấy nước khác như Canada, Úc, Pháp. Chương trình này được gọi là ODP (Orderly Departure Program) bắt đầu từ năm 1980.

Năm 1980, hai bên Mỹ Việt trao đổi danh sách những người được phép ra đi chính thức. Bên phía Mỹ đưa ra một danh sách khoảng 30 ngàn người hầu hết người Việt có liên hệ gia đình với người đã ra đi năm 1975. Nhưng khi bên Việt Cộng đưa danh sách hơn 30 ngàn người ra đi "đoàn tụ" thì toàn tên người Hoa ở Chợ Lớn.

Một giới chức Hoa Kỳ đã lắc đầu nói : "Danh sách người ra đi đoàn tụ của Việt Cộng đưa ra giống cuốn niên giám điện thoại Chợ Lớn!" Vì sự mâu thuẫn giữa hai danh sách nên vấn đề cho người ra đi trong trật tự đã bị kẹt lại trong nhiều năm và sau cùng Hoa Kỳ cũng phải nhượng bộ. Do đó số người Hoa được sang Hoa Kỳ khá đông.

Cho đến những năm 1982, 1983 những người ra đi chính thức phải có giấy tờ hợp lệ và phải đưa 3 lạng vàng cho Năm Thạch, quản lý sở ngoại kiều đường Nguyễn Du là tay em của Thọ. Những người Tàu không đủ giấy tờ hợp lệ thì phải chi vàng nhiều hơn và phải hiến tất cả tài sản nhà đất cho cán bộ.

Phần lớn những người Tàu Chợ Lớn mới có tiền chi cho Thạch và họ được ra đi. Những người Việt nghèo khổ không có tiền thì không được đi mặc dù giấy tờ hợp lệ. Thật là một sự mỉa mai vì chiến tranh chết người Việt mà chỉ có người Tàu hưởng lợi. Người Tầu ra đi không lỗ, lại còn có lời. Khi họ sang đến Mỹ thì họ thường được trợ cấp xã hội khoảng 500, rồi 600 rồi gần 700 đôla (California) mỗi tháng, cùng với sự săn sóc bệnh tật (medicare) dài dài từ năm 1979, 1980 cho đến ngày nay, và cho đến khi họ chết. Trái lại, những người Việt đi chậm từ 1983 trở đi chỉ được trợ cấp 18 tháng, rồi 12 tháng, rồi cắt đứt hẳn.

Tháng 7, 1983, tờ báo Time ở Hoa Kỳ có một bài viết về tình trạng cho ra đi đoàn tụ trong trật tự (ODP - Orderly Departure Program) đã nói về vấn đề người Mỹ chỉ muốn đón người Việt, trái lại Việt Cộng chỉ muốn đẩy người Tàu ra đi để lấy tiền khoảng 4 ngàn đôla mỗi người. Số tiền này tương đương với 10 lạng vàng và cũng là bản án tử hình cho Năm Thạch. Thọ họp với các đàn em và kết luận Năm Thạch đã ăn bớt rất nhiều và nộp cho Thọ trung bình mỗi đầu người chỉ có 1 lạng vàng! Ngày 22 tháng 12 năm 1983, Năm Thạch bị giết tại nhà riêng nhưng nguồn tin chính thức nói là y tự tử!

Khác với miền Bắc sau năm 1954 chỉ có một số rất ít người vượt tuyến vào Nam vì sự canh phòng trong Miền Bắc rất chặt chẽ. Nhưng trong Nam sau 1975 thì khác hẳn. Cái viễn tượng được đi Hoa Kỳ là một xứ tự do đã cám dỗ rất nhiều người. Ở với cộng sản thì tương lai mù mịt, công ăn việc làm không có, sự túng thiếu đói khổ luôn luôn bên cạnh. Nhiều người hi vọng nếu sang được Hoa Kỳ thì con cái sẽ được học hành tử tế và có tương lai. Ở trong nhà hay ngoài đường, chỗ nào cũng có công an dòm ngó, xét hỏi. Con người lúc nào cũng nơm nớp sợ sệt đến mức tinh thần khủng hoảng. Tất cả mọi người đều có ý nghĩ ra đi. Một câu nói đùa rỡn nhưng ngụ ý sâu xa cay đắng luôn luôn ở cửa miệng mọi người: "Sống với Cộng sản thì cái cột đèn nếu nó biết đi, nó cũng đi!"

Thường thường nếu có nhiều vàng thì đi cả nhà, nếu có ít thì đi một vài người trước đã. Khi lọt qua Mỹ rồi sẽ gởi tiền về cho người trong nhà tiếp tục đi nốt. Chắc chân nhất là đã có người nhà ở sẵn bên Mỹ thì chỉ cần đi lọt là có người bảo lãnh vào đất Mỹ ngay. Người nào cũng muốn ra đi cho sớm khi còn tiền và vì chậm lại thì mỗi ngày mỗi khó khăn. Công an cộng sản cũng tinh ma tìm cách rình rập những người ra đi để bắt bớ, lột tiền và đòi tiền chuộc.

Có nhiều người đi lọt sang tới các đảo nhưng không đủ điều kiện vào đất Mỹ đã phải chấp nhận đi Canada, Úc châu, Pháp, Ý, Đan Mạch, Hòa Lan, Bỉ, Tây Đức, Na Uy, Thụy Điển. Người Việt do đó đã có mặt tại khắp nơi trên thế giới. Rồi họ bảo lãnh gia đình ra đi chính thức và làn sóng tỵ nạn sẽ kéo dài triền miên tới cả trăm năm nữa cũng chưa hết!

