<?xml version='1.0' encoding='UTF-8'?><rss xmlns:atom='http://www.w3.org/2005/Atom' xmlns:openSearch='http://a9.com/-/spec/opensearchrss/1.0/' xmlns:georss='http://www.georss.org/georss' version='2.0'><channel><atom:id>tag:blogger.com,1999:blog-4128474229374807245</atom:id><lastBuildDate>Tue, 13 Oct 2009 05:01:06 +0000</lastBuildDate><title>Chương Trình Thời Sự Kỷ Nguyên  2000</title><description></description><link>http://thoisukynguyen2000.blogspot.com/</link><managingEditor>noreply@blogger.com (Thoi Su Ky Nguyen 2000)</managingEditor><generator>Blogger</generator><openSearch:totalResults>59</openSearch:totalResults><openSearch:startIndex>1</openSearch:startIndex><openSearch:itemsPerPage>25</openSearch:itemsPerPage><item><guid isPermaLink='false'>tag:blogger.com,1999:blog-4128474229374807245.post-336898166357803144</guid><pubDate>Sun, 05 Jul 2009 13:10:00 +0000</pubDate><atom:updated>2009-07-05T06:12:02.991-07:00</atom:updated><category domain='http://www.blogger.com/atom/ns#'>Nha Kỹ Thuật / Trung Tá Trần Bá Tuân Sở Công Tác</category><title>Nha Kỹ Thuật / Trung Tá Trần Bá Tuân Sở Công Tác</title><description>&lt;h3 class="post-title entry-title"&gt; &lt;a href="http://socongtac.blogspot.com/2009/07/nha-ky-thuat-trung-ta-tran-ba-tuan-so.html"&gt;Nha Kỹ Thuật / Trung Tá Trần Bá Tuân Sở Công Tác&lt;/a&gt; &lt;/h3&gt;   &lt;a href="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sk50_Tk_4aI/AAAAAAAAElM/Lme_4F9N7Vk/s1600-h/tuanvahoang.jpg"&gt;&lt;img style="margin: 0px auto 10px; display: block; text-align: center; cursor: pointer; width: 400px; height: 307px;" src="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sk50_Tk_4aI/AAAAAAAAElM/Lme_4F9N7Vk/s400/tuanvahoang.jpg" alt="" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5354345637926134178" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Trang 96&lt;br /&gt;Nha Kỹ-Thuật (NKT) là cơ quan tình báo chiến lược của QLVNCH, là một đơn vị đặc trách tổ chức, hoạt động sưu tầm tin tức tình báo, phản tình báo chiến lược từ nội bộ cộng sản Bắc Việt cũng như trong hậu tuyến địch, những nơi có cơ sở, đơn vị cộng-sản trong và ngoài lãnh thổ VNCH.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khởi đầu là Phòng 6 TTM do trung tá Lung đảm trách. Trong thời đệ nhất Cộng Hòa là sở Liên-Lạc Phủ Tổng-Thống và Lực Lượng Ðặc Biệt do đại tá Lê quang Tung làm tư lệnh. Sau cuộc chỉnh biến 11/63 cho đến tháng 4/75 lần lượt chỉ huy bởi các tướng Nghiêm, Quảng, Lam-Sơn, Phú, trung tá Lan, đại tá Hổ và cuối cùng là đại tá Nu. Danh xưng được đổi từ Phòng 6, đến sở Liên Lạc Phủ TổngThống, Lực Lượng Ðặc Biệt,sở Khai thác Ðiạ hình, và cuối cùng là Nha Kỹ Thuật.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong thời đệ nhất Cộnghòa, mọi hoạt động được đại tá Tung trực tiếp nhận chỉ thị cũng như phúc trình với Tổng Thống Ngô đình Diệm và cố vấn Ngô đình Nhu. Cũng trong thời gian này, mọi hoạt động được cố vấn và yểm trợ bởi cơquan Trung-Ương Tình-Báo CIA Hoa Kỳ. Sau tháng 11/63 mọi hoạt động đều trực tiếp qua đại tướng TTMT bộ TTM và được cố vấn, yểm trợ bởi cơ quan tình báo quân sự Hoa Kỳ SOG (Study and Observation Group). Các đơn vị, cơ sở thuộc NKT gồm: sở Công Tác, sở Liên Lạc, sở Phòng Vệ Duyên Hải, sở Tâm Lý Chiến, sở Không Yểm và trung tâm huấn luyện Quyết Thắng. Sở Công Tác đóng tại Sơn Trà, Ðà Nẵng, đoàn 11, 72 đóng tại Ðà nẵng, đoàn 75 đóng trên Pleiku và đoàn 68 tại Saigon. Các toán trong đoàn công tác được huấn luyện xâm nhập bằng hàng không hay đường bộ vào lòng địch tại Bắc Việt hay ngoại biên Lào, Miên hoặc Thái Lan. Sở Liên Lạc đóng tại Saigon, chiến đoàn 1 tạiÐà Nẵng, chiến đoàn 2 trên Kontum và chiến đoàn 3 tại Ban Mê Thuột. Các toán thuộc sở Liên Lạc xâm nhập vào hậu tuyến địch từ vĩ tuyến 17 trở vào cho đến mũi Cà Mau. Sở Phòng Vệ DuyênHải đóng tại Tiên Sa, Ðà Nẵng gồm Lực lượng Hải Tuần thuộc Hải Quân Việt Nam, xử dụng thuyền máy PCF, PT có tốc độ nhanh, hỏa lực mạnh để hoạt động phiá bắc hải phận vĩ tuyến 17. Lực lượng Biệt Hải được huấn luyện thành các toán Người Nhái để xâm nhập vào Bắc Việt bằng đường biển.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sở Tâm Lý Chiến đóng tại số 7 đường Hồng Thập Tự, Saigon tổ chức và điều hành đài Tiếng Nói Tự Do và đàiGươm Thiêng Ái Quốc. Ngoài ra sở TLC còn có nhiệm vụ gửi cán bộ ra Bắc hoạt động trong lãnh vực tâm lý chiến. Sở Không Yểm đóng tại Saigon thuộc Không Quân Việt Nam để phối trí phi đoàn trực thăng 219, phi đoàn quansát 110 tại Ðà Nẵng trong việc xâm nhập, liên lạc, hướng dẫn và triệt xuất các toán hoạt động trong lòng địch. Trung tâm huấn luyện Quyết Thắng tại Long Thành, Biên Hoà huấn luyện về chiến tranh ngoại lệ cho các toán, các phương pháp xâm nhập vào đãt địch, hoạt-động nơi hậuphương địch, du kích chiến, ám sát, bắt cóc, phá hoại, chiến tranh tâm lý v.v...&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vì lý do bảo mật, tuy cùng đơn vị, nhiều quân nhân NKT không được phép tiếp xúc hay tìm hiểu nhiệm vụ của một số chiến hữu khác. Các cơ quan, đơn vị NKT đồn trú trên khắp bốn vùng chiến thuật hạn chế tối đa sự liên lạc với các cơ quan quân, dân, chính điạ phương. Vì vậy ít người biết về NKT hoặc chỉ biết mà không hiểu rõ về các hoạt động của NKT. Quân nhân, dân sự được tuyển chọn về NKT đều trải qua một cuộc điều tra tỉ mỉ về quá khứ và liên hệ. Tãt cả đều thuộc thành phần tình nguyện, các chiến sĩ NKT khi nhận nhiệm vụ đều thấu hiểu rằng đó là công tác gian nan nguy hiểm, khi ra đi ít hy vọng trở về an toàn. Bao nhiêu chiến sĩ đã hy sinh trên khắp vùng rừng núi Bắc Việt, ngoại biên và trong lãnh thổ VNCH.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Những chiến công oanh liệt, những thành quả tối quan trọng, các chiến sĩ thuộc NKT chỉ được khen thưởng, tuyên dương âm thầm, kín đáo trong đơn vị. Trải qua 20 năm hoạt động, qua nhiều cấp chỉ huy, giám đóc, đường lối hoạt động của NKT cũng có phần ảnh hưởng bởi các thay đổi trong các cấp lãnh đạo và diễn biến chính trị quốc tế về Việt Nam. Nha Kỹ Thuật đã nhiều lần thay đổi về cơ cấu tổ chức và các hoạt động, tuy nhiên các chiến sĩ NKT luôn luôn vì Tổ Quốc sẵn sàng hy sinh, nêu cao tinh thần phục vụ cho Tự Do, cho Lý Tưởng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trần bá Tuấn, K.B.C. số 9, 1988&lt;br /&gt;Ngày Quân Lực 1996 &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;http://socongtac.blogspot.com/&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4128474229374807245-336898166357803144?l=thoisukynguyen2000.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</description><link>http://thoisukynguyen2000.blogspot.com/2009/07/nha-ky-thuat-trung-ta-tran-ba-tuan-so.html</link><author>noreply@blogger.com (Thoi Su Ky Nguyen 2000)</author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sk50_Tk_4aI/AAAAAAAAElM/Lme_4F9N7Vk/s72-c/tuanvahoang.jpg' height='72' width='72'/><thr:total xmlns:thr='http://purl.org/syndication/thread/1.0'>0</thr:total></item><item><guid isPermaLink='false'>tag:blogger.com,1999:blog-4128474229374807245.post-8910512893186645834</guid><pubDate>Sun, 05 Jul 2009 13:04:00 +0000</pubDate><atom:updated>2009-07-05T06:05:43.543-07:00</atom:updated><category domain='http://www.blogger.com/atom/ns#'>Hoa Kỳ Quyết Định Để Cho Miền Bắc Xâm Lăng Miền Nam-Vanuxem</category><title>Hoa Kỳ Quyết Định Để Cho Miền Bắc Xâm Lăng Miền Nam-Vanuxem</title><description>&lt;h3&gt;&lt;br /&gt;&lt;/h3&gt;&lt;h3&gt;&lt;a href="http://quandiemdongde.blogspot.com/2009/07/hoa-ky-quyet-inh-e-cho-mien-bac-xam.html" target="_blank"&gt;Hoa Kỳ Quyết Định Để Cho Miền Bắc Xâm Lăng Miền Nam&lt;/a&gt;&lt;/h3&gt;&lt;br /&gt;  &lt;a href="http://2.bp.blogspot.com/_2qPDfjqTiBk/SlBt8BMnemI/AAAAAAAALA4/YDtTGnDex3Y/s1600-h/nixon_china_0330.jpg" target="_blank"&gt;&lt;img style="text-align: center; height: 224px;" src="http://2.bp.blogspot.com/_2qPDfjqTiBk/SlBt8BMnemI/AAAAAAAALA4/YDtTGnDex3Y/s400/nixon_china_0330.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt; &lt;span style="font-weight: bold;"&gt;N&lt;/span&gt;gười Trung Hoa có một câu châm ngôn:&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;&lt;br /&gt; “Thất trận rồi người ta mới đếm xác chết và mới đi tìm người trách nhiệm.” &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phản ứng của người dân, thường hay trút hết trách nhiệm cho người lãnh đạo hoặc cho người lính chiến. Tại Việt Nam thì cả hai đều có phần trách nhiệm của mình, nhưng cả hai đều không thể làm gì hơn được với hai bàn tay trắng vì đã bị người ta tước hết khí giới từ lâu!&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;Việt Nam là một nước nông nghiệp nên không thể sản xuất vũ khí được, do đó trong cuộc chiến, cả hai bên miền Nam và miền Bắc đều bắt buộc phải nhận sự viện trợ quân sự từ bên ngoài. Do vậy, người ta thường nói rằng chỉ cần chấm dứt viện trợ ngoại quốc cho cả hai bên Nam và Bắc thì ngọn lửa chiến tranh ở Việt Nam sẽ yếu dần và đi đến chỗ tàn lụi ngay, cuộc chiến đương nhiên phải chấm dứt. Nhưng cũng có người chỉ đứng về một phía, đã khẳng định quá đơn phương, và khiếm diện rằng chỉ cần người Mỹ, hay đúng hơn là đế quốc Mỹ như người ta đã cáo buộc, chấm dứt mọi viện trợ kinh tế và quân sự cho miền Nam Việt Nam, là miền Bắc sẽ chấm dứt cuộc chiến tranh nầy trong chiến thắng. Và đó là những điều đã xảy ra trên thật tế.&lt;br /&gt;Người ta đã từng cho rằng chiến tranh ở Việt Nam không phải là một cuộc nội chiến giữa miền Nam và miền Bắc, vì nếu giữa người Việt với nhau thì không chóng thì chầy họ đã có thể đạt được một sự thỏa thuận nào đó với nhau rồi. “Nhưng đây là một cuộc chiến tranh giữa các siêu cường”&lt;br /&gt;Nhưng đây là một cuộc chiến tranh giữa các siêu cường quốc, mượn tay người Việt Nam (hay sinh mạng người Việt Nam cũng thế) và ngay trên lãnh thổ Việt Nam, để so tài hơn thua cao thấp với nhau, ngăn chặn nhau không cho bên nào bành trướng thêm ra hơn nữa, vì hai bên không thể trực tiếp đối đầu với nhau được, tránh bị tổn thất nặng có thể đi đến chỗ tiêu diệt lẫn nhau. Có điều là cả hai bên đều nuôi dưỡng một mối thù hằn mà nguyên nhân không phải xuất phát từ nước Việt Nam và nước Việt Nam cũng không có gì để mà thiết tha quan tâm đến.&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://2.bp.blogspot.com/_2qPDfjqTiBk/SlBu_XjioMI/AAAAAAAALBA/7r_dhggR4QM/s1600-h/nixon-china-visit_0.jpg" target="_blank"&gt;&lt;img style="text-align: center; height: 306px;" src="http://2.bp.blogspot.com/_2qPDfjqTiBk/SlBu_XjioMI/AAAAAAAALBA/7r_dhggR4QM/s400/nixon-china-visit_0.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;Hoa Kỳ thì "ngăn chận"&lt;br /&gt;Khối Cộng Sản thì "xâm chiếm, bành trướng"&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;Người ta có thể thấy được rất rõ là Nga và Trung Quốc vẫn không bao giờ che dấu tham vọng xâm chiếm toàn cầu của họ theo đúng hướng chiến lược đã hoạch định trước rất rõ ràng, và nếu Hoa Thịnh Đốn chỉ bo bo theo sách lược “tạo uy tín và bành trướng kinh tế” thì chiến lược đó của Hoa Kỳ hoàn toàn nằm trong thế thủ, bị động. Đặc biệt là ở Á Châu, Hoa kỳ nhất nhất theo thuyết “ngăn chận” các bước tiến của Cộng Sản. Do vậy mà trên mảnh đất đầy hình ảnh đau thương và tàn khốc của cuộc chiến, người ta đã “đóng khuôn” cho miền Nam Việt Nam trong nhiệm vụ phòng thủ thụ động, và các đồng minh lớn của họ không bao giờ muốn cho họ đi ra ngoài khuôn khổ nhiệm vụ đó, trong khi bộ đội Bắc Việt thì được tung ra trên khắp cả 3 nước Đông Dương, từ Lào, Cam Bốt đến Miền Nam Việt Nam, ẩn hình dưới danh nghĩa của lực lượng cách mạng Pathet Lào, Khmer đỏ, và Việt Cộng, để rồi cuối cùng họ cũng phải bỏ cái mặt nạ của họ ra, hiện “nguyên hình” là quân xăm lăng Bắc Việt, là kẻ chiến thắng, để tiến vào Sài Gòn.