Chỉ khi nào chế độ cộng sản bị dẹp tan thì làn sóng tỵ nạn mới chấm dứt và khoảng nửa triệu người tỵ nạn Việt, Mên, Lào, hiện đang sống rải rác khắp các trại tỵ nạn từ Hồng Kông tới Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương, Phi Luật Tân cũng sẽ được hồi hương làm lại cuộc đời!

Số người ra đi thật nhiều nhưng bị chết trên biển cũng khá nhiều. Đặc biệt khoảng năm 1980 trở đi, các ngư phủ Thái Lan thấy những người vượt biên có vẻ có nhiều tiền và trên ghe có nhiều đàn bà con gái. Chúng đi đánh cá nhưng hễ thấy có ghe thuyền chở người tỵ nạn thì chúng trở mặt thành hải tặc cướp bóc, hãm hiếp, giết người với những thủ đoạn vô cùng dã man!

Số người tỵ nạn bị Việt Cộng sát hại, bị bão tố, bị người Mã Lai cho cắt dây bỏ trôi ngoài biển, bị hải tặc Thái Lan giết hại có thể lên tới trên 1 triệu (1,000,000 ) người! Riêng trong năm 1979 và đầu năm 1980, số người bị Mã Lai bắt xuống thuyền rồi cắt dây cho trôi nổi trên biển và chết, có tới 50,000 người. Bộ trưởng nội vụ Mã Lai đã ra cái lệnh tàn ác này.

Những người bị Việt Cộng bắt ngay tại bờ sông, bờ biển trong khi đang sửa soạn ra đi, bị chúng giam rồi đòi tiền chuộc cũng tới cả triệu người. Trong các trại tù thường có cảnh cả nhà bị tù với những đứa trẻ còn đang bú mẹ. Các trại tù, nhà giam ven biển thường chật ních tù vượt biên.

Đến năm 1987, sau khi Nguyễn văn Linh làm tổng bí thư và Phạm Hùng làm thủ tướng và tuyên bố mở cửa, đổi mới, người Mỹ thấy có thể nói chuyện “được” với Hà Nội. Năm 1987, Ủy viên đặc sứ của TT Reagan, tướng John Vessey đến Hà Nội để thương lượng thả tù binh Mỹ và tù binh Việt Nam Cộng Hòa. Người Mỹ hứa sẽ cho tất cả tù binh (học tập cải tạo) VNCH đi Mỹ cùng cả gia đình ngay sau khi ra khỏi trại giam, để họ không còn ở lại hoạt động chống Cộng. Bắc Kinh cũng đồng ý vì họ không muốn thấy người Việt quốc gia và cộng sản đoàn kết với nhau, khi cần thiết, để chống Tầu. Người Mỹ cũng hứa sau khi bốc hết các tù binh Mỹ và VNCH thì sẽ xúc tiến bãi bỏ cấm vận, bang giao và viện trợ, bồi thường tái thiết Việt Nam. Vấn đề thuê Vịnh Cam Ranh và liên minh quân sự để chống Trung Quốc cũng được đặt ra.

Chính vì mật đàm quá thân mật với người Mỹ mà thủ tướng Phạm Hùng đã bị Trung Cộng đầu độc chết năm 1990. Cùng thời gian này, Bắc Kinh ra mật lệnh phải đôn thiếu tướng Lê Khả Phiêu lên chức vụ Phó Chủ Nhiệm Tổng Cục Chính Trị nhưng nắm toàn quyền quân đội và Đảng. Phiêu lập tức thay thế các cán bộ chính trị tại các đơn vị bộ đội trong cuộc “rèn cán chỉnh quân” vĩ đại nhất từ khi đại thắng Cao Miên năm 1979. Phiêu lên dần dần cho đến khi nắm trọn quyền hành hay là tổng bí thư Đảng vào cuối năm 1997. Các đơn vị gián điệp Trung Quốc cũng được lệnh giám sát người Việt tối đa và phá hoại mọi kế hoạch âm mưu đi với Mỹ của phe Cộng sản người Việt. Bắc Kinh cũng cử một viên “toàn quyền” bí mật ngồi ngay tại Hà Nội để giám sát và điều khiển mọi việc, mọi hoạt động của bộ Chính Trị và Trung Ương đảng CSVN.

Năm 1981 tới 1985, Chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân TP Saigon Mai Chí Thọ đã chán ngấy việc cung cấp hàng cho tàu Liên Xô vì quá tốn tiền mà y không có lợi gì cả. Thọ liền một mặt báo cáo nguồn hàng đã kiệt quệ, chỉ còn hải sản bằng các tàu quốc doanh đánh cá ngoài biển và Biển Hồ (Tonlé Sap) Cao Miên. Thọ họp với một số Hoa thương Chợ Lớn và chúng tính xuất cảng "lậu" để lấy ngoại tệ bỏ túi. Các tàu từ Singapore và Hồng Kông tới lấy hàng rồi trả bằng ngoại tệ cho Thọ tại Thụy sĩ. Trong 5 năm, từ 1980 đến 1985, Thọ bỏ túi khoảng 600 triệu đô la.

Thọ quả là một tay "giỏi" kiếm tiền và có vẻ không hại đến dân Miền Nam. Vì riêng sự cho nhập các thùng quà, thuốc tây đã cứu sống và nuôi sống nhiều gia đình trong nhiều năm. Sự liên lạc và trợ giúp của Việt kiều nước ngoài đối với thân nhân đã giúp cho nhiều người sống sót và nhiều người có thể tính chuyện ra đi. Thành phố Saigon tấp nập với hàng ngoại hóa, với xe cộ đi lại, với kẻ buôn người bán khá sầm uất vào những năm đầu thập niên '80s.