&lt;br /&gt;Tuy trận tấn công vào tỉnh lỵ Phước Long vào tháng 1-75 của bộ đội Bắc Việt là một cuộc tấn công có giới hạn (mà phía Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa một phần vì sợ bị nhử vào bẫy có thể bị hao quân và mất thêm chiến cụ, một phần cũng không có đủ lực lượng để đối phó được với một loại tấn công qui mô như vậy, nên không có phản ứng đối kháng mạnh, nhưng họ cũng thu lượm được quá đủ bằng cớ để chứng minh với những ai còn chút nghi ngờ, là “Hoa Kỳ không còn can thiệp vào chiến cuộc nữa”. Và như vậy là Bắc Việt cho tiến hành ngay cuộc tổng tấn công mùa xuân với đầy đủ bảo đảm trong một sự an toàn tuyệt đối.&lt;br /&gt;Rõ ràng là Hoa Kỳ đã khuyến khích Bắc Việt bằng thái độ im lặng và quá thụ động của họ sau vụ tấn công quan trọng vi phạm rất nặng và rất trắng trợn “Hiệp Định Paris 1973 về Ngừng Bắn và Tái Lập Hòa Bình ở Việt Nam”. Thật ra, Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa đã được báo động về thái độ “bất can thiệp” nầy của Hoa Kỳ từ lâu rồi. Trong những tháng 1, 2, và 3-75, đã có nhiều nghị sĩ dân biểu Hoa Kỳ đến thăm Việt Nam và đã từng xác nhận với Tổng Thống Thiệu là “viện trợ của Hoa Kỳ cho Việt Nam Cộng Hòa trong những ngày sắp tới sẽ rất là mong manh trong may rủi”. Mỉa mai thay, viện trợ nầy trước đó đã được Tổng Thống Hoa Kỳ là ông Nixon long trọng tuyên hứa với Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa!!!&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Những cuộc vận động của Hoa Kỳ&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;Tại Guam, Tổng Thống Nixon đã công bố kế hoạch 5 điểm trong sách lược yểm trợ Thế Giới Tự Do của Hoa Kỳ, chính yếu là “cây dù nguyên tử” và viện trợ đầy đủ vô điều kiện cho tất cả mọi quốc gia dân tộc nào chứng minh có quyết tâm bảo vệ nền độc lập tự do của mình.&lt;br /&gt;Hiệp Định Paris 1973, cuối cùng rồi cũng được Tổng Thống Thiệu bằng lòng ký tên vào, vì ông không còn có khả năng từ chối thêm lần thứ hai, dù đó chỉ là trong cung cách ngoại giao thôi, nhưng với những lý lẽ vững chắc mà ông đưa ra trước khi ký, Tổng Thống Nixon đã phải đích thân nhận chịu trách nhiệm chẳng những bằng lời nói mà còn cả trên giấy trắng mực đen nữa:&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;&lt;br /&gt;“Hoa Kỳ sẽ cung cấp viện trợ kinh tế và quân sự cho Việt Nam Cộng Hòa để giúp Việt Nam Cộng Hòa đương đầu với mọi biến cố mà vì không có thiện ý, Bắc Việt sẽ có thể không ngớt tạo ra sau nầy.”&lt;br /&gt;&lt;a href="http://1.bp.blogspot.com/_2qPDfjqTiBk/SlBydxKbyhI/AAAAAAAALBQ/d5H-Za1yE8o/s1600-h/thieu%26kissinger.jpg" target="_blank"&gt;&lt;img style="text-align: center; height: 304px;" src="http://1.bp.blogspot.com/_2qPDfjqTiBk/SlBydxKbyhI/AAAAAAAALBQ/d5H-Za1yE8o/s400/thieu%26kissinger.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;Nếu trước kia Tổng Thống Nixon đã thật lòng đưa ra lời hứa chắc chắn như vậy, không có một hậu ý quanh co ngoằn ngoèo nào, thì sau đó với một anh chàng Kissinger mà ông chưa từng quen biết nhưng vì áp lực từ sự vận động của cánh Do Thái sau khi ông đắc cử, ông đã trở nên bớt nhiệt tình hơn nhiều đối với những gì mà ông đã long trọng cam kết với ông Thiệu.&lt;br /&gt;Nhiều cuộc tranh luận gay gắt đã xảy ra trong những cuộc thăm viếng sau đó, và ông Thiệu đã phải can thiệp thẳng với Nixon để cho thơ từ công văn của ông, thường không được hồi âm, nay phải được tới tay ông Nixon mà không đi qua sự kiểm duyệt của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ. Dã tâm của Kissinger, một con người mà ai cũng cho là “bạn”, là “tri kỷ”, sau đó được phát giác tiết lộ ra là: xuyên qua một đệ tam nhân, ông đã có những lời hứa hẹn cũng như thi hành những cam kết không đồng nhứt với từng nhân vật cùng có trách nhiệm trong công tác ngăn chận bước tiến của Cộng Sản Bắc Việt trên bán đảo Đông Dương, như Hoàng Thân Souphana Phouma, Thống Chế Lon Nol và Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.&lt;br /&gt;Thế nhưng, vụ việc gây nhiều tai tiếng “Watergate” đã đưa Nixon ra khỏi Nhà Trắng đồng thời giết chết cả thân thế và sự nghiệp chính trị của ông ta, dẫn đến hậu quả tai hại là những gì ông Nixon đã cam kết, dù là trên giấy trắng mực đen, đã không còn một chút giá trị nào nửa. Và sau đó, vào tháng 8-1973, Thượng Viện Hoa Kỳ đã bỏ phiếu thuận cho tu chính án “Case-Church” nhằm cắt hết ngân khoản dành cho mọi viện trợ quân sự cho các quốc gia Đông Nam Á.&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://4.bp.blogspot.com/_2qPDfjqTiBk/SlB2Km3zBeI/AAAAAAAALBw/CSwPHsLMtxA/s1600-h/nixon-2.jpg" target="_blank"&gt;&lt;img style="text-align: center; height: 233px;" src="http://4.bp.blogspot.com/_2qPDfjqTiBk/SlB2Km3zBeI/AAAAAAAALBw/CSwPHsLMtxA/s400/nixon-2.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;Cộng Sản tiến chiếm miền Nam qua hai cửa ngỏ chính:&lt;br /&gt;Cam Bốt và Lào&lt;br /&gt;Do vậy, việc Mỹ chánh thức hứa giúp thành lập và trang bị quân đội Cam Bốt với quân số 205,000 người phải được hủy bỏ. Hình thành được việc nầy sẽ giúp cho Cam Bốt chẳng những có thừa khả năng dẹp được lực lượng Khmer Đỏ (tất cả cán bộ khung đều là bộ đội Bắc Việt) mà còn lập lại được trật tự trong nước, đuổi các sư đoàn Bắc Việt ra khỏi lãnh thổ Cam Bốt nữa, vì chính các đơn vị xăm lăng Bắc Việt nầy đã tạo ra không khí cách mạng bất ổn ở nông thôn Cam Bốt, sau đó Hoàng Thân Shianouk đã phải thoái vị và nước Cộng Hòa Khmer ra đời.&lt;br /&gt;Điều đáng tiếc là ở Cam Bốt cao trào của giới trẻ mà người ta gọi là “những anh lính chiến giờ thứ 24” đang lên vùn vụt, trong số nầy có những sinh viên và học sinh lớp 5 lớp 6, tình nguyện ra mặt trận, chiến đấu rất anh dũng bằng vũ khí tịch thu được của quân ngoại xâm Bắc Việt. Những người “Khmer Tự Do” nầy (Khmer Krom) đã học và tiêm nhiễm lịch sử Pháp, rất tự tin và đặt hết lòng tin vào lời hứa của Hoa Kỳ, đã nhất tề đứng dậy khi tổ quốc lâm nguy, y như người Pháp chúng ta trong những biến cố cách mạng trong lịch sử vậy. Trong lúc đó tại Thượng Viện Hoa Kỳ, nghị sĩ Fulright lại tuyên bố là cuộc chiến ở Cam Bốt là một “cuộc chiến vô đạo đức!” Với một ít ngân khoản vụn vặt du di được đâu đó, chánh phủ Hoa Kỳ “nhỏ từng giọt” giúp cho Cam Bốt, trong khi những sư đoàn Bắc Việt ồ ạt viện trợ đúng mức cho các đơn vị “Khmer Đỏ” đang thành lập, càng ngày càng lớn mạnh thêm lên. Do đó quân lực Cộng Hòa Khmer bị tiêu hao lần lần để đi đến sụp đổ, và ngày 1-4-75, Thống Chế Lon Nol phải “chạy” khỏi thủ đô Cam Bốt, sau đó Phnom Penh bị thất thủ vào ngày 10-4-75. Cũng trong thời gian nầy, nỗ lực thành lập một chánh phủ “liên hiệp 3 thành phần” tại Vương Quốc Lào bị thất bại và Cộng Sản Pathet Lào lên nắm chánh quyền, tuyên bố không chấp nhận sự có mặt của người Mỹ tại đây.&lt;br /&gt;Người ta thường hay nói chiến tranh ở Việt Nam chỉ là một cuộc nội chiến, rất hạn chế giữa người Việt và người Việt mà thôi. Nhưng đến cuối cùng sự thật cho thấy không phải như vậy. Cam Bốt là mục tiêu chủ yếu, là bàn đạp quan trọng hàng đầu để từ đó Cộng Sản tiến chiếm miền Nam Việt Nam, và theo quan điểm từ đầu của Hà Nội thì mục tiêu không phải chỉ có miền Nam Việt Nam mà phải là toàn bộ bán đảo Đông Dương, vì đó mới là giấc mơ thật sự từ lâu của Hồ Chí Minh.&lt;br /&gt;Việc chiếm giữ các tỉnh miền Đông của cả hai quốc gia Lào và Cam Bốt là chỉ nhằm dọn đường cho công tác tiếp vận của quân đội Bắc Việt. Sau khi Hiệp Định Paris 1973 được ký kết, trong thời gian hơn một tháng, hệ thống đường mòn thường gọi là “đường mòn Hồ Chí Minh” được họ cải tiến, mở rộng và trải đá suốt cả tuyến đường, để từ Hà Nội, Bắc Việt có thể đưa quân lính, chiến cụ, đạn dược cũng như xăng nhớt, đến một nơi chỉ còn cách Sài Gòn dưới 100 cây số (Lộc Ninh) mà chỉ mất trên dưới có 5 ngày đường. Các sư đoàn Bắc Việt đóng quân thường xuyên dọc theo biên giới Lào và Cam Bốt, trên các cao điểm từ Bắc xuống Nam, từ đó lúc nào cũng sẵn sàng tấn công xuống Miền Nam Việt Nam, một lãnh thổ quá dài mà bề ngang quá hẹp, có đoạn dưới 100 cây số tính từ miền núi xuống đến biển, nên thủ đô Việt Nam Cộng Hòa luôn bị đe dọa vì Sài Gòn chỉ cách biên giới Lào-Khmer không quá 100 cây số ngàn, cũng giống y như hiệp ước đình chiến 1919 của nước Pháp chúng ta đã “bị” để cho các đơn vị Đức đóng quân ở vùng Aisne và La Marne vậy.&lt;br /&gt;Ngày 10-4 thủ đô Phnom Penh bị thất thủ, ở Vientiane thì một chánh phủ Cộng Sản đã lên cầm quyền, trong khi Vùng I và Vùng II của Việt Nam Cộng Hòa cũng đã bị rơi vào tay Bắc Việt, như vậy Hà Nội được quá rảnh tay để sẵn sàng đưa quân tràn xuống vùng đồng bằng sông Cửu Long.&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://2.bp.blogspot.com/_2qPDfjqTiBk/SlBz0k955eI/AAAAAAAALBY/E1crvzFyTHQ/s1600-h/viet112.jpg" target="_blank"&gt;&lt;img style="text-align: center; height: 263px;" src="http://2.bp.blogspot.com/_2qPDfjqTiBk/SlBz0k955eI/AAAAAAAALBY/E1crvzFyTHQ/s400/viet112.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;Hoa Kỳ sẽ không can thiệp nữa&lt;br /&gt;Nhưng vẫn còn một yếu tố chưa biết rõ được: đó là phản ứng của Hoa Kỳ. Trước đó, ngày 21-3-75, chánh phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Bắc Việt), trong một bản tuyên bố, đã yêu cầu chánh phủ Hoa Kỳ chấm dứt tất cả mọi dính líu quân sự và mọi hành động can thiệp vào việc nội bộ của Miền Nam Việt Nam. Ngày 25-3-75, Tổng Thống Ford gởi đến Sài Gòn tướng Weyand, Tham Mưu Trưởng Lục Quân Hoa Kỳ. Tướng Weyand có vẻ thuận cho một hành động tiếp ứng tuy hơi muộn nhưng hữu hiệu bằng cách cho lệnh thiết lập hai cầu không vận Bangkok-Saigon và Manila-Saigon, để kịp tiếp vận cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Ngày 3-4-75, trong một cuộc họp báo, Tổng Thống Ford tuyên bố là ông sẽ không bỏ rơi Đông Nam Á. Ông nói không nhất thiết ông Thiệu phải rời khỏi chánh quyền, nhưng ông cũng bảo đảm thêm rằng cho dù có một sự thay đổi nào đó của cấp lãnh đạo Việt Nam Cộng Hòa thì sự việc đó cũng không thay đổi được nỗ lực của Hoa Kỳ tại Sài Gòn.&lt;br /&gt;Ngày 10-4-75, ngay lúc Phnom Penh thất thủ, trong bài diễn văn đọc trước Quốc Hội, Ông cho biết là ông có ý định tiếp tục cuộc chiến ở Việt Nam, và tiếp tục ủng hộ chánh phủ Thiệu. Ông đề nghị với Quốc Hội một ngân khoản viện trợ quân sự 722 triệu đô la, và một ngân khoản viện trợ kinh tế là 250 triệu. Các nghị sĩ Stevenson, Humphrey, Jackson, Mc Govern và Kennedy đều chống lại đề nghị nầy. Gần như Quốc Hội Hoa Kỳ đã mặc nhiên bỏ rơi cả ông Ford. Thế là hết ! Hoa Kỳ sẽ không can thiệp, và những quốc gia đã từng ký tên bảo đảm cho việc thi hành Hiệp Định Paris 1973 cũng giữ một sự im lặng hoàn toàn! Còn nước Pháp thì xuyên qua lời tuyên bố của Tổng Trưởng Ngoại Giao tại Dublin, trước một số ngoại trưởng phần đông đều không muốn chen sâu vào việc nội bộ của một nước khác, thì lại tỏ ý muốn thấy Tướng Thiệu rút lui, một điều rất trùng hợp với sự mong muốn của Cộng Sản Bắc Việt, vì dưới con mắt của họ Tướng Thiệu là biểu tượng của một tinh thần chống Cộng cực đoan, chống đến giọt máu cuối cùng.&lt;br /&gt;Như vậy là thật sự Bắc Việt nay đã được rảnh tay trong hành động rồi. Họ đã được bảo đảm là Hoa Kỳ sẽ không còn can thiệp được nữa. Họ cũng đã thấy một sự tán thành ngấm ngầm của các nước khác, không những trong khối Cộng Sản mà còn có cả các quốc gia cấp tiến, tự do nữa, trong đó dĩ nhiên là có cả nước Pháp. Với tất cả mọi điều kiện thuận lợi chánh trị và quân sự như thế, Bắc Việt quyết định cho tiến hành ngay “chiến dịch Hồ Chí Minh”, không cần phải mất thêm thời gian chờ thành lập một “chánh phủ ba thành phần”, để nhanh chóng thôn tính cả bán đảo Đông Dương trên cả hai phương diện quân sự và chánh trị.&lt;br /&gt;Đúng như họ tuyên bố đây là một cơ hội ngàn năm mới chỉ có một lần !&lt;br /&gt;Vậy liệu người ta có nghi ngờ là người Mỹ đã phản bội đồng minh ? Nhân vật chính yếu liên can trong nội vụ là Tổng Thống Thiệu, người biết rõ nhiều về những lời hứa hẹn, cam kết, và thi hành. Ông đã công khai nêu rõ trước dư luận mà Hoa Kỳ không dám có một tiếng trả lời, có chăng chỉ là những lời an ủi cam kết quá muộn màng của một mối tình bạn bè, một mối tình loại “qua đường!”&lt;br /&gt;Ông Thiệu là người không muốn chơi trò người hùng, cũng không thích biểu tình hoan hô rầm rộ, nhưng rất nhạy cảm với lòng tin tưởng sâu đậm của đồng bào miền Nam, bây giờ ván bài đã ngã ngũ, ông đã thua cả về chánh trị lẫn quân sự, nên ông quyết định phải rời quê hương mà ông đã từng hiến dâng tất cả. Với một tâm hồn chết lặng ông nói lên những lời từ biệt cuối cùng. Những lời lẽ thật cảm động của ông được truyền đi trên đài phát thanh làm cho những người dù cứng lòng đến đâu cũng phải nhỏ lệ, ngay những người đã từng muốn ông phải từ chức cũng vậy. Ông ra đi, mang theo sự tin yêu và lòng mến phục của dân chúng miền Nam mà từ đây không có ông, họ sẽ cảm thấy mất mát một cái gì ... &lt;span style="font-weight: bold;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://1.bp.blogspot.com/_2qPDfjqTiBk/SlB08k5M8JI/AAAAAAAALBg/ypeyf7iCf88/s1600-h/thieuapril.jpg" target="_blank"&gt;&lt;img style="text-align: center; height: 300px;" src="http://1.bp.blogspot.com/_2qPDfjqTiBk/SlB08k5M8JI/AAAAAAAALBg/ypeyf7iCf88/s400/thieuapril.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;Đối với người Mỹ, ông đã có những sỉ vả thật dữ dội và nặng nề:&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;-Tôi đã nói với họ (Hoa Kỳ) rằng: Các ông muốn rút chân ra khỏi cuộc chiến ở Việt Nam trong danh dự, mà các ông đòi hỏi chúng tôi những điều thật vô lý không thể làm được chút nào. Đánh giặc mà viện trợ quân sự cứ nay bị cắt mai bị xén mốt bị cúp mãi như thế, thì có khác nào chỉ cho tôi mỗi ngày có 3 đồng mà bảo tôi phải ăn tiêu như một ông hoàng hay một người khách du lịch sang trọng! Các ông muốn chúng tôi hôm nay với một “xu ăn mày” phải làm được những gì mà ngày hôm qua các ông không sao làm được với ngân khoản 6 tỷ đô la ...! Tôi đã nói với họ rằng câu hỏi duy nhất hiện giờ là liệu Hoa Kỳ có quyết định giữ những gì mà Hoa Kỳ đã cam kết với Việt Nam Cộng Hòa hay không? Và liệu những lời nói và chữ ký của Tổng Thống Hoa Kỳ còn có chút giá trị gì nữa hay không&lt;/span&gt;!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;Thế là quá rõ, Hoa Kỳ thật sự đã phản bội.....&lt;br /&gt;Ngạo mạn và ngu xuẩn, lưỡng viện Hoa Kỳ đã nói lên sự vui mừng của họ về sự từ chức của ông Thiệu, vì họ nghĩ nhờ đó sẽ có khả năng “đạt được một nền hòa bình nào đó trong thương lượng” với Cộng Sản, trong giới hạn một thời gian nào đó, “với đường lối chánh trị mềm dẻo hơn, để làm giảm đi những chết chóc vô ích, và nhất là để bảo vệ cho những người Mỹ hiện còn tại miền Nam Việt Nam”. Nước Pháp cũng có một thái độ tương tự, vì hoàn toàn không nắm vững được tình hình và cũng vì quyền lợi của chính nước Pháp. Đối với Hoa Kỳ, trên thế giới nầy tất cả đều có thể bị mất hết, chỉ riêng có người công dân Mỹ, được coi như thần thánh, là không thể mất được.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngũ Giác Đài không chấp nhận như vậy&lt;br /&gt;Các cấp chỉ huy quân sự của Ngũ Giác Đài cũng như các cấp quân nhân đã từng tham chiến bên cạnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa không đồng ý về những hành động của Hoa Kỳ, vì tình cảm gắn bó với người chiến hữu Việt Nam cũng như gắn bó với quốc gia nầy, giống như người Pháp chúng ta vậy. Họ có cố gắng thử giúp đỡ cho Việt Nam một cái gì đó, nhưng người ta đã ngăn cấm họ. Họ chỉ còn có một cách là càu nhàu, và sự hằn thù trong căm lặng nầy mãi mãi sẽ là một yếu tố của tình trạng phân hóa tại Hoa Kỳ.&lt;br /&gt;Bốn năm trước đó, dựa theo bản tuyên ngôn Guam của Tổng Thống Nixon, Ngũ Giác Đài đã soạn thảo một quan niệm mới cho chiến lược ở Á Châu. Bây giờ thì bắt buộc họ phải duyệt xét lại để giảm bớt khả năng tiềm lực quân sự của Hoa Kỳ: đó là bỏ cả các căn cứ ở lục địa Á Châu và các quốc gia đồng minh “nhược tiểu”, dùng Nhật Bản và Úc Châu như những pháo đài phòng thủ cho lục địa Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương. Dầu sao, theo họ nói, đó là một quyết định cấp quốc gia mà họ là những người chịu trách nhiệm, không thể cưỡng lại được: “quân nhân chúng tôi trước quyết định như vậy không thể làm gì hơn là phải thi hành, dù dư luận Mỹ có cho rằng Hoa Kỳ không nên sửa đổi chiến lược như vậy.”&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://3.bp.blogspot.com/_2qPDfjqTiBk/SlB1vGrA_hI/AAAAAAAALBo/UHKf5k4s75U/s1600-h/200px-Gen_William_C_Westmoreland.jpg" target="_blank"&gt;&lt;img style="text-align: center; height: 250px;" src="http://3.bp.blogspot.com/_2qPDfjqTiBk/SlB1vGrA_hI/AAAAAAAALBo/UHKf5k4s75U/s400/200px-Gen_William_C_Westmoreland.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;Hoa Kỳ đã không làm đúng lời hứa của họ. Họ đã phản bội những người mà chính họ đã đưa vào cuộc chiến, một cuộc chiến mà họ chẳng những phải tốn quá nhiều đô la mà còn phải hy sinh gần 60 ngàn quân nhân các cấp (chưa tính thương binh) để chỉ đem về một “con số không” to tướng. Nói như thế có gì quá đáng lắm không?&lt;br /&gt;Tướng Westmoreland, cựu chỉ huy trưởng lực lượng Mỹ tại Việt Nam thì phát biểu có phần nào nhẹ lời hơn cho Hoa Kỳ, nhưng cũng đã quy trách nặng nề cho giới chánh trị về hành động làm mất hết danh dự của Mỹ&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt; &lt;span style="font-style: italic;"&gt;“Miền Nam Việt Nam phải chăng không thể tránh được một sự chiến bại? Vâng, đúng như vậy. Nhưng chúng ta phải xét lại tình hình: Bắc Việt đã vi phạm hoàn toàn Hiệp Định Paris 1973, Hoa Kỳ hoàn toàn bất lực trên phương diện chánh trị, và các quốc gia có nhiệm vụ bảo đảm việc thi hành Hiệp Định thì hoàn toàn im lặng không nhúc nhích.”&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;Người ta phải nhìn những cảnh cướp xe, hôi của, dọn sạch nhà cửa, phòng ốc hay kho tàng của người Mỹ tại Sài Gòn, thì mới thật sự thấy được mức độ thù ghét Hoa Kỳ của cả một dân tộc. Người ta phải nhìn cảnh ông Martin, Đại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam lúc rời khỏi Việt Nam sau khi cho di tản xong xuôi người Mỹ cuối cùng, thì mới thấy được cả một sự thẹn thùng nhục nhã của Hoa Kỳ trên nét mặt xanh xao như người chết của ông. Và người ta cũng phải nhìn thấy cảnh một người Việt Nam kéo lê bằng hai ngón tay lá cờ Mỹ to lớn của tòa Đại Sứ Mỹ để dìm xuống rạch những “50 sao và 13 vạch” mà người Mỹ thường hãnh diện.&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;&lt;br /&gt;Tổng Thống Hoa Kỳ, Ông Ford, đã từng nói: “&lt;span style="font-style: italic;"&gt;Chúng tôi không thể bỏ được những người bạn của chúng tôi.”&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;Nhưng nói là nói như vậy, mà họ lại không làm đúng như vậy!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tác giả: Vanuxem, cựu Trung Tướng Quân Lực Pháp&lt;br /&gt;Phỏng dịch: Cựu Đại Tá Dương Hiếu Nghĩa&lt;br /&gt;&lt;a href="http://1.bp.blogspot.com/_2qPDfjqTiBk/SlBx83bfn_I/AAAAAAAALBI/CIfi5rINSbk/s1600-h/nohonor.jpg" target="_blank"&gt;&lt;img style="text-align: center; height: 259px;" src="http://1.bp.blogspot.com/_2qPDfjqTiBk/SlBx83bfn_I/AAAAAAAALBI/CIfi5rINSbk/s400/nohonor.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tổng thống Nixon từng đe dọa “cắt đầu” Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu&lt;br /&gt;Wednesday, June 24, 2009&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nguồn: BBCVietnamese.com&lt;br /&gt;'Tôi không rõ đe dọa đó có đủ hay không, nhưng tôi sẵn sàng làm bất cứ điều gì, kể cả cắt đầu của y nếu cần thiết'. (Lời Tổng thống Nixon đe dọa Tổng thống Thiệu).&lt;br /&gt;***&lt;br /&gt;Các cuốn băng ghi âm từ năm 1973 được giải mật cho thấy Tổng thống Richard Nixon đã muốn đạt được thỏa thuận tại Hòa đàm Paris với Hà Nội bằng mọi giá và gây sức ép rất lớn đối với Sài Gòn.&lt;br /&gt;Một đoạn băng trong số 150 giờ thu âm và 30 nghìn trang tài liệu được Thư viện Nixon công bố hôm thứ Ba vừa qua có lời của Tổng thống Nixon nói với Cố vấn An ninh Henry A. Kissinger về Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.&lt;br /&gt;Nixon nói để bắt Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa ký vào hòa đàm, ông sẵn sàng 'cắt đầu y nếu cần thiết' (cut off his head if necessary).&lt;br /&gt;Bài của Shaun Tandon trên AFP hôm 23 tháng 06 thì mô tả ông Nixon đã yêu cầu ông Kissinger nói với Tổng thống Việt Nam Cộng hòa rằng Quốc hội Mỹ sẽ cắt viện trợ nếu Sài Gòn không đồng ý với kết quả hòa đàm.&lt;br /&gt;Nhưng có vẻ như ông Nixon sẵn sàng làm mạnh hơn nếu lời đe dọa cắt viện trợ không đạt mục đích.&lt;br /&gt;Các đoạn băng cũng cho thấy một thứ ngôn ngữ rất 'Kissinger' mà Cố vấn An ninh của Tổng thống Hoa Kỳ dùng để nói về đồng minh.&lt;br /&gt;Ông Kissinger nói với Tổng thống về Ngoại trưởng Trần Văn Lắm của Nam Việt Nam, người có mặt khi đó tại Paris để dự họp.&lt;br /&gt;Dùng từ tục để gọi ông Lắm là 'an ass', ông Kissinger nói ' Y cũng chẳng làm được gì cả đâu'.&lt;br /&gt;Cũng chỉ tháng trước, ông Nixon đã tiếp Ngoại trưởng Nam Việt Nam và hứa sẽ 'làm tất cả để giúp Nam Việt Nam' và 'nền độc lập' của nước này.&lt;br /&gt;Ông Nixon còn nói: 'Điều chính yếu là cần phải nhớ: chúng tôi biết ai là những người bạn thực thụ'.&lt;br /&gt;Nhà nghiên cứu về Nixon, ông Ken Hughes từ đại học Virginia nói ông bị chấn động khi nghe đoạn ghi âm mà ông Nixon nói về ông Thiệu.&lt;br /&gt;Báo New York Times 23/06/2009 trích lời ông Hughes, người nghiên cứu các băng ghi âm của nhiều tổng thống Mỹ, nói cuộc đàm thoại trên càng làm ông tin tưởng vào quan điểm rằng cả ông Nixon, ông Thiệu và ông Kissinger đều biết trước rằng cuộc ngưng bắn không thể duy trì nổi.&lt;br /&gt;Đó cũng chẳng phải là 'hòa bình trong danh dự' như ông Nixon mô tả, mà chẳng qua chỉ là cách để Hoa Kỳ rút khỏi cuộc chiến mà 'không mất mặt'.&lt;br /&gt;Vẫn các báo Mỹ trích lời Ken Hughes tin rằng các nhân vật trong cuộc biết rằng Bắc Việt Nam sẽ vi phạm thỏa thuận ngưng bắn và tiến chiếm miền Nam.&lt;br /&gt;Các đoạn băng được ghi bằng các microphone mật đặt trong Phòng Bầu Dục từ tháng 1 đến tháng 2/1973.&lt;br /&gt;Theo New York Times, các cuốn băng rọi thêm ánh sáng vào một giai đoạn quan trọng trong lịch sử Mỹ, gồm cả lễ đăng quang lần thứ nhì của Tổng thống Nixon, cuộc ngưng bắn tại Việt Nam, vụ xử bảy người đột nhập vào trụ sở đảng Dân chủ tại khu nhà Watergate.&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4128474229374807245-8910512893186645834?l=thoisukynguyen2000.