Liên Xô bực tức Thọ vô cùng nhưng đã không "bứng" nổi Thọ vì Thọ quá mạnh. Sự kiện Thọ hủ hóa, tham nhũng, buôn bán đã có lợi cho đa số cán bộ miền Nam. Bọn này hùa theo Thọ, ủng hộ Thọ và mọi người đều vui vẻ cả. Phải đến cuối năm 1985, Thọ mới chịu bỏ Saigon, ra Hà Nội để đi lên chức lớn hơn nắm công an toàn quốc và nhường chỗ cho Phan Văn Khải, một tên được Liên Xô đỡ đầu.

Nhưng Phan Văn Khải đã không thể "trị" được đám cán bộ trong Nam đã "thành tinh" với các mánh khoé do Thọ bày biểu. Chúng hùa nhau tổ chức xuất cảng và nhập cảng hàng lậu, qua mặt nhà nước. Tiền bạc của nhà nước cho các kế hoạch thì chúng mang đi buôn. Khi đi buôn thì giá vàng hạ, nhưng khi trả lại tiền thì chúng chỉ cần trả bằng một nửa hay một phần ba số vàng trước kia chúng mua vào!

Tên huyện ủy Tịnh Biên người Quảng Ngãi đã "nghĩ" ra một kế hoạch làm ăn rất hay. Y nói huyện Tịnh Biên cần có một nhà máy nước đá để ướp cá và để cho nhân dân xử dụng đá trong mùa nóng. Y được trợ cấp ngân khoản để lập nhà máy và khoảng gần một năm sau nhà máy đã được xây cất xong.

Cuối năm 1982, người ta thấy y cho chở nước đá sang Miên bán với giá thật cao khoảng 1 chỉ vàng (50 đôla) cho một cây nước đá 50 kilos. Lấy vàng xong y mua thuốc lá Samit của Thái Lan mang về bán được thêm lời lần nữa. Làm ăn không cần vốn, không phải thuế má gì, thì chẳng mấy lúc mà giầu có!

Các cơ sở kinh tài khác của Việt Cộng thường đến cuối năm là bị chúng gây hỏa hoạn cháy hết sổ sách giấy tờ cho phi tang sự ăn cắp của chúng. Mỗi năm trong tháng 12 và tháng 1 thường có rất nhiều vụ cháy kho, cháy cơ sở tại khắp nơi!


6. Việt Nam tan hoang dưới chế độ Cộng sản công an trị.

Dân số gia tăng hàng năm gần 2 triệu người cộng với trẻ nhỏ lớn lên khiến cho khắp nước Việt chỗ nào cũng đông nghẹt người. Nhưng hầu hết là thất nghiệp, vô học, thiếu ăn. Ăn mày đầy rẫy khắp nơi. Đang ăn một bát phở cũng phải coi chừng vì có khi chúng giật bát phở chạy vừa chạy vừa bỏ vô miệng. Thường chúng đưa bàn tay dơ bẩn "sờ" vào bát phở đang ăn và hỏi người ăn xong chưa? Thấy bàn tay dơ bẩn, người ăn đủ thấy ghê tởm mặc cho y lấy bát phở.

Tất cả phong hóa, đạo đức, luân thường, đạo lý, đều bị sự nghèo đói làm cho tiêu ma. Con người quá đói làm bất cứ chuyện gì để kiếm ăn. Những sự tin tưởng nhau, thành thật và tín nhiệm nhau, những tình cảm chân thật, chân thành, hầu như không còn mấy ở các thành phố lớn tại Việt Nam. Đa số thiếu nữ, phụ nữ kể cả các cô giáo, đã vì quá túng thiếu phải bán rẻ con người. Sau này, sự chấn chỉnh lại xã hội sẽ là một vấn đề khá gay go!


Bà kia tuổi sáu mươi rồi
mà sao không được phép ngồi bán khoai!

.......................................................... ....

Cô kia như giải lụa đào
mà sao bát phở vài hào cũng trao?

.......................................................... ....

( Thi sĩ Vô Danh - Thơ Vô Đề 1961)


Sự giáo dục tại các trường học là một sự suy thoái cùng cực trong thời gian cộng sản cầm quyền. Các thầy cô giáo với số lương quá ít ỏi đã không thể đủ sức khoẻ để dạy học. Hầu hết phải làm thêm ngoài giờ, có người phải đi đạp xích lô, để có đủ cơm ăn. Có giáo viên để ngay xe xích lô của mình trước lớp học. Cũng là một cử chỉ bỉ mặt nhà nước cộng sản. Trong trường học, luôn luôn có cán bộ cộng sản giám sát hành vi, cử chỉ, lời nói của các giáo viên, giáo sư. Chúng không tha thứ bất cứ một giáo viên nào có lời lẽ chống chế độ.

Chúng đặt vấn đề nhồi sọ trẻ nhỏ với cái mà chúng gọi là "chính trị", là "chủ nghĩa xã hội" là ưu tiên hàng đầu. Chúng hi vọng những trẻ nhỏ lớn lên sẽ quên giòng giống Lạc Hồng, Âu Lạc, mà chỉ nhớ mình là người cộng sản với giặc Hồ, với Xít Ta Lin, với Mác, Lê Nin là tổ tiên!

Các trẻ nhỏ hầu hết quá nghèo đói, thiếu dinh dưỡng, âu lo, buồn rầu vì gia cảnh khó khăn, có khi vì cha mẹ bị tù tội, bệnh tật, đã không đủ ý thức, sáng suốt và can đảm để học. Các thiếu niên càng chán nản việc học hơn nữa vì thấy trước là không có tương lai học lên cao học hoặc có công ăn việc làm với một đời sống bình thường. Các trẻ nhà nghèo chỉ lo kiếm ăn sống qua ngày như các con thú nhỏ kiềm mồi. Việc học hành, quần áo hoặc sinh sống như con người là điểm không bao giờ Cộng sản nghĩ tới.