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</description><link>http://thoisukynguyen2000.blogspot.com/2009/07/hoa-ky-quyet-inh-e-cho-mien-bac-xam.html</link><author>noreply@blogger.com (Thoi Su Ky Nguyen 2000)</author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://2.bp.blogspot.com/_2qPDfjqTiBk/SlBt8BMnemI/AAAAAAAALA4/YDtTGnDex3Y/s72-c/nixon_china_0330.jpg' height='72' width='72'/><thr:total xmlns:thr='http://purl.org/syndication/thread/1.0'>0</thr:total></item><item><guid isPermaLink='false'>tag:blogger.com,1999:blog-4128474229374807245.post-7893440565619484127</guid><pubDate>Fri, 03 Jul 2009 16:14:00 +0000</pubDate><atom:updated>2009-07-03T09:41:33.010-07:00</atom:updated><category domain='http://www.blogger.com/atom/ns#'>JEFFERSON-TÁC GIẢ BẢN TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP HOA KỲ</category><title>THOMAS JEFFERSON-TÁC GIẢ BẢN TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP HOA KỲ</title><description>&lt;p style="text-align: center;" class="MsoNormal"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-size: 13.5pt; color: red;"&gt;THOMAS JEFFERSON (1743 - 1826 )&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;&lt;p style="text-align: center;" class="MsoNormal"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-size: 13.5pt; color: red;"&gt; TÁC GIẢ BẢN TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP HOA KỲ&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;   &lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-size: 13.5pt; color: black;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;a href="http://images.google.com/imgres?imgurl=http://harryallen.info/wp-content/uploads/2008/07/thomas-jefferson-big.jpg&amp;amp;imgrefurl=http://harryallen.info/%3Fm%3D200807%26paged%3D2&amp;amp;usg=__INqVb3cgL8D3OtpQsAjVIx0nYDc=&amp;amp;h=472&amp;amp;w=516&amp;amp;sz=160&amp;amp;hl=en&amp;amp;start=1&amp;amp;um=1&amp;amp;tbnid=HxP-qbUOit_faM:&amp;amp;tbnh=120&amp;amp;tbnw=131&amp;amp;prev=/images%3Fq%3DTHOMAS%2BJEFFERSON%26hl%3Den%26client%3Dfirefox-a%26rls%3Dorg.mozilla:en-US:official%26sa%3DN%26um%3D1"&gt;&lt;img style="border: 1px solid ;" src="http://tbn2.google.com/images?q=tbn:HxP-qbUOit_faM:http://harryallen.info/wp-content/uploads/2008/07/thomas-jefferson-big.jpg" width="131" height="120" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;span style="text-decoration: underline;"&gt;    &lt;/span&gt;&lt;a href="http://images.google.com/imgres?imgurl=http://thefairnessindoctrine.files.wordpress.com/2009/06/thomas-jefferson-statue2.jpg&amp;amp;imgrefurl=http://thefairnessindoctrine.wordpress.com/2009/06/15/if-you-dont-know-what-it-was-that-made-you-successful-youll-never-know-what-made-you-fail/&amp;amp;usg=__J1OxUI00pmHwl7WlPQvFQhcKl-c=&amp;amp;h=510&amp;amp;w=430&amp;amp;sz=94&amp;amp;hl=en&amp;amp;start=30&amp;amp;um=1&amp;amp;tbnid=NHZz3CQyvy3dtM:&amp;amp;tbnh=131&amp;amp;tbnw=110&amp;amp;prev=/images%3Fq%3DTHOMAS%2BJEFFERSON%26ndsp%3D20%26hl%3Den%26client%3Dfirefox-a%26rls%3Dorg.mozilla:en-US:official%26sa%3DN%26start%3D20%26um%3D1"&gt;&lt;img style="border: 1px solid ;" src="http://tbn3.google.com/images?q=tbn:NHZz3CQyvy3dtM:http://thefairnessindoctrine.files.wordpress.com/2009/06/thomas-jefferson-statue2.jpg" width="110" height="131" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;img style="cursor: -moz-zoom-in; width: 328px; height: 389px;" alt="http://vietsciences.free.fr/lichsu/images/declaration_of_independence.jpg" src="http://vietsciences.free.fr/lichsu/images/declaration_of_independence.jpg" /&gt;&lt;/p&gt;   &lt;b&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 112, 192);"&gt;&lt;a rel="nofollow" target="_blank" href="http://www.vantuyen.net/?view=author&amp;amp;id=2380"&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 112, 192); text-decoration: none;"&gt;Phạm Văn Tuấn&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 112, 192);"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-size: 13.5pt; color: black;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; color: black;"&gt;Ông Thomas Jefferson là một nhà ngoại giao, một nhà lý thuyết chính trị, vị sáng lập ra Đảng Dân Chủ Hoa Kỳ nhưng ông được ghi nhớ do chức vụ Tổng Thống thứ ba của Hoa Kỳ và ông cũng là tác giả “Bản Tuyên Ngôn Độc Lập”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ông Thomas Jefferson đã tin tưởng rằng “những người nào chịu khó lao động trên mặt đất là những người được Thượng Đế chọn lựa”. Xã hội lý tưởng của ông vào thời đại đó là một quốc gia gồm các chủ trại sinh hoạt dưới sự kiểm soát tối thiểu của chính quyền. Ông Thomas Jefferson tin tưởng rằng đa số người dân có thể tự quản và nên giữ cho chính quyền vừa đơn giản, vừa ít phí phạm. Do lòng yêu chuộng Tự Do, ông đã tranh đấu cho các nền tự do ngôn luận, báo chí, tôn giáo và các tự do dân sự khác. Ông mạnh dạn ủng hộ việc thêm vào Hiến Pháp Hoa Kỳ đạo luật Dân Quyền (the Bill of Rights).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong hai nhiệm kỳ Tổng Thống của ông Jefferson, lãnh thổ Hoa Kỳ đã tăng gấp hai diện tích nhờ mua lại vùng đất Louisiana và Hoa Kỳ đã ở vị thế trung lập trong khi các đạo quân của Napoléon đánh chiếm nhiều nơi tại châu Âu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ông Thomas Jefferson còn có nhiều tài năng đặc biệt khác. Ông là một trong các vị kiến trúc sư hàng đầu của thời đại. Chính ông vẽ kiểu cho Điện Capitol của thủ phủ tiểu bang Virginia, vẽ đồ án cho trường Đại Học UVA (University of Virginia) và họa đồ tòa dinh thự Monticello của ông. Ông cũng chơi giỏi đàn vĩ cầm trong các ban nhạc thính phòng và do quý trọng bộ môn Hội Họa, ông đã thu xếp để nhà điêu khắc lừng danh người Pháp Jean Houdon tới Hoa Kỳ nặn tượng cho ông George Washington.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngoài ra ông Thomas Jefferson còn là Chủ Tịch của Hội Triết Học Mỹ Quốc (the American Philosophical Society), một tổ chức bao gồm nhiều công cuộc khảo cứu Khoa Học và Văn Hóa. Bộ sưu tập 6,400 cuốn sách của ông đã là phần chính của Thư Viện Quốc Hội thời đó.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ông Thomas Jefferson là một luật gia xuất sắc, đã đề nghị nhiều đạo luật hữu ích, viết ra nhiều tác phẩm với tinh thần của một công dân cởi mở, thực tiễn, hướng về đại chúng. Chính nhờ ông mà hiện nay tại Hoa Kỳ, hệ thống tiền tệ theo cách tính thập phân được sử dụng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày nay, mọi công dân Hoa Kỳ thụ hưởng được rất nhiều điều tốt lành phần lớn là do lòng tận tụy của ông Thomas Jefferson đối với các nhân quyền (human rights). Chính ông Thomas Jefferson đã hoạch định một loại chính quyền mà 37 năm về sau, trong bài Diễn Văn tại Gettysburg, ông Abraham Lincoln đã mô tả chính quyền Hoa Kỳ phải là “của Dân, do Dân và vì Dân”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;1- Thuở thiếu thời tại Virginia.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cậu Thomas Jefferson chào đời ngày 13 tháng 4 năm 1743 tại Shadwell, một miền đất đỏ phía tây của hạt Albemarle, Virginia, gần ngọn đồi mà sau này có tòa nhà Monticello. Cha của cậu, ông Peter Jefferson, là một người đo đất có gốc tổ tiên miền Welsh, còn bà mẹ, Jane Randolph, thuộc một gia đình quý tộc cổ của miền Virginia. Thomas là người con thứ ba và là con trai lớn của gia đình gồm 4 trai 6 gái. Phần lớn những người anh chị em này đã chết khi tuổi còn thơ. Thomas đã trải qua 7 năm trong số 9 năm đầu tiên tại Tuckahoe, một nông trại của gia đình Randolph bên bờ sông James, gần Richmond, tiểu bang Virginia.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm Thomas lên 9 tuổi, gia đình Jefferson dọn trở về Shadwell và tại nơi này, cậu Thomas đã tập đọc và tập viết tại trường học và cậu cũng được cha dạy kèm. Ông Peter đã dạy cho con học cách câu cá, cách săn bắn gà lôi rừng (wild turkeys), săn hươu nai gần dòng sông Rivanna cùng cách cưỡi ngựa. Cậu Thomas cũng học kéo đàn vĩ cầm và biết yêu chuộng âm nhạc từ dạo đó.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi Thomas được 14 tuổi, ông Peter qua đời. Cậu Thomas trở nên gia trưởng vì là con rai lớn trong nhà. Cậu thừa hưởng hơn 1,000 mẫu đất cùng với hơn 20 người nô lệ, trong khi gia sản do người quản gia tên là John Harvie trông nom.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;2- Học vấn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cậu Thomas Jefferson bắt đầu đi học từ khi được 5 tuổi rồi khi lên 9 tuổi, vào ở nội trú trong trường học điều khiển do Mục Sư William Douglas, một vị tu sĩ gốc Tô Cách Lan. Về sau, cậu Thomas còn ghi nhớ rằng các loại bánh nướng trái cây (pies) của ông Douglas ngon tuyệt vời và các bài giảng của ông cũng rất xuất sắc, ngoại trừ về văn học cổ điển.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngoài các môn học thông thường, cậu Thomas còn được học về tiếng La Tinh, tiếng Hy Lạp, tiếng Pháp. Sau khi cha chết, Thomas theo học ngôi trường gần Charlottesville của Mục Sư James Maury, một tu sĩ theo Anh Cát Giáo và cũng là một học giả. Cậu được huấn luyện về lòng nhân đạo và về niềm tin vào Thượng Đế nhưng cậu không hoàn toàn tin tưởng vào một tổ chức tôn giáo nào.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; color: black;" lang="EN-US"&gt;Năm 1760, vào tuổi 16, Thomas Jefferson theo học Đại Học Williams and Mary tại Williamsburg. Đây là thủ đô của miền thuộc địa Virginia với dân số thời đó chỉ vào khoảng 1,000 người. Thomas làm quen với xã hội thành thị và trong 2 năm trường, cậu học về Toán học, Văn chương và Triết học với Tiến Sĩ William Small, một học giả gốc Tô Cách Lan. Năm 1762, Tiến Sĩ Small đã thu xếp để Thomas Jefferson học luật với vị Thẩm Phán George Wythe, một trong các vị luật gia uyên thâm nhất của địa phương. Ông George Wythe đã gây ảnh hưởng tới Thomas Jefferson rất nhiều và chính ông Wythe sau này cũng là một trong các vị ký tên vào Bản Tuyên Ngôn Độc Lập.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhờ sự quen biết với hai ông Small và Wythe, Thomas Jefferson được giới thiệu với Thống Đốc Francis Fauquier. Bốn người này thường trải qua các buổi chiều tại tư dinh của Thống Đốc, bàn luận về thời cuộc cũng như dạo các bản nhạc thính phòng. Cũng nhân dịp này, Thomas Jefferson được gặp Patrick Henry.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong thời gian học môn Luật với Thẩm Phán Wythe, Thomas Jefferson đã quan tâm tới sự căng thẳng chính trị giữa nước Anh và các thuộc địa Bắc Mỹ. Cuộc chiến tranh Bẩy Năm (1756-63), hay còn được gọi là cuộc chiến tranh Pháp và người Da Đỏ (the French and Indian War) đã loại người Pháp ra khỏi nước Ấn Độ và lục địa Bắc Mỹ. Người Pháp đã bị người Anh thay thế và thế lực Anh đã lấn át tại phía tây bán cầu và trên các mặt biển. Nước Anh nhờ thế đã thụ hưởng được sự phát triển thương mại trên rất nhiều lãnh thổ. Năm 1760, Vua George III lên ngôi nhưng do sự bất lực của nhà Vua này, đã sinh ra các bất ổn đối với các xứ thuộc địa Bắc Mỹ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tại miền Bắc Mỹ, các doanh nhân thường buôn lậu với các kẻ địch và các quốc hội lục địa đã không cung cấp nhân lực và tiếp liệu cho chính quyền Anh trong khi số nợ nần của nước Anh đã tăng lên do việc quản trị các vùng đất mới. Để có tiền, Quốc Hội nước Anh đã thông qua Đạo Luật Tem Thuế (the Stamp Act) vào tháng 3-1765 để gia tăng lợi tức cho nước Anh. Khi đạo luật này được công bố, Thomas Jefferson đã được nghe Patrick Henry dùng lời hùng biện, đả kích sự bất công và cho rằng Quốc Hội Anh không có quyền đánh thuế các thuộc địa Bắc Mỹ. Sau này, Thomas đã kể lại rằng: “Đối với tôi, ông Henry đã nói hùng hồn giống như Thi Hào Homer đã làm thơ vậy”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1767, Thomas Jefferson được nhận vào Luật Sư Đoàn và bắt đầu hành nghề luật sư một cách khá thành công. Ông đã chia thời gian qua lại hai địa điểm là Williamsburg và Shadwell. Tại nơi sau này, ông đã vẽ kiểu và trông coi xây dựng tòa nhà Monticello trên một ngọn đồi gần đó.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thomas Jefferson cưới bà góa phụ Martha Wayles Skelton năm 1772. Bà này là con gái của ông John Wayles, một luật sư danh tiếng sống gần Williamsburg. Theo chuyện kể lại, chính nhờ âm nhạc mà ông Thomas đã chiếm được cảm tình của bà Martha vì một nhân vật khác cũng theo đuổi bà Martha đã phải bỏ cuộc khi nhìn thấy hai người hòa đàn vĩ cầm và dương cầm (harpsicord) . Sau đó, gia đình Jefferson đã an cư tại Monticello, dù cho tòa nhà lớn này chưa xây xong. Họ có 1 con trai và 5 con gái nhưng chỉ có hai người con gái sống nổi tới tuổi trưởng thành là Martha (1772-1836) và Mary (1778-1804). &lt;/span&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; color: black;"&gt;Bà Martha Jefferson qua đời năm 1782, sau 10 năm kết hôn. Ông Thomas Jefferson đã không lập gia đình nữa mà lo chăm sóc hai người con gái.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;3- Nhà chính trị thuộc địa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tháng 5 năm 1769, ông Thomas Jefferson được bầu vào Viện Lập Pháp xứ Virginia (the House of Burgesses) và đã phục vụ tại nơi này cho tới năm 1775. Ông Jefferson không phải là một nhà hùng biện nhưng đã tỏ ra là một nhà viết luật nhiều khả năng, với biệt tài dùng tiếng Anh vừa đơn giản, vừa rõ ràng mà các nhà lập pháp khác có kinh nghiệm cũng phải sớm công nhận.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong các năm còn trẻ, Thomas Jefferson đã thừa hưởng đất đai của cha để lại, gồm các miền đồi núi Piedmond thuộc xứ Virginia và do đó, đã liên lạc thường xuyên với các người quý tộc Tidewater và được chấp nhận vào giai cấp này, nhưng tư tưởng chính trị của ông Jefferson lại thiên về những người di dân gốc Đức, Ái Nhĩ Lan và Tô Cách Lan, là những kẻ khai phá các miền đất hoang thành những nông trại nhỏ. Tới khi được bầu vào Viện Lập Pháp Virginia, ông Jefferson là nhân viên trong nhóm chính trị gia gồm Patrick Henry, Richard Henry Lee và Francis Lightfoot Lee. Những nhân vật này thường tranh cãi với các nhà quý tộc Tidewater trong các buổi thảo luận về các vấn đề giữa nước Anh với các xứ thuộc địa Bắc Mỹ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào các năm về trước, việc chống đối đạo luật Tem Thuế tại các xứ thuộc địa đã khiến cho các vấn đề tài chính của nước Anh không giải quyết được. Vì vậy vào năm 1767, do sự thúc giục của Giám Đốc Ngân Quỹ Charles Townshend, Đạo Luật Townshend đã được thông qua theo đó thuế được đánh lên các món hàng như trà, giấy, thủy tinh, chì, sơn mà người thuộc địa Bắc Mỹ phải nhập cảng từ nước Anh. Để họp bàn chống lại Đạo Luật Townshend, các người yêu nước xứ Virginia thường gặp nhau tại căn phòng Apollo của nhà hàng nổi danh Raleigh Tavern thuộc thành phố Williamsburg, họ chống lại đạo luật kể trên và chủ trương không nhập cảng hàng hóa từ nước Anh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1774, việc tranh cãi với nước Anh lại dội lên. Ông Jefferson đã đứng đầu việc tổ chức chống nhập cảng và kêu gọi tất cả các xứ thuộc địa nên họp lại với nhau và cùng bày tỏ phản ứng. Ông được chọn làm đại biểu cho hạt (county) Albemarle tại Đại Hội Virginia lần thứ nhất, rồi từ đại hội này, các đại biểu của xứ Virginia được bầu ra để tham dự Quốc Hội Lục Địa thứ nhất, nhưng vì bị bệnh và không thể tham dự các buổi họp được, ông Thomas Jefferson đã gửi tới Đại Hội các bài viết nói rõ quan điểm của mình đối với cuộc khủng hoảng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thomas Jefferson đã lý luận rằng Quốc Hội Anh không có quyền kiểm soát các xứ thuộc địa Bắc Mỹ. Ông đã so sánh các người Anh đầu tiên định cư tại Mỹ Châu giống như những người Saxons đầu tiên tới nước Anh hàng trăm năm về trước, và những người Saxons này đã xuất phát từ miền đất mà ngày nay là nước Đức. Như vậy, các người định cư ban đầu khi tới châu Mỹ, đã dùng tới các quyền tự nhiên (their natural rights) của họ để di dân. Ông Jefferson cho rằng các thuộc địa hiện nay có thể trung thành với nhà Vua Anh vì họ được tự do lựa chọn sự trung thành đó. Vào thời bấy giờ, phần lớn các cư dân của xứ Virginia đã coi các quan điểm của ông Thomas Jefferson là thái quá. Các quan điểm này đã được in vào năm 1774 thành một tập sách mỏng có tên là “Quan điểm tóm lược về các quyền lợi của Bắc Mỹ thuộc Anh” (A Summary View of the Rights of British America).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; color: black;" lang="EN-US"&gt;Mùa xuân năm 1775, ông Thomas Jefferson tham dự Đại Hội Virginia thứ hai (the Second Virginia Convention). Đại Hội này đã chọn ông làm một trong các đại biểu để đi họp tại thành phố Philadelphia. Quốc Hội Virginia đã nhờ ông Jefferson trả lời một bức thư hòa bình của Lord North, vị Thủ Tướng Anh thời đó. Thủ Tướng North đã đề nghị rằng Quốc Hội Anh sẽ không đánh thuế các người định cư tại Bắc Mỹ nếu những người này chịu đánh thuế chính họ. Dù cho thư trả lời đã ôn hòa hơn là tập sách “Quan Điểm” nhưng ông Jefferson đã bác bỏ đề nghị của Thủ Tướng Anh và nhấn mạnh rằng một chính quyền phải được lập nên tại Bắc Mỹ cho các người thuộc địa và không phải cho người Anh. Sau đó, Quốc Hội Lục Địa đã chấp thuận bức thư của ông Jefferson gửi cho Thủ Tướng North.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;4- Tác giả Bản Tuyên Ngôn Độc Lập và nhà làm luật Virginia.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tại Quốc Hội Lục Địa, ông Thomas Jefferson đã là một nhân vật dẫn đầu. Sau khi cuộc Chiến Tranh Cách Mạng xẩy ra, ông Jefferson được yêu cầu thảo ra “Bản Tuyên Bố các nguyên do và sự cần thiết phải cầm lấy võ khí” (a Declaration of the Causes and Necessity of Taking up Arms). Quốc Hội sau đó đã thấy rằng bản thảo này “quá mạnh” nên đã nhờ một nhân vật ôn hòa hơn là ông John Dickinson viết ra một bản thay thế nhưng văn bản mới gồm phần lớn các quan điểm của ông Jefferson.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào mùa xuân năm 1776, ý kiến của các đại biểu Quốc Hội Lục Địa càng nghiêng về nền Độc Lập của các xứ thuộc địa Bắc Mỹ. Ngày 7 tháng 6 năm đó, Richard Henry Lee thuộc xứ Virginia đã đưa ra một bản nghị quyết nổi danh, đó là “Các Thuộc Địa Liên Hiệp này phải có quyền và phải là các xứ tự do và độc lập” (these United Colonies are, and of right ought to be, free and independent states). Sau đó, Quốc Hội Lục Địa đã chỉ định một ủy ban để soạn thảo ra Bản Tuyên Ngôn Độc Lập. Ủy Ban này gồm: Thomas Jefferson, John Adams, Benjamin Franklin, Roger Sherman và Robert Livingston. Ủy ban đồng thanh cử ông Jefferson viết ra bản thảo và đã đồng ý với rất ít thay đổi. Ngày 2 tháng 7, Quốc Hội Lục Địa bắt đầu tranh luận và Bản Tuyên Ngôn Độc Lập được chấp thuận vào ngày 4 tháng 7 năm 1776.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bản Tuyên Ngôn Độc Lập là công trình lừng danh nhất của ông Thomas Jefferson. Bản văn đó đã diễn tả được tính hùng biện với lời văn mạnh mẽ theo pháp lý, biện hộ thế đứng của cuộc Cách Mạng Hoa Kỳ. Bản văn đó cũng xác nhận niềm tin vào các quyền lợi tự nhiên của tất cả mọi người. Các ý tưởng này phần lớn không phải là mới lạ vì theo lời ông Jefferson, mục đích của ông là đặt lương tri của nhân loại vào việc cứu xét đề tài, bằng những lời văn vừa bình dị, vừa cương quyết khiến cho mọi người cùng đồng ý, và bản văn đó cũng là cách mô tả tinh thần độc lập của người Mỹ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tháng 9 năm 1776, ông Thomas Jefferson rời khỏi Quốc Hội Lục Địa và sau đó, lại phục vụ tại Viện Dân Biểu Virginia (the Virginia House of Delegates). Ông Jefferson tự nhận không có khả năng phục vụ Quân Đội trong cuộc Chiến Tranh Cách Mạng, nhưng lại có thể trở thành một nhà làm luật hữu ích. Chỉ sau 5 ngày phục vụ trong ngành lập pháp, ông Jefferson đã bắt đầu một chương trình cải cách rộng lớn, đầu tiên liên quan tới việc phân phối đất đai.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tại xứ Virginia, một số người giàu có đã chiếm giữ nô lệ và kiểm soát các vùng đất rộng lớn khiến cho việc phân phối đất đai không công bằng. Chính quyền thuộc địa địa phương lại hạn chế quyền bầu cử và giới hạn các cơ hội giáo dục. Ông Thomas Jefferson được bầu vào Hội Đồng Duyệt Xét (the Board of Revisors). Trong hai năm, ông đã xây dựng được một bộ luật mà ông hy vọng rằng sẽ xóa đi mọi cơ cấu quý tộc cổ xưa và tương lai, để đặt nền móng cho một chính phủ của nhân dân. &lt;/span&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; color: black;"&gt;Giai cấp quý tộc căn cứ vào tài sản và gia đình đã dần dần phải nhường chỗ cho “giai cấp quý tộc của tài năng và đức hạnh”, vì các đạo luật sau của ông Thomas Jefferson : (1) Đạo luật tiêu hủy luật giới hạn về thừa kế (the bill abolishing entails), (2) đạo luật tiêu hủy quyền thừa kế của con trưởng (the bill abolishing primogeniture) , (3) đạo luật tự do tôn giáo (the statute for religious freedom) nhờ đó đã bảo đảm sự tự do trí tuệ và phân cách “nhà thờ” và “quốc gia”, hủy bỏ các đặc quyền của “nhà thờ Anh Cát Giáo” (the Anglican church), giới tu sĩ không còn được hưởng lương bổng của chính quyền và người dân Virginia không còn phải đóng thuế để yểm trợ nhà thờ nữa, (4) đạo luật về giáo dục tổng quát (the bill for general education) đã cho phép mọi người, bất kể tài sản hay nguồn gốc chủng tộc, đều được hưởng nền giáo dục miễn phí. Đạo luật về giáo dục này tuy chưa được thông qua ngay, nhưng đã là nền móng cho các hệ thống trường học công lập và thư viện miễn phí của Hoa Kỳ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào các thập niên trước, chỉ những người có đất đai mới có quyền đi bầu cử nhưng nhờ các đạo luật do ông Jefferson đề xướng, các vùng đất rộng lớn được chia nhỏ ra, khiến cho nhiều người đã có đất canh tác và số người đi bầu cũng tăng lên. Ông Thomas Jefferson cũng đưa ra các đạo luật cho phép các di dân có được quốc tịch Mỹ sau khi đã sinh sống tại Virginia hai năm. Ngoài việc cứu xét lại hệ thống luật pháp của xứ Virginia và luật đất đai, ông Jefferson còn sửa đổi cả Hình Luật (Criminal Law). Ông Jefferson còn dự tính chấm dứt chế độ nô lệ nhưng ông đã không làm mạnh vì cho rằng người dân của xứ thuộc địa này chưa sẵn sàng với việc cải cách đó. Dù sao, ông Thomas Jefferson vẫn tin tưởng rằng chế độ nô lệ thì sai nhầm về luân lý và không thể tồn tại vĩnh viễn tại các xứ Bắc Mỹ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;5- Thống Đốc Tiểu Bang và Dân Biểu Quốc Hội.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong 2 năm 1779 và 1780, Quốc Hội xứ Virginia đã bầu ông Thomas Jefferson làm Thống Đốc tiểu bang 2 lần, mỗi nhiệm kỳ 1 năm. Trong thời gian nhậm chức của ông, xứ Virginia đã phải chịu đựng nhiều hậu quả nặng nề của cuộc Chiến Tranh Cách Mạng. Theo lời yêu cầu của Tướng George Washington, ông Jefferson đã lấy bớt các tài nguyên và nhân lực bảo vệ xứ Virginia để dùng trợ giúp Quân Đội Cách Mạng và trong số các nhân vật tới Virginia tuyển quân, có ông James Monroe và cũng vì thế, hai ông Monroe và Jefferson đã trở nên đôi bạn lâu năm.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1781, các đoàn quân Anh đánh chiếm xứ Virginia. Miền này đã không thể chống cự được và chính ông Jefferson cũng suýt bị bắt vào ngày 4 tháng 6 năm đó, khi các đội quân của Tướng Banastre Tarleton càn quét miền Monticello. Ngày 2 tháng 6, nhiệm kỳ thống đốc của ông Jefferson chấm dứt. Ông Jefferson bị chỉ trích là đã không thể chống cự được Quân Đội Anh và sự việc này đã làm tổn thương danh dự của ông Jefferson trong nhiều năm, dù cho một cuộc điều tra về sau đã xóa đi sự kết tội này. Sau đó, ông Thomas Nelson Jr. là vị sĩ quan đứng đầu đoàn Dân Quân của xứ Virginia đã thay thế ông Jefferson làm Thống Đốc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ông Thomas Jefferson trở lại Monticello, lòng cay đắng và đã quyết định sẽ mãi mãi từ bỏ mọi công vụ. Ông bắt đầu viết tác phẩm: “Ghi chép về Tiểu Bang Virginia” (Notes on the State of Virginia, 1784-85). Đây là cuốn sách chứa đựng rất nhiều dữ kiện của xứ Virginia và nhiều niềm tin và lý tưởng của ông Jefferson.