Cộng sản mà nói chuyện học hành thì thật con chó con mèo Liên Xô cũng không ngửi được. "Bác Hồ" của chúng đã ra tiêu chuẩn là phải đủ "tam đại bần cố nông" mới được làm đồng chí cộng sản, chứ "bác" có bao giờ cần người có học?

Các thanh niên nam thì phải đăng ký "nghĩa vụ quân sự" và đi lính vào năm 18 tuổi. Các thiếu nữ thì được "thúc giục, khuyến khích" tình nguyện thoát ly gia đình đi thanh niên xung phong, có nghĩa là làm hộ lý không lương cho đám thanh niên thoát ly, và tương lai cũng mù mịt nữa. Đại học chỉ dành cho các thành phần "tốt" như con cái cán bộ, nhưng sự dạy dỗ cũng chẳng có bao nhiêu và sinh viên tốt nghiệp dốt vẫn hoàn dốt.

Khi muốn lợi dụng lao động của thanh niên, thanh nữ không phải trả lương, Hồ thường dùng khẩu hiệu. Khẩu hiệu thông dụng nhất là "đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên". Hồ huy động tất cả thanh niên thanh nữ phải gia nhập thanh niên xung phong, thanh niên cộng sản, du kích địa phương, công an địa phương, dân công tải đạn, lao công chiến trường, xung phong Nam tiến vượt Trường Sơn, y tá chiến trường, để lợi dụng tối đa lao động của họ cho đến khi sức cùng lực kiệt và bệnh hoạn đến chết. Nam nữ thoát ly gia đình đến các nông trường, công trường, các công trình thủy lợi, đắp đê, đắp đường, đào kênh, đào mương. Các sự chung đụng ăn chung ở lộn khiến cho thanh niên thanh nữ giải quyết sinh lý lẫn lộn. Vì quá nghèo đói rách rưới, không một thanh niên nào dám mơ ước ái tình hạnh phúc, thành lập gia đình với nhà cửa, tương lai sáng sủa. Các nền tảng gia đình, đạo đức, luân lý hoàn toàn bị phá bỏ. Sau 5 năm, 10 năm, sức lao động đã suy nhược mòn mỏi vì thiếu dinh dưỡng, thuốc men, những con người tàn tạ này mới sáng mắt ra hiểu được sự tàn độc của Hồ và cộng sản thì đã muộn.


Em là thanh niên xung phong
Đắp đường tải đạn long đong tháng ngày!
Đảng nuôi hai bữa một ngày
Cơm độn ba bát, muối đầy lòng (bàn) tay!
Áo quần hai bộ đổi thay
Một năm đi phép mười ngày có lương!
Cho nên chẳng có người thương
Xuân tình chợt gặp giữa đường với nhau!
Nói ra bảo kể khổ đau



Cấp bằng đại học cộng sản Việt Nam không được bất cứ một nước nào trên thế giới công nhận. Trình độ học vấn miền Bắc đã suy thoái ngay sau khi cộng sản vào Hà nội cuối năm 1954. Mỗi năm, Phạm Văn Đồng với tư cách thủ tướng, chỉ cần ra "chỉ tiêu" cho bao nhiêu kỹ sư, bao nhiêu y sĩ, bao nhiêu luật sư, được đậu tốt nghiệp thì khoa trưởng đại học sẽ lựa các sinh viên nào con cán bộ cao cấp cho đậu để đạt chỉ tiêu (norm). Muốn vào đại học bắt buộc phải là con cán bộ. Con cái những người thuộc "thành phần xấu" như địa chủ, sĩ quan "ngụy", cha mẹ bị tù tội hay bị giết vì đấu tố, tư sản mại bản, hoặc chỉ "không là con cái" cán bộ cũng không được chấp nhận vào đại học.


Anh là một sinh viên Hà nội
đêm trừ tịch anh ngồi đun suốt tối
Chiếc bát men vỡ hỏng thay nồi
Mắt nhấp nhiu anh ngoáy nếm liên hồi
những mẩu sắn chặt bỏ đi vì thối
vì lợn không nhá nổi, anh ơi!


(Thi sĩ Vô Danh - Thơ Vô Đề 1969)


Người ta không cần biết khả năng học vấn ra sao! Thật ra thì tốt nghiệp hay không cũng sẽ thành cán bộ. Khi thành cán bộ rồi sẽ nhờ thần thế, chạy chọt vào chỗ nào, chân nào kiếm ăn, tham nhũng được. Mộng của nhiều thanh niên là làm sao được làm thủy thủ các tàu viễn dương là có thể kiếm chác, buôn bán, kể cả buôn lậu và cả gia đình sẽ được sung sướng. Câu nói đầu miệng của người Miền Bắc là sống trong chế độ Việt Cộng đều cần phải có là: nhất thân, nhì thế!

Tất cả nước Việt năm 1991 có gần 4 triệu cán bộ mọi cấp, mọi ngành, chưa kể cán bộ công an địa phương do quỹ của xã và tỉnh đài thọ. Như vậy tổng số cán bộ toàn quốc có thể đến 8 triệu người cộng với khoảng gần 1 triệu trong quân đội. Số bộ đội giải ngũ khoảng nửa triệu người cũng được trợ cấp nhưng rất ít ỏi.

Ngoài ra còn có những người đã từng là công chức, quân đội, phế binh, của chính quyền quốc gia cũ cũng khoảng hơn một triệu người hay là hơn 1 triệu gia đình. Cả nước Việt có khoảng 14 triệu gia đình hay là 73 triệu người (1991). Ít lắm cũng có khoảng 10 triệu gia đình hay là 50 triệu người quá nghèo đói và khoảng 25 triệu trẻ nhỏ dưới 15 tuổi không được giáo dục. Ta lưu ý biết đọc biết viết không phải là được "giáo dục" với một trình độ học vấn và hiểu biết tạm đủ. Vào năm 2000, 50% dân số hay là 40 triệu người ở tuổi dưới 25! Việt Nam có số dân trẻ tuổi nhất thế giới.

Hầu hết tất cả cán bộ, công nhân viên, bộ đội, công an, bộ đội giải ngũ, phế binh và toàn thể dân chúng đều oán ghét Việt Cộng vì đời sống của họ quá cơ cực. Nhưng không thể có sự nổi dậy hay nổi loạn chống đối vì giặc Hồ đã xây dựng nên một guồng máy công an trị rất hiệu quả vì tính cách khủng bố vô cùng tàn bạo.

Tất cả mọi người thấy có gì khác lạ là phải báo cáo ngay cho công an. Không phải vì họ thích chế độ, nhưng vì nhiều lý do như sợ sệt, ham lợi, hạ người khác để cho mình được thay thế, hoặc nếu không mau lẹ báo cho công an thì có khi cũng bị tình nghi, bị vạ lây hoặc bị bắt giam. Ngoài sự sống trong tình trạng nghi ngờ lẫn nhau, không ai có thể "thành thật" với ai, mỗi người còn lo chạy ăn ngày hai bữa thì còn hơi sức đâu mà chống với đối?

Trong sự nghèo khổ tất cả mọi thứ trong xã hội đều suy thoái đến cùng cực. Năm 1991, có khoảng 2 triệu người mù chữ, nhưng số trẻ nhỏ thất học trên toàn quốc lên tới 80%! Do con số người thất học ta có thể hình dung các tệ nạn, tội ác, hỗn loạn, mức độ nghèo khổ, bệnh tật, trong xã hội lên tới mức nào hiện nay và trong 10 năm tới.

Tình trạng cướp bóc, ăn mày, đĩ điếm, buôn lậu, đầy rẫy khắp mọi nơi trong nước Việt từ Nam Quan cho đến Cà Mau. Các thương phế binh cộng sản, lính cộng sản giải ngũ và dân buôn lậu nhập với nhau thành đoàn hàng ngàn người từ Lạng Sơn, từ biên giới Việt Miên, từ các tỉnh ven biển để tải hàng lậu. Chúng đi khơi khơi và vì quá đông lại có võ trang nên hải quan và công an không dám ra mặt ngăn cản bắt bớ. Công an, cán bộ cũng nương theo sự hỗn loạn trong xã hội để kiếm ăn.


7. Những người trở về trên tầu Việt Nam Thương Tín năm 1975.

Trong thời gian cộng sản chiếm đóng miền Nam, nhiều người đã hậm hực tiếc rẻ đã không chạy thoát trước ngày 30 tháng 4, ra nước ngoài. Nhưng mọi người đã sững sờ khi nghe tin chiếc tàu Việt Nam Thương Tín trở về từ đảo Guam với khoảng 1,500 người "đòi về" với chế độ cộng sản chứ không thèm ở trên xứ tự do.

Đầu tháng 9, 1975, tàu Việt Nam Thương Tín được cập bến Nha Trang và Việt Cộng đã cho lột sạch sẽ trước khi đưa tất cả vào trại giam. Mỗi người phải trút bỏ hết quần áo và được cấp phát 2 bộ quần áo cũ hay quần áo tù. Cộng sản làm như vậy để tiện lục soát trong quần áo và tịch thu toàn bộ. Người Mỹ đã tìm đủ mọi cách để dỗ dành, chiều chuộng họ ở lại nhưng không được.

Họ nhất quyết tin tưởng nếu "thành tâm" về với cộng sản như vậy, họ sẽ được cộng sản đãi ngộ tử tế và coi như anh hùng! Viên trung tá đứng ra đảm nhiệm lái tàu Việt Nam Thương Tín đã tỏ vẻ mừng rỡ nói ra miệng là: "Công tôi mang chiếc tàu này về cho nhà nước thì chắc họ sẽ cho xe Jeep ra đón tôi!" Hình như viên trung tá này sau này đã bị vợ bỏ vì đã làm hỏng tương lai của cả gia đình.

Người nào cũng hi vọng là sự trở về của họ sẽ được cộng sản thích thú chấp nhận. Người Mỹ thì biết những người trở về sẽ vô cùng cực khổ vì thiếu thốn nên đã trang bị cho họ đủ thứ mùng mền, chăn gối, lương thực ê hề. Có người đã phải nói người Mỹ cho nhiều đồ như cho con gái về nhà chồng!

Kết quả là mỗi người được cộng sản đón bằng cái còng số 8, bất kể đàn bà trẻ con! Tất cả phải lột sạch quần áo để công an khám trong lông, trong tóc tìm cái gì có thể giấu được. Quần áo bị tịch thu để công an có thời giờ lục soát kỹ càng và lấy luôn. Trong số những người về có tới 400 sĩ quan cảnh sát, và mấy trăm sĩ quan quân đội. Có thể do cái thái độ không ưa người Mỹ xui nên, hay tại họ ngu dại và vô phước, hay tại họ còn quá nhiều nghiệp chướng phải trả, nên họ đã hăng hái quyết liệt đòi về. Đàn bà và trẻ con bị giam tối thiểu 9 tháng, những người khác từ 5 năm trở lên, tùy theo thành phần, lý lịch. Một số lớn bị tình nghi do CIA "cài" về để làm gián điệp, tình báo!

Thân nhân gia đình của những sĩ quan trở về đã thất vọng và nguyền rủa chồng họ không tiếc lời. Báo hại những người vợ nghèo nàn này còn phải lo tiền bạc đồ ăn đi thăm nuôi. Nhiều bà đã quá giận bỏ chồng khiến cho gia đình tan nát. Các "nạn nhân" chỉ còn cúi đầu sống trong sự tiếc hận, tủi hổ với lương tâm và với mọi người, và tiếc nuối một dịp may đã mất đi vĩnh viễn. Sau này, khi ra khỏi tù, họ không dám hé môi là đã "đòi về" vì nếu nói ra thì chắc chắn thế nào cũng bị chửi!

Thật khó cho những người đã biết Cộng sản và những người đời sau lại có thể tin đã có tới hơn 1,500 người đòi được vào tù cộng sản!


8. Làm thế nào để các sĩ quan VNCH và công chức Miền Nam tự mình đến đăng ký vào tù Cộng sản?

Sau khi vào Saigon, thấy sĩ quan và binh lính miền Nam còn quá đông, Cộng sản bối rối lo sợ. Những người quốc gia vẫn tin tưởng cộng sản sẽ thực hiện hòa giải, hòa hợp dân tộc, xóa bỏ hận thù như chúng đã luôn luôn nói như vậy. Họ hi vọng Cộng sản sẽ cần đến những bàn tay của họ để xây dựng đất nước sau nhiều năm chiến tranh.

Nhưng Việt Cộng đã không nghĩ như vậy. Với trình độ quá kém cỏi, chúng sợ sẽ không thể lo công ăn việc làm cho một số đông người và chúng sợ họ sẽ nổi loạn. Sau khi buộc mọi quân nhân các cấp phải ra trình diện đăng ký, chúng thấy con số người quá đông. Số sĩ quan hơn 100 ngàn, hạ sĩ quan, binh lính hơn 600 ngàn. Chúng thấy cần phải có kế hoạch bỏ tù tất cả các sĩ quan là những người có thể lãnh đạo hay cầm quân chống lại chúng.

Trước hết chúng kêu gọi các binh sĩ đi "học" 3 ngày, hạ sĩ quan 7 ngày, khiến cho mọi người đều tưởng là hình phạt "học tập" như vậy quả là nhẹ nhàng. Binh sĩ và hạ sĩ quan mà chỉ có 3 ngày với 7 ngày thì sĩ quan và sĩ quan cao cấp nghĩ mình không phải học nhiều hơn mấy.

Tháng 6, 1975, Việt Cộng cho Huỳnh Tấn Phát lên TV nham nhở tuyên bố mập mờ các sĩ quan cấp tá và tướng đi học tập "đường lối chính sách mới" của nhà nước và mang theo lương thực 1 tháng. Mọi người đều hiểu chỉ đi học có 30 ngày nên tất cả mọi người đều sốt sắng hăng hái ra đi. Họ tính đi học có 30 ngày thì đi học cho xong rồi về nhà tính chuyện làm ăn bình thường. Ngay đêm hôm đầu, khoảng hơn 400 sĩ quan cảnh sát đã có kinh nghiệm với sự dối trá của cộng sản nên không đi và bị chúng tới tận nhà bắt còng tay mang đi.

(Mấy năm sau, Huỳnh Tấn Phát, ni sư “quỷ cái quốc doanh” Huỳnh Liên, quỷ tăng Thích Thiện Minh... đã bị Cộng sản thủ tiêu vì bệnh “công thần”. Chỉ có Trương Như Tảng trốn thoát. Nguyễn Công Hoan, tên dân biểu hai chế độ, cũng vượt biên năm 1978 để làm đại sứ không chính thức cho Cộng sản miền Nam, nhưng không làm nên cơm cháo gì.)

Sau khi bắt giam các sĩ quan cao cấp đâu đấy trước khi chấm dứt thời hạn 30 ngày, chúng ra lệnh cho các sĩ quan cấp úy đi học tập và mang theo 10 ngày lương thực. Mọi người đều tin là sẽ chỉ có 10 ngày vì sĩ quan cấp tá nhiều hơn những 30 ngày. Khi họ trình diện học tập xong thì bọn Việt Cộng trở mặt ngay cho còng cứ 2 người một còng giải đi các nơi giam giữ. Cộng sản đã "thành công" khi không phải đi bắt mà hơn 100 ngàn người tự đến nộp mình.

Sau khi đánh lừa hơn 200,000 sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng Hòa, công chức và cán bộ cấp xã để giam giữ trong hàng trăm trại tù rải rác khắp nước từ Bắc vào Nam, Cộng sản áp dụng sự hành hạ khủng khiếp như địa ngục suốt từ năm 1975 cho đến cuối thập niên '80s. Các sĩ quan từ cấp tá trở lên đều bị đưa đi những nơi núi rừng miền Bắc, miền Trung và Nam để "học tập cải tạo".

Họ là những người tù không được xử án, không có thời hạn giam giữ, và không hi vọng có ngày về. Chính sự không biết ngày về và tuyệt vọng đã làm cho nhiều người mau kiệt quệ tinh thần, thể xác, mau tàn tạ và chết rất nhanh. Cộng sản chỉ muốn như vậy. Chúng bóc lột lao động các tù nhân cho đến khi họ kiệt quệ và chết. Những người tù được lệnh vào rừng chặt tre, đốn cây, đẽo gỗ để xây dựng trại, để cung cấp cho nhà nước với hai bàn tay không!

Cộng sản không có gì để cung cấp cho họ. Cũng bằng hai bàn tay không các người tù phải tìm những miếng sắt vụn, những đồ phế thải chiến tranh để chế tạo ra dụng cụ. Họ phải sản xuất lương thực cho trại giam, để nuôi các quản trại, cai tù và cho Nhà nước. Họ được chia khẩu phần chết đói với những miếng sắn (khoai mì) đã lâu ngày có nhiều chất độc. Họ phải làm những bản tự khai trong nhiều tháng để kể những "tội ác" của họ trong khi chiến đấu chống Cộng. Họ luôn luôn bị kiểm thảo, chửi rủa, làm nhục. Vì số tù nhân quá đông, cộng sản không thể tra khảo, đánh đập mà chúng bắt họ làm bản tự khai. Mỗi ngày khai xong, chúng gom lại và ngày hôm sau bắt khai nữa. Khai xong, chúng so sánh với bản trước thấy sai một vài chữ là chúng bắt khai lại. Cứ khai đi khai lại hoài cho đến khi nào chúng chán thôi không bắt khai nữa.

Khi số tù đầu tiên bị giải ra Bắc, dân miền Bắc được lệnh Cộng sản ném đá vào đầu họ để cho họ biết là "nhân dân" thù ghét các sĩ quan "ngụy". "Ngụy" là danh từ chơi chữ của Cộng sản để chỉ người quốc gia. Ngụy có nghĩa là giặc, là địch, là cái gì trái với lẽ phải. Tại nhiều nơi, chúng bắt các "cải tạo viên" đi gỡ mìn tại những bãi mìn hàng rào trong thời chiến tranh. Các tù nhân đi gỡ mìn phần nhiều không chết cũng bị thương thành tàn phế.

Theo "luật" cộng sản, chúng chỉ được quyền bắt người khi có trát bắt do tòa án ký. Nhưng tại sao lại có chuyện công an bắt người, bắt bất cứ ai, bất cứ lúc nào, như cơm bữa? Mỗi tên công an thường có cả tập trát bắt người trong mình nhưng trát chưa có tên chỉ có đóng dấu và chữ ký. Chúng ít chữ nghĩa nên khi bắt ai chúng cứ việc bắt người đó rồi bắt nạn nhân tự điền tên vào một tờ giấy do chúng đưa ra. Trong sự sợ hãi, kinh hoảng, nạn nhân điền tên tuổi, địa chỉ của mình rõ ràng không dám sai lầm. Nạn nhân đã không ngờ chính mình viết trát để bắt mình!

Một kiểu bắt người khá thông minh của công an cộng sản là hỏi giấy nạn nhân xong rồi điềm nhiên bỏ vào túi áo, rồi bắt nạn nhân vì "tội" không có giấy tờ tùy thân! Ngay sau khi bị bắt giam, các nạn nhân "đương nhiên không còn" quyền công dân và cộng sản dĩ nhiên không cần phải tôn trọng nhân quyền. Sau khi được "thả", vì Cộng sản có thể "thả" chứ không "tha", nạn nhân phải tiếp tục ra đồn công an phường hay xã trình diện hàng tuần trong tư thế bị giam lỏng tại gia. Phải hơn một năm sau, nếu không phạm lỗi và trình diện đầy đủ, tù nhân sẽ được đưa ra buổi họp nhân dân phường hay xã để bình nghị theo công an đề nghị và được "trả lại" quyền công dân.

Một số khá đông các sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng Hòa là những thành phần trí thức có trình độ khoa học kỹ thuật cao, có khả năng lãnh đạo, tổ chức và chỉ huy giỏi và hầu hết đã được Hoa Kỳ đào tạo khá tốn tiền trong nhiều năm trong rất nhiều ngành nghề. Đây là một vốn liếng (chất xám) khổng lồ và là tinh hoa cần thiết của cả dân tộc, nhưng Cộng sản đã thẳng tay dẹp bỏ cho họ vào tù.

Phải đến năm 1986 trở đi, "nhờ" người Mỹ cấm vận bao vây kinh tế nên Việt Cộng phải chịu thả các sĩ quan từ từ với điều kiện người Mỹ phải mang họ sang Hoa Kỳ. Việt Cộng rất sợ những sĩ quan quốc gia biết chỉ huy rất dễ cầm đầu nổi loạn. Nhân dân thì quá thù ghét Cộng sản. Họ sẵn sàng theo bất cứ ai để nổi dậy tiêu diệt Cộng sản. Từ năm 1990 đến 1995 số sĩ quan ra khỏi tù và đi Mỹ khá đông đến mức gần hết. Người ta chuẩn bị đến năm 1996 là mọi việc sẽ xong. Đến cuối năm 1994, số sĩ quan cao cấp và cấp tướng còn sống đã đến Hoa Kỳ đủ mặt. Người Mỹ dụng ý các sĩ quan cao cấp và ở tù lâu năm, trên 10 năm, ra khỏi trại là được lo thủ tục đi Hoa Kỳ cấp tốc!


HẾT

Tuesday, June 9, 2009

Việt Thường Những Việc Cần Làm ... Gấp- KN2000 08-06--2009


Việt Thường Những Việc Cần Làm ... Gấp
KN2000 08-06--2009


video


Bài 1- Xin nhấn vào PLAY để nghe âm thanh


video


Bài 2- Xin nhấn vào PLAY


Những Việc Cần Làm .... Gấp
Kỷ Nguyên 2000 Phỏng vấn Nhà Báo Việt Thường ngày 08-06-2009


Thanh Minh Thiền Viện by Nguyen Ngoc Chinh.
Thanh Minh Thiền Viện có 2 thùng Cúng Dường Tam Bảo thật to,
dù "bỉểu tình tại gia" " bất tuân dân sự" 6 tháng cũng no đủ.



GS Nguyễn Huệ Chi, sinh ngày 14 tháng 7 năm 1938, (còn được biết đến với các bút danh: Phương Tri, Huệ Chi, Cánh Hồng, Hy Tuệ)
Năm 1994 ông được Hội PartagePháp mời sang Pháp trình bày về văn hóa truyền thống của Việt Nam. Tại đây ông có dịp gặp gỡ Thiền sư Thích Nhất Hạnh. . Năm 2001, William Joiner Center thuộc Đại học Massachusetts mời ông và Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến, sang Hoa Kỳ tham gia một chương trình nghiên cứu văn hóa Việt Nam người Việt tỵ Nạn việt gian Cộng Sản ở hải ngoại ( cái loa của đảng việt gian Cộng Sản )



Tiến sĩ Lê Văn Hảo

Hoàng Phủ Ngọc Tường








Chùa tọa lạc ở thôn Dương Xuân Hạ II, xã Thủy Xuân, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Hòa thượng Tăng thống Thích Tịnh Khiết đại trùng tu năm 1972 và Hòa thượng Thích Minh Châu trùng tu năm 1992. Nơi 4 người Đức bị xử tử Mậu Thân 1968.


German Chancellor Angela Merkel and US President Barack Obama at their joint press conference
"Good cooperation based on trust"
Obama in Germany


Contact

Hello and welcome,

Here you can send a message to the Federal Chancellor. Please always state your postal address as well as your e-mail address so that we can answer your questions in detail and send you information packs, if available.


Call the Federal Government's Bürgertelefon on +49 (0)180 272 00 00 at local call rate when calling from Germany.
Mondays to Thursdays 8 am to 4.30 pm
Fridays from 8 am to 3 pm.

Naturally, we observe the provisions of data protection.

Thank you!

http://www.bundeskanzlerin.de/Webs/BK/EN/Service/Contact/contact.html

Postal Adress:
Bundeskanzleramt
Bundeskanzlerin Angela Merkel
Willy-Brandt-Straße 1
10557 Berlin

* Please fill in.

Forty Years of the Tet Offensive (David Warren, 2/03/08, Real Clear Politics)

The Tet Offensive was a desperate ploy by the Communist enemy in Vietnam. Tens of thousands of his troops were flung simultaneously at more than 100 South Vietnamese towns, and into the heart of Saigon. The Communists announced a general uprising, but that did not occur. The tide was actually turned within a few days by the U.S. and South Vietnamese armies. As they re-took town after town, they discovered massacres the Communists had committed while in possession. The enemy's real object had been to decapitate a whole society.

My friend, Uwe Siemon-Netto, a German Lutheran pastor and also life-long journalist, was there as a reporter. Entering Hué as the smoke was clearing: "I made my way to university apartments to obtain news about friends of mine, German professors at the medical school. I learned that their names had been on lists containing some 1,800 Hué residents singled out for liquidation.

"Six weeks later the bodies of doctors Alois Altekoester, Raimund Discher, Horst-Guenther Krainick, and Krainick's wife, Elisabeth, were found in shallow graves they had been made to dig for themselves.

"Then, enormous mass graves of women and children were found. Most had been clubbed to death, some buried alive; you could tell from the beautifully manicured hands of women who had tried to claw out of their burial place.

"As we stood at one such site, Washington Post correspondent Peter Braestrup asked an American TV cameraman, 'Why don't you film this?' He answered, 'I am not here to spread anti-communist propaganda'."

Báo chí thế giới 40 năm sau "Tet Offensive"

Viết về Mậu Thân 40 năm sau dường như không phải là đề tài nóng hổi, giựt gân, thu hút bạn đọc nên các bài viết về Mậu Thân 1968 ở báo chí thế giới năm 2008 là điều hiếm có. The Lies of Tet (34) của Arthur Herman, đăng ngày February 6, 2008 trên Wall Street Journal Online là một thí dụ.

"Vietnam Syndrome" (Hội chứng Việt Nam) (35) của David Warren, một columnist của tờ Ottawa Citizen - Ottawa, Ontario, Canada - viết ngày 3 tháng 2, 2008 là một bài khác. Trong bài Hội chứng Việt Nam, Warren đã nhắc lại cuộc tổng công kích Mậu Thân của Việt Cộng:


Cộng sản tuyên bố Tổng khởi nghĩa, nhưng việc đó đã không xẩy ra. Chỉ vài ngày sau quân và đồng minh đã chuyển sang phản công. Khi tái chiếm lại các thị xã, và thành phố họ phát hiện những cuộc thảm sát do quân cộng sản thực hiện. Mục tiêu chính của cuộc tổng công kích của địch là tiêu diệt cả xã hội (nguyên văn "decapitate a whole society")


Warren viết tiếp, thuật lại lời một người bạn là ký giả, mục sư Lút-ti người Đức Uwe Siemon-Netto:


Uwe_Siemon-Netto.jpg

Uwe Siemon-Netto
Nguồn: concordia.typepad.com



Tôi đi vào khu ký túc xá đại học (Huế) để thăm hỏi tin tức bạn bè, những giáo sư người Đức của trường Y khoa. Tôi được cho biết tên của những người bạn tôi cùng nằm trong danh sách 1.800 người sống tại Huế được chọn để thủ tiêu.


Sáu tuần sau, người ta tìm thấy xác của các bác sĩ Alois Altekoester, Raimund Discher, Horst-Guenther Krainick, và Elisabeth, vợ của Krainick, trong một mồ chôn chung mà Việt Cộng đã bắt họ tự đào lấy.


Sau đó người ta tiếp tục tìm được những mồ chôn tập thể đây xác phụ nữ và trẻ em. Đa số đã bị đập chết, một số khác bị chôn sống. Người ta có thể biết được thế qua những bàn tay phụ nữ cố cào đất thoát khỏi mồ chôn họ.

Tại một mồ chôn tập thể, ký giả Peter Braestrup của tờ Washington Post quay sang hỏi một người quay phim của hãng truyền hình Mỹ, 'Sao anh không quay phim cảnh này đi?' Người quay phim trả lời, 'Tôi đến đây không phải để phát tán tuyên truyền chống cộng.'






imgimg
imgimgimgimg
Nạn Nhân Bị Bắn Từ Sau Gáy

imgimgimgimg
Naạn nhân bị giết tại nhà



http://www.thienlybuutoa.org/Misc/Pics/MauThan1968-pic01.jpg