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tháng 9 năm 1782, bà vợ Martha của ông Jefferson qua đời, đã khiến cho ông vừa điên dại, vừa rối trí. Trong nhiều tháng trường, ông Jefferson đã không cầm bút viết gì cả và nói chuyện với rất ít người quen. Ông đã nói với bạn bè về cái chết của vợ: "một sự kiện duy nhất đã xóa sạch mọi chương trình của tôi và đã đặt tôi vào một khoảng trống mà tôi không còn tinh thần nào để lấp đầy nữa".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1783, ông Thomas Jefferson được bầu vào Quốc Hội. Ông nhận nhiệm vụ này bởi vì ông cho rằng công vụ sẽ khiến cho tinh thần ông ra khỏi thảm kịch cá nhân. Trong thời gian làm việc tại Quốc Hội, ông Jefferson lại bận rộn với nhiều công việc làm luật nhưng lần này, trên tầm vóc quốc gia. Ông đã là chủ tịch của nhiều ủy ban. Ông đã viết ra nhiều bản phúc trình quan trọng như:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(1) Phúc trình về chính quyền dùng cho lãnh thổ phía Tây (On Government for the Western Territory): đây là tài liệu căn bản cho sự phát triển của Hoa Kỳ. Ngay từ đầu cuộc Chiến Tranh Cách Mạng, nhiều xứ thuộc địa đã tranh giành các miền đất thuộc phía tây của rặng núi Appalachian. Dưới sự lãnh đạo của ông Thomas Jefferson, tiểu bang Virginia đã từ bỏ việc giành đất từ năm 1784 và các tiểu bang khác cũng noi theo, nhờ đó Lãnh Thổ Tây Bắc (the Northwest Territory) đã được tạo nên. Sau đó chính quyền đã gặp các vấn đề làm sao xếp đặt và quản trị miền đất mới. Quốc Hội Hoa Kỳ thời đó đã chỉ định hai ủy ban để cứu xét các vấn đề và ông Jefferson đã là chủ tịch của cả hai ủy ban. Năm 1784, ông Jefferson đệ trình một bản dự thảo về cách tổ chức hành chính của các miền đất phía tây theo đó, toàn vùng sẽ được phân chia thành nhiều tiểu bang mới, mỗi tiểu bang sẽ được chấp nhận vào Liên Bang theo căn bản hoàn toàn bình đẳng với 13 tiểu bang nguyên thủy.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(2) Nhận xét về cách thiết lập đơn vị tiền tệ (the Notes on the Establishment of the Money Unit): bản phúc trình này đã đưa tới việc chấp nhận hệ thống thập phân hiện nay của Hoa Kỳ, gồm các loại tiền xu bằng đồng, tiền hào (dime) bằng bạc và tiền Mỹ kim (dollar). Loại tiền 5 xu (nickel) và tiền 2 mỹ kim đã không thuộc đề nghị của ông Jefferson.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngoài ra còn có các đạo luật về đất đai năm 1784 và 1785 của ông Jefferson được dùng làm căn bản cho các chính sách đất đai sau này của Hoa Kỳ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;6- Bộ Trưởng tại Nước Pháp.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào tháng 5 năm 1784, Quốc Hội Hoa Kỳ đồng ý cử ông Thomas Jefferson qua nước Pháp để tham gia cùng các ông John Adams và Benjamin Franklin trong việc thương lượng các hiệp ước thương mại. Tới năm sau, do ông Franklin từ chức Bộ Trưởng tại Pháp, ông Jefferson được lên kế tiếp chức vụ. Về sự việc này, có người đã hỏi ông Jefferson: “Có phải Ngài đã thay thế ông Franklin không? ”, thì ông Jefferson đã trả lời bằng câu: “Thưa không, tôi kế tiếp ông ấy vì không có ai có thể thay thế ông Franklin”. Thực vậy, ông Thomas Jefferson đã là người theo rất gần các đường hướng của ông Benjamin Franklin đáng kính. Ông Jefferson đã lưu lại châu Âu cho tới mùa thu năm 1789 và đã khéo léo thi hành các phương pháp ngoại giao trong hòa bình.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào thời điểm này, nước Pháp đang sôi sục vì phong trào Cách Mạng. Các người cải cách đã coi ông Thomas Jefferson là một nhân vật dẫn đầu về Tự Do vì các bài viết chính trị và những cải tiến luật pháp của ông tại xứ Virginia. Hầu Tước De Lafayette, một người đã từng chiến đấu trong cuộc chiến giành Độc Lập của Hoa Kỳ, cũng như các người ôn hòa khác, thường xin các lời khuyên của ông Jefferson nhưng ông Jefferson đã cố gắng đứng ngoài nội tình chính trị của nước Pháp. Dù thế, ông vẫn thảo ra Bản Hiến chương các Dân Quyền (Charter of Rights) đệ trình lên Vua Pháp. Văn kiện này và các tài liệu khác của ông Jefferson đã nghiêng về đường lối ôn hòa bởi vì, mặc dù có cảm tình với cuộc Cách Mạng Pháp do những nguyên nhân tương tự như cuộc Cách Mạng Hoa Kỳ, ông Jefferson nhận thấy rằng đại chúng Pháp chưa sẵn sàng với một chính phủ có nhân dân đại diện giống như tại Hoa Kỳ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi qua nước Pháp, ông Thomas Jefferson đã mang theo cô con gái Martha rồi tới năm 1787, cô Mary cũng sang theo. Cả hai cô con gái này đã theo học trường dòng tại Paris. Cũng trong thời gian phục vụ tại nước Pháp, ông Thomas Jefferson đã đi thăm nhiều nơi tại châu Âu và đã học hỏi được rất nhiều, nhất là về Canh Nông và Kiến Trúc. Ông đã quan tâm tới cách trồng lúa của người dân Ý và đã đưa lén hạt lúa giống về Hoa Kỳ để trồng tại hai xứ South Carolina và Georgia. Ông Jefferson cũng báo cho Quốc Hội Hoa Kỳ biết về sự phát minh ra máy dập (a stamping press), loại máy có thể sản xuất hàng loạt các bộ phận cơ khí. Về kiến trúc, ông Jefferson đã nghiên cứu, tìm hiểu nhiều dinh thự trong đó có Tòa Nhà Maison Carrée tại Nimes, để sau này ông vẽ nên Điện Capitol Mới tại Richmond của tiểu bang Virginia.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vì muốn làm ổn định các công việc tại Hoa Kỳ, ông Jefferson đã nộp đơn xin rời khỏi nước Pháp vào năm 1789 và ông đã xuống tầu về xứ vào tháng 10 năm đó.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;7- Chính Khách của Hoa Kỳ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong thời gian ông Thomas Jefferson công tác tại nước Pháp, mọi công dân Mỹ đều bận rộn với việc tổ chức chính quyền. Các nhà chính trị Bắc Mỹ đã hội họp vào năm 1787 và thảo ra Bản Hiến Pháp Hoa Kỳ (the Constitution of the United States). Trong thời kỳ soạn thảo, ông James Madison, một người bạn, đã gửi tới ông Jefferson một bản thảo và tuy đồng ý với các điểm nêu ra trong bản thảo này, ông Jefferson đã nhấn mạnh rằng bản văn còn thiếu phần ghi các dân quyền. Sau khi Bản Hiến Pháp được đồng thanh chấp thuận, ông James Madison đã bổ túc bằng 10 tu chính án, văn kiện này về sau trở nên Đạo Luật Dân Quyền (the Bill of Rights).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ông Thomas Jefferson cùng với hai cô con gái trở về Monticello, Virginia, trước lễ Giáng Sinh năm 1789, khi đó Bản Hiến Pháp đã được thông qua và Tổng Thống George Washington đang chờ đợi ông với chức vụ Bộ Trưởng Ngoại Giao trong Nội Các mới. Ông Jefferson đã nhận nhiệm vụ này sau một thời gian do dự.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ông Thomas Jefferson đã là vị Bộ Trưởng Ngoại Giao đầu tiên của Hoa Kỳ và trong suốt thời gian tại chức, ông Jefferson đã là trung tâm của một cơn lốc chính trị vừa phức tạp, vừa cay đắng. Sự khác biệt về chính kiến đã xẩy ra giữa ông Jefferson và ông Hamilton, Bộ Trưởng Ngân Khố và về sau, với ông John Adams.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ông Alexander Hamilton (1755-1804) sinh ngày 11-1-175l tại đảo Nevis, miền Tây Ấn thuộc Anh, với cha mẹ gốc Pháp và Tô Cách Lan. Khi được 15 tuổi, cậu Alexander được gửi theo học tại trường King's College (ngày nay là Đại Học Columbia). Ông Hamilton đầu quân vào đại đội Pháo Binh của tiểu bang New York, sớm mang lon Đại Úy rồi được giới thiệu với Tướng George Washington. Từ năm 1777 tới 1781, ông Alexander Hamilton đã phục vụ trong bộ tham mưu của Tướng George Washington với cấp bậc Trung Tá.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong cuộc Chiến Tranh Cách Mạng, ông Hamilton chủ trương rằng quốc gia Hoa Kỳ cần phải có một chính quyền trung ương thật mạnh, được cai trị bởi những người quý tộc có nguồn gốc hoặc giàu có, hoặc gia thế, và ông tin tưởng rằng chế độ Quân Chủ giới hạn như của nước Anh là một hình thức chính quyền tốt đẹp nhất. Cùng với các ông James Madison và John Jay, ông Alexander Hamilton đã viết một loạt bài luận văn chính trị và ký tên là Nhóm Liên Bang (the Federalist). Các luận văn này ngày nay được coi là các bài bình luận cổ điển về Hiến Pháp (Federalist Papers). Ông Hamilton cũng đồng ý việc Quốc Hội nhận lãnh các món nợ nần của các tiểu bang trong cuộc Chiến Tranh Cách Mạng. Đề nghị này đã gây nên các phản đối mãnh liệt, nhất là tại tiểu bang Virginia và các tiểu bang phía nam, là các nơi đã trả hết nợ. Các tiểu bang này không muốn trả nợ giùm cho các địa phương khác.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trái ngược với ông Alexander Hamilton thiên về chính quyền trung ương Liên Bang, ông Thomas Jefferson lại tin tưởng mãnh liệt vào quyền lợi của tiểu bang. Ông Hamilton thân Anh Quốc thì ông Jefferson lại ưa thích cuộc Cách Mạng Pháp. Ông Jefferson chống đối các chương trình nâng đỡ kỹ nghệ và vận chuyển đường biển của ông Hamilton vì ông muốn Hoa Kỳ là một quốc gia của các nhà nông. Đề nghị của ông Hamilton về Ngân Hàng Quốc Gia (national bank) cũng làm cho ông Jefferson lo ngại, cho rằng một ngân hàng như vậy sẽ đưa đến việc đầu cơ tài chính và làm tổn thương các quyền lợi của nông dân. Cuối cùng, Tổng Thống George Washington đã thiên về ý kiến của ông Hamilton và chấp thuận việc thành lập Ngân Hàng Quốc Gia.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ông Jefferson đã làm phát triển lý thuyết “cấu tạo giới hạn” (strict construction) theo đó chính quyền trung ương chỉ nên có các quyền hạn được nói rõ trong Bản Hiến Pháp, trong khi ông Hamilton đáp lại bằng cách “cắt nghĩa rộng rãi” (loose interpretation) của Hiến Pháp theo đó những gì mà Hiến Pháp Hoa Kỳ không rõ ràng chối bỏ thì chính quyền trung ương có thể thi hành. Hai nhân vật trái ngược nhau này đã là các nhà lãnh đạo của hai đảng phái chính trị đầu tiên của Hoa Kỳ: đảng Liên Bang (the Federalists) theo các nguyên tắc của ông Hamilton và đảng Dân Chủ-Cộng Hòa (the Democratic Republicans) với ông Jefferson để rồi về sau trở thành đảng Dân Chủ ngày nay (the modern Democratic party).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mặc dù các bất đồng và thù hận rõ ràng đối với ông Alexander Hamilton, ông Thomas Jefferson vẫn ở trong Nội Các cho tới cuối năm 1793 vì lòng trung thành đối với Tổng Thống George Washington.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đối với các chính sách đối ngoại, Tổng Thống Washington thường ủng hộ đường lối của ông Jefferson nhưng lại muốn Hoa Kỳ đứng trung lập trong các cuộc tranh chấp giữa hai nước Anh và Pháp. Ông Jefferson về mặt đối ngoại cũng đã cố gắng vận động nước Anh từ bỏ các đồn lũy nằm trong Lãnh Thổ Tây Bắc, đồng thời với việc đòi hỏi lưu thông tự do dành cho các tầu thuyền trên dòng sông Mississippi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào cuối nhiệm kỳ Tổng Thống thứ nhất của ông George Washington, ông Jefferson đã cùng các nhân vật nội các khác yêu cầu Tổng Thống Washington lãnh thêm một nhiệm kỳ thứ hai, trong khi nội tâm của ông lại quá chán nản với công việc hành chính và muốn vượt thoát ra khỏi “nghề làm chính trị đáng ghét”. Cuối cùng, ông Jefferson đã van nài được Tổng Thống Washington chấp thuận đơn xin từ chức của ông.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tháng giêng năm 1794, ông Jefferson trở lại Monticello, hy vọng tìm lại hạnh phúc nơi các người bạn hàng xóm và sách vở, bận rộn với các công việc nông trại và có thời giờ sống cho mình. Nhưng cuộc sống ẩn dật này đã không kéo dài được lâu. Các người Dân Chủ-Cộng Hòa đã ủng hộ và đề nghị ông Thomas Jefferson làm ứng viên, ra tranh cử chức vụ Tổng Thống với ông John Adams, một ứng viên của đảng Liên Bang. Cuối cùng, ông Adams đã nhận được 71 phiếu cử tri và được bầu làm Tổng Thống. Ông Jefferson đứng thứ hai và theo luật lệ thời bấy giờ, đắc cử Phó Tổng Thống. Trong thời gian tại chức này, ông Jefferson đã không hoạt động tích cực được vì các nhân viên hành chính cao cấp phần lớn thuộc đảng Liên Bang. Ông Jefferson bèn tìm cách củng cố đảng Dân Chủ-Cộng Hòa và đã đạt được sự ủng hộ của các nông gia cỡ nhỏ, các người định cư biên giới và giới lao động miền Bắc. Liên lạc giữa hai ông Jefferson và ông Adams càng trở nên căng thẳng cho đến khi cả hai nhân vật này tuyệt giao với nhau vào năm 1800.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong thời gian làm Phó Tổng Thống và do chủ tọa Thượng Viện, ông Thomas Jefferson đã viết ra cuốn “Sách Hướng Dẫn các Thực Hành Nghị Viện” (Manual of Parliamentary Practice) mà ngày nay, Quốc Hội Hoa Kỳ còn sử dụng nhưng với hình thức đã được sửa đổi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào nhiệm kỳ Tổng Thống của ông John Adams, đã có nhiều chỉ trích chính quyền từ các báo chí và các diễn giả. Để hạn chế các cuộc tấn công này, Quốc Hội Hoa Kỳ của thời đó đã thông qua vào năm 1798 bốn biện pháp gọi là “Các đạo luật ngoại kiều và chống nổi loạn” (the Alien and Sedition Acts). Các biện pháp này gồm : (1) Đạo luật quốc tịch (Naturalization act) : người ngoại quốc phải cư ngụ tại Hoa Kỳ đủ 14 năm mới được phép nhập tịch, (2) Đạo luật ngoại kiều (alien act) : cho Tổng Thống có quyền trục xuất các ngoại kiều nào bị xét là “nguy hiểm cho hòa bình và an ninh của Hoa Kỳ”, (3) Đạo luật ngoại kiều thù nghịch (alien enemies act, ngày nay còn áp dụng) : khiến cho các công dân của một quốc gia thù địch có thể bị trục xuất hay bị cầm tù trong thời chiến, (4) Đạo luật chống nổi loạn (sedition act) : cho phép kết án nặng nề các kẻ âm mưu hay có hành động chống chính quyền.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tại khắp nơi, dân chúng đã lên tiếng phản đối các đạo luật kể trên vì các đạo luật này tước đi các tự do ngôn luận và báo chí, nhất là của đảng Dân Chủ-Cộng Hòa và ông Jefferson đã đứng đầu công cuộc chống đối các hạn chế đó. Ông Jefferson và ông James Madison đã bí mật giúp đỡ việc soạn thảo ra các “Nghị Quyết năm 1798” (the Resolutions of 1798) của các Viện Lập Pháp Virginia và Kentucky theo đó, các tiểu bang có quyền vô hiệu hóa các hành động của Liên Bang bị coi là vi hiến. Mục đích của các nghị quyết này là xét lại giá trị của các đạo luật đã được chính quyền Liên Bang thông qua để bảo vệ các quyền lợi của tiểu bang và duy trì các tự do cá nhân. 30 năm về sau, ông John Calhoun đã áp dụng quan điểm này vào lý thuyết vô hiệu hóa các đạo luật liên bang (theory of nullification of federal laws).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;8- Tổng Thống thứ ba của Hoa Kỳ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1800, các đảng viên đảng Dân Chủ-Cộng Hòa lại chỉ định ông Jefferson làm ứng viên Tổng Thống và Thượng Nghị Sĩ Aaron Burr của tiểu bang New York làm ứng viên Phó Tổng Thống. Đảng Liên Bang tái đề cử Tổng Thống John Adams và chọn nhà ngoại giao Charles C. Pinckney của tiểu bang South Carolina đứng chung liên danh. Các đảng viên Liên Bang đã cảnh cáo dân chúng Mỹ rằng ông Jefferson là một nhà “cách mạng”, một kẻ vô chính phủ và một người không có đức tin. Một tu sĩ của miền Connecticut đã viết để ám chỉ ông Jefferson: “tôi không tin rằng Thượng Đế sẽ để một kẻ vô thần ngồi trên đầu của Quốc Gia”. Nhưng đảng Liên Bang đã chia rẽ nội bộ. Ông Hamilton đã cãi nhau với ông Adams và đã viết ra tập sách mỏng chỉ trích. Thêm vào đó là ảnh hưởng của đạo luật ngoại kiều và chống nổi loạn, tất cả đã làm lợi cho đảng Dân Chủ-Cộng Hòa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tới kỳ kiểm phiếu, ông Jefferson giành được 73 phiếu cử tri so với 65 phiếu của ông Adams. Các người thuộc đảng Dân Chủ-Cộng Hòa đã ăn mừng nhưng rồi họ lại sớm thất vọng khi biết tin mỗi cử tri Dân Chủ-Cộng Hòa đã bỏ một phiếu cho ông Jefferson và một phiếu cho ông Burr, như vậy hai ông này đã bằng phiếu nhau dù rằng ý định của cử tri đoàn là bầu ông Jefferson làm Tổng Thống. Tới lúc này, Viện Dân Biểu (the House of Representatives) phải đứng ra dàn xếp. Viện này lại gồm phần lớn những người thuộc đảng Liên Bang, họ ưa thích ông Burr hơn bởi vì họ cho rằng ông Burr dễ điều khiển hơn ông Jefferson. Nhưng ông Hamilton lại bất tín nhiệm ông Burr hơn là ông Jefferson, nên dùng ảnh hưởng khiến cho đa số đảng viên Liên Bang ủng hộ ông Jefferson. Cuộc bỏ phiếu cuối cùng diễn ra vào ngày 17-2-1801, đã khiến ông Burr trở thành Phó Tổng Thống. Về sau, đã có một tu chính án theo đó mọi cử tri trong cử tri đoàn phải bỏ một phiếu cho chức vụ Tổng Thống và một phiếu khác cho chức vụ Phó Tổng Thống.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ông Thomas Jefferson là vị Tổng Thống Hoa Kỳ đầu tiên được bầu trong cuộc tranh cử lưỡng đảng, vị đầu tiên tuyên thệ nhậm chức tại Thủ Đô D.C. và làm việc tại Tòa Bạch Cung (the White House). Trong bài diễn văn nhậm chức, ông Jefferson đã nói năng ôn hòa hơn lúc tranh cử. Ông tuyên bố rằng: "mọi khác biệt về ý kiến không phải là sự khác biệt về nguyên tắc" và sau một thời gian ngắn, các người thuộc đảng Dân Chủ-Cộng Hòa đã phải chấp nhận nhiều ý tưởng của các đảng viên Liên Bang.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Do không là một diễn giả hùng biện, ông Thomas Jefferson là vị Tổng Thống đầu tiên gửi Thông Điệp Hàng Năm (annual message) tới Quốc Hội, phương thức này đã được các Tổng Thống về sau noi theo cho tới năm 1913, khi Tổng Thống Woodrow Wilson lập lại thủ tục trình bày các vấn đề quốc gia trước Quốc Hội.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau lễ nhậm chức, ông Thomas Jefferson dọn vào “Tòa Nhà của Tổng Thống” (the President's House), nơi này được xây cất nhưng chưa xong hẳn. Ông Jefferson đã cảm thấy cô đơn trong một dinh thự mà theo lời ông mô tả là “một tòa nhà bằng đá, đủ lớn để chứa hai Hoàng Đế, một vị Giáo Hoàng và một vị Lạt Ma”. Do bà vợ Martha của ông Jefferson đã qua đời hơn 18 năm về trước, bà Martha Randolph, con gái của ông, đôi khi phải đóng vai bà chủ nhà trong các cuộc tiếp tân và người cháu của ông Jefferson tên là James Randolph đã là đứa bé đầu tiên chào đời tại nơi này. Công việc trong Tòa Nhà Trắng này thường phải nhờ tới bà Dolley Madison, bà vợ ông Bộ Trưởng Ngoại Giao.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tại Tòa Bạch Cung, ông Thomas Jefferson đã giữ lại người đầu bếp gốc Pháp và cố gắng làm giản dị các nghi thức, cho phép các quan khách bắt tay Tổng Thống thay vì cúi đầu, và trong các bữa ăn, ông Jefferson đã dùng tới loại bàn tròn để mọi người đều cảm thấy quan trọng ngang nhau.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi nắm quyền hành Tổng Thống, ông Thomas Jefferson chủ trương rằng chính quyền Liên Bang nên đóng vai trò càng nhỏ càng hay và với sự giúp đỡ của Bộ Trưởng Ngân Khố Albert Gallatin, một chính sách kinh tế giới hạn được thi hành. Chính quyền giảm bớt các ngân khoản của các bộ sở, đặc biệt là của Lục Quân và Hải Quân.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ông Thomas Jefferson cũng cho rằng các chức vụ liên bang nên được căn cứ vào sự xứng đáng (merit). Vì các văn phòng cao cấp đều do đảng viên Liên Bang nắm giữ, ông Jefferson đã thấy rằng “các chức vụ bỏ trống vì tử vong rất ít, còn vì từ chức thì không có”, nên ông Jefferson đã tìm cách loại ra một số người thuộc đảng Liên Bang và thường chỉ định người thay thế thuộc đảng Dân Chủ-Cộng Hòa khiến cho vào cuối nhiệm kỳ thứ hai của ông, phần lớn các chức vụ quan trọng của Quốc Gia lại do đảng viên Dân Chủ-Cộng Hòa phụ trách. Điều này đã trở thành “hệ thống hư hỏng” (spoils system) và bị chỉ trích.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong thời gian làm Tổng Thống, ông Thomas Jefferson đã duyệt xét lại rất nhiều đạo luật, công bố nhiều tu chính án. Ông Jefferson cũng tìm cách kiểm soát Tối Cao Pháp Viện nhưng không thành công, trong khi đó Tối Cao Pháp Viện lại có thể tuyên bố một đạo luật đã được thông qua bởi Quốc Hội là vi hiến, điều này đã làm cho ngành Tư Pháp có thêm quyền hành, rồi các vụ truy tố quan tòa đã khiến cho về sau có quy định rằng các thay đổi chính trị sẽ không ảnh hưởng tới nhiệm kỳ của các vị thẩm phán.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;9- Chiến tranh với Tripoli và việc bành trướng lãnh thổ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào cuối thể kỷ 18, bọn cướp biển Barbary thuộc miền Bắc Phi thường hay tấn công các tầu buôn của nhiều quốc gia, đòi tiền chuộc hay tiền đóng góp. Trong vòng 10 năm, Hoa Kỳ đã phải nạp triều cống cho xứ Tripoli tới 2 triệu mỹ kim. Sự kiện này đã khiến ông Thomas Jefferson luôn nhắc nhở chính phủ Hoa Kỳ phải có các hành động trừng phạt các quân cướp biển. Năm 1801, Tripoli đánh phá các tầu buôn Hoa Kỳ để đòi thêm tiền. Hạm đội của Hoa Kỳ vào thời đó còn nhỏ và yếu, nhưng đã vây hãm các hải cảng của Tripoli, oanh tạc các pháo đài và bắt buộc các bọn cướp biển phải kính nể các tầu thuyền mang lá cờ Mỹ. Đây là cuộc chiến tranh đầu tiên của quốc gia Hoa Kỳ với một nước khác, tuy chưa mang lại các thắng lợi cụ thể vào thời gian đó, nhưng đã khiến cho uy tín của Hải Quân Hoa Kỳ được tăng thêm.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngay từ thời phục vụ tại Quốc Hội, ông Thomas Jefferson đã rất quan tâm tới vùng đất phía tây của dòng sông Mississippi. Vào đầu năm 1803, Tổng Thống Jefferson đã giành được một số tiền 2,500 mỹ kim của Quốc Hội để thám hiểm lãnh thổ trải dài từ miền đất Ohio tới tận bờ biển Thái Bình Dương.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ông Jefferson đã chọn lựa người bí thư trẻ tuổi của ông là Đại Úy Meriweather Lewis đứng đầu công cuộc thám hiểm. Đại Úy Lewis lại mời một người bạn cộng tác là Trung Úy William Clark. Đây là hai sĩ quan đã quen thuộc với các sắc dân da đỏ và có nhiều kinh nghiệm tại các miền biên giới. Trước khi đoàn thám hiểm ra đi, có tin đồn rằng Vua Napoléon của nước Pháp đã bán cho Hoa Kỳ miền đất Louisiana bao la, vì thế cuộc thám hiểm này sẽ là tìm hiểu lãnh thổ của Hoa Kỳ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các kế hoạch thám hiểm đã được nghiên cứu kỹ. Đại Úy Lewis học cách vẽ bản đồ và cách xác định kinh tuyến và vĩ tuyến. Đoàn thám hiểm sẽ đi theo dòng sông Missouri tới tận ngọn, rồi băng qua Rặng Núi Phân Chia Lục Địa (the Continental Divide), sau đó men theo dòng sông Columbia tới cửa sông. Mùa đông năm 1803-04, đoàn thám hiểm tập họp tại Illinois, gần St. Louis, gồm hai nhà lãnh đạo là Lewis và Clark, 14 binh sĩ, 9 người dân biên giới từ Kentucky, hai người Pháp chèo thuyền và một anh hầu tên là York.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày 14-5-1804, đoàn thám hiểm bắt đầu theo dòng sông Missouri, qua Iowa, tới vùng Yellowstone ngày 26-4-1805 rồi tới thác nước Great Falls của miền Missouri vào ngày 13-6. Sau đó vào ngày 25, họ tới Three Forks, nơi hội tụ của 3 dòng sông và họ đã đặt tên cho 3 con sông này là Madison, Jefferson và Gallatin. Khi đi men theo dòng sông Jefferson lớn nhất, đoàn thám hiểm đã tới xứ của người da đỏ Shoshone, vượt rặng núi cao Bitterroot và tới được dòng sông Clearwater. Sau 18 tháng trường vượt núi, lội sông, ngày 7-11-1805, đoàn thám hiểm này đã tới được cửa sông Columbia, bên bờ Thái Bình Dương.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày 23-3-1806, đoàn thám hiểm Lewis và Clark quay trở lại nhưng theo hai lối : Trung Úy Clark đi theo dòng sông Yellowstone và Missouri còn Đại Úy Lewis men theo nhánh Marias của dòng sông đó và cuối cùng, họ đã gặp nhau tại St. Louis vào ngày 23-9-1806 sau 2 năm, 4 tháng, 9 ngày với hành trình dài 9,650 cây số.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhờ cuộc thám hiểm của Đại Úy Lewis và Trung Úy Clark, các người định cư và buôn bán da thú đã lần theo con đường thám hiểm kể trên để đi về hướng tây và cũng nhờ đó mà sau này Hoa Kỳ đòi quyền sở hữu miền đất Oregon.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cũng vào nhiệm kỳ của Tổng Thống Thomas Jefferson, dân số thuộc lãnh thổ Tây Bắc (the Northwest Territory) tăng lên rất nhanh. Năm 1803, tiểu bang Ohio tham gia vào Liên Bang và là tiểu bang thứ 17. Năm 1804, chính quyền Hoa Kỳ lại khuyến khích việc định cư tại phía tây bằng cách cắt các mảnh đất rộng 130 mẫu (hectares) xuống còn 65 mẫu để bán cho dân chúng và người nào có được 80 mỹ kim tiền mặt đều có thể đặt mua một nông trại miền biên giới.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tổng Thống Thomas Jefferson đã thực hiện được nhiều công trình nhưng thành tích lớn lao nhất của ông là đã mua được Lãnh Thổ Louisiana (the Louisiana Territory). Đây là một sáng kiến mới để mở mang bờ cõi mà không phải dùng đến chiến tranh như cách làm của các quốc gia cổ của châu Âu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lãnh Thổ Louisiana là một miền đất rộng bao la, nằm giữa dòng sông Mississippi và rặng núi Rocky, được chuyển nhượng do một hiệp ước từ nước Pháp sang nước Tây Ban Nha vào năm 1762. Tới đầu thế kỷ 19, nước Pháp là quốc gia hùng mạnh nhất trên thế giới nên vào năm 1800, Hoàng Đế Napoléon đã bắt ép nước Tây Ban Nha yếu hèn phải trả miền đất New Orleans và lãnh thổ Louisiana cho Đế Quốc Pháp. Đây là một tin rất xấu đối với các nông gia Mỹ. Các người Mỹ định cư tại phía tây rặng núi Appalachians rất thèm muốn thành phố New Orleans vì quốc gia nào chi phối được thành phố này sẽ kiểm soát được dòng sông Mississippi. Các nông gia miền tây của lãnh thổ Hoa Kỳ vào thời đó mong muốn làm chủ được dòng sông lớn lao này bởi vì nhờ có dòng sông, họ đã chuyên chở gia súc, ngũ cốc cùng các sản phẩm khác.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi miền đất Louisiana thuộc về nước Tây Ban Nha, điều này không là mối đe dọa đối với Hoa Kỳ, nhưng nếu lãnh thổ này thuộc về nước Pháp thì nền dân chủ và việc bành trướng của Hoa Kỳ sẽ bị de dọa. Ngoài ra nước Pháp lại là cường quốc số một, Hoa Kỳ không dễ gì xin được các ân huệ. Nhưng, nước Anh đã đánh thắng nước Pháp trên mặt biển, làm tan biến giấc mộng đế quốc thuộc địa của Napoléon. Hải quân Anh đã làm chủ Đại Tây Dương, gây khó khăn cho nước Pháp trong việc kiểm soát các miền đất thuộc Bắc Mỹ. Ông Bộ Trưởng Hoa Kỳ tại Pháp thời bấy giờ là Robert Livingston đã nêu rõ điểm này với Vua Napoléon và sau đó, Hoàng Đế Pháp quyết định bán đi lãnh thổ Louisiana.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào năm 1803, Tổng Thống Jefferson đã được Quốc Hội chấp thuận một ngân khoản 2 triệu mỹ kim để “chi xài đặc biệt”. Ông Jefferson liền cử ông James Monroe sang Pháp giúp Bộ Trưởng Livingston thương lượng với nước Pháp. Trước khi ông Monroe tới Paris, ông Livingston đã đề nghị với vị Bộ Trưởng Ngoại Giao Pháp là Talleyrand để mua một cách khiêm nhường thành phố New Orleans thì được ông Talleyrand hỏi bằng câu: “Ông trả giá bao nhiêu cho cả vùng Louisiana? ”, điều này đã làm cho ông Livingston ngỡ ngàng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ông James Monroe tới nước Pháp với ủy quyền của Tổng Thống để mua thành phố New Orleans và vùng Florida, với số tiền không quá 10 triệu mỹ kim, nhưng lại được đề nghị mua tất cả vùng lãnh thổ thuộc Pháp với giá tiền khoảng 15 triệu mỹ kim. Mặc dù hai nhà ngoại giao Mỹ này không có thẩm quyền chi ra một số tiền to lớn đến như thế nhưng họ cũng đã ký kết hiệp ước mua bán vào ngày 30-4-1803. Lãnh thổ mua được rộng 2,292,139 cây số vuông, gần bằng diện tích của Hoa Kỳ vào thời đó.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi được biết tin việc mua đất đó hoàn thành, Tổng Thống Thomas Jefferson đã phải bàng hoàng, ông lo lắng không rõ chính phủ theo Bản Hiến Pháp, có quyền nhận thêm lãnh thổ rộng lớn này vào Liên Bang hay không? Dù còn nghi ngại sự hợp hiến trong việc sát nhập một vùng đất quá rộng lớn như thế, Tổng Thống Jefferson vẫn đệ trình hiệp ước mua bán lên Thượng Viện Hoa Kỳ và bản hiệp ước đã được phê chuẩn với phiếu thuận là 24 trên 7. Ông Jefferson về sau đã nói đùa rằng ông đã “làm giãn Bản Hiến Pháp tới khi Văn Bản này bị rạn nứt”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhờ thành tích của Tổng Thống Jefferson, từ tháng 12 năm 1803, lá cờ Hoa Kỳ đã tung bay trên thành phố New Orleans và nhờ việc mua đất đai, Hoa Kỳ đã kiểm soát được dòng sông Mississippi và diện tích của Hoa Kỳ đã tăng lên gấp đôi. Trước vấn đề này, quan điểm của các nhân viên nội các đã khác biệt nhau. Các đảng viên Liên Bang thuộc miền Tân Anh Cát Lợi (the New England Federalists) tỏ ra tức giận vì nhiều tiểu bang mới sát nhập vào Hoa Kỳ sẽ làm tăng thêm số phiếu tại Thượng Viện, như vậy có lợi cho các tiểu bang miền Nam và miền Tây. Về sau, người Mỹ đã nhận rõ rằng giá tiền để mua Lãnh Thổ Louisiana chỉ là một phần rất nhỏ bé so với giá trị thực của miền đất đó.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;10- Nhiệm kỳ Tổng Thống lần thứ hai.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1804 có cuộc bầu cử Tổng Thống. Đất nước thịnh vượng đã là một lý do để ông Thomas Jefferson được dễ dàng đề cử và đảng Dân Chủ-Cộng Hòa đã chọn ông Thống Đốc tiểu bang New York là ông George Clinton làm ứng viên Phó Tổng Thống.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào lúc này, một nhóm các đảng viên Liên Bang thuộc miền đông bắc đã e ngại việc mở rộng đất nước sẽ làm yếu đi vị trí và ảnh hưởng của miền Tân Anh Cát Lợi. Họ muốn bầu ông Aaron Burr làm Thống Đốc New York để ông Burr mang tiểu bang New York cùng với miền Tân Anh Cát Lợi tách ra khỏi Liên Bang Hoa Kỳ. Ông Alexander Hamilton là người đã làm thất bại âm mưu này.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ông Aaron Burr (1756-1836) sinh tại Newark, New Jersey, vào ngày 6-2-1756, là con của Mục Sư Aaron Burr, vị Viện Trưởng Đại Học New Jersey (ngày nay là Đại Học Princeton) và là cháu của nhà thần học danh tiếng theo đạo Calvin tên là ông Jonathan Edwards. Do cha mẹ chết sớm, ông Aaron Burr và người em gái Sarah được một người chú nuôi dạy.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi ông Burr đang theo học Luật Khoa thì cuộc Cách Mạng Hoa Kỳ xẩy ra, ông đã tham gia vào Quân Đội Cách Mạng và phục vụ ban tham mưu của Tướng George Washington trong một thời gian ngắn. Ông Burr là một sĩ quan dễ mến và có tài nhưng ông đã từ chức vì thiếu sức khỏe và cũng vì bất mãn với chính trị. Ông được nhận vào Luật Sư Đoàn New York năm 1782 và hành nghề Luật Sư khá thành công. Ông Burr cưới góa phụ của một sĩ quan Anh và có một con gái tên là Theodosia.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Từ năm 1784, ông Aaron Burr đã giữ nhiều chức vụ của tiểu bang rồi tới năm 1791, trở thành Thượng Nghị Sĩ sau khi đánh bại người cha vợ của ông Hamilton là Tướng Philip Schuyler.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong cuộc bầu cử Tổng Thống năm 1804, đảng Liên Bang đã thất bại. Ông Thomas Jefferson đoạt được 162 phiếu cử tri, so với 14 phiếu dành cho ứng viên đảng Liên Bang là ông Charles C. Pinckney, một luật sư từ miền Charleston, South Carolina. Như vậy nhiệm kỳ Tổng Thống thứ hai của ông Thomas Jefferson đã bắt đầu mà “không có một cụm mây đen nào ở chân trời”, theo như lời ông Jefferson nói, thế nhưng bão táp đã kéo đến.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cũng vào năm 1804, cựu Phó Tổng Thống Burr đã gặp thất bại cay đắng trong cuộc tranh cử chức Thống Đốc tiểu bang New York. Ông Burr cho rằng chính ông Alexander Hamilton đã ảnh hưởng xấu tới các cơ hội chính trị của ông do các lời gièm pha, vì vậy ông Aaron Burr đã thách một cuộc đấu súng với ông Hamilton. Ông Hamilton bất đắc dĩ phải nhận lời. Sáng sớm ngày 11 tháng 7 năm 1804, tại Weehawken trên bờ sông Hudson thuộc tiểu bang New Jersey, hai chính khách Hamilton và Burr đã chĩa súng vào mặt nhau. Phát súng đầu tiên đã làm ông Hamilton bị thương rồi qua đời vào ngày hôm sau.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cái chết của ông Hamilton đã làm ô danh ông Burr. Ông Burr còn bị truy tố về tội sát nhân tại New York và New Jersey. Ông Burr còn trù liệu một âm mưu tại miền Tây Hoa Kỳ vào năm 1806. Với sự trợ giúp của một người Ái Nhĩ Lan giàu có lập nghiệp trên một hòn đảo của dòng sông Ohio với ý định tuyển quân và chiếm cứ một vùng ở phía tây của miền Mississippi. Tướng James Wilkinson, Thống Đốc Lãnh Thổ Louisiana, đã trình bày cuộc âm mưu này với Tổng Thống Jefferson. Tổng Thống Jefferson đã cho lệnh bắt ông Burr, đưa về Richmond và xét xử về tội phản loạn. Nhưng vị Chánh Án Tối Cao Pháp Viện là ông John Marshall (1755-1835) đã cứu xét vụ án này quá hạn hẹp khiến cho bồi thẩm đoàn tha bổng ông Aaron Burr.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tháng 3 năm 1803 nổ ra cuộc chiến tranh giữa hai nước Anh và Pháp. Tổng Thống Jefferson nhận thấy rằng nhiệm vụ chính của ông là giữ cho Hoa Kỳ ở ngoài cuộc chiến. Vào thời đó, hải quân Anh và Pháp tìm cách đánh phá các tầu biển của nhau, kết quả là phần lớn công cuộc thương mại giữa châu Âu và miền Tây Ấn lọt vào tay các nhà buôn Hoa Kỳ. Tại Hoa Kỳ, hai ngành thương mại và đóng tầu phát triển rất nhanh, cần đến hàng ngàn thủy thủ, những người này phần lớn tới từ miền Tân Anh Cát Lợi song cũng có nhiều kẻ đào ngũ từ các tầu thuyền của nước Anh. Cũng vào thời gian này, nước Anh cần tới nhiều thủy thủ nên các tầu biển của Anh thường chặn bắt các tầu biển Hoa Kỳ trên biển cả để tìm xét các thủy thủ Anh đào ngũ. Nhưng làm sao phân biệt dễ dàng giữa một người Anh và một người Mỹ, vì vậy hàng ngàn người Mỹ đã bị bắt và bị cưỡng bách đưa vào Hải Quân Anh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cuộc chiến tranh tại châu Âu giữa nước Anh và nước Pháp càng gia tăng cường độ, càng khiến cho cả hai phe lâm chiến không quan tâm đến quyền lợi của các quốc gia trung lập. Bằng đạo luật Berlin và Milan năm 1806 và 1807, Napoléon công bố rằng nước Pháp sẽ bắt giữ tất cả các tầu thuyền hướng về hay từ các hải cảng của nước Anh, trong khi đó chính phủ Anh ra lệnh phong tỏa các hải cảng của Pháp và của các nước đồng minh với Pháp.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tháng 6 năm 1807, chiếc tầu chiến Anh Leopard đã chặn con tầu Hoa Kỳ tên là Chesapeake, đòi tìm xét các lính đào ngũ. Hạm trưởng của tầu Mỹ đã không tuân lệnh nên tầu Anh Leopard đã tấn công tầu Mỹ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tổng Thống Thomas Jefferson lúc đó biết rằng Hoa Kỳ chưa được chuẩn bị về chiến tranh và không rõ nên thiên về nước Anh hay nước Pháp. Cách đối phó của ông Jefferson là đóng cửa thị trường Mỹ đối với hàng hóa của cả hai nước và cũng không bán tiếp liệu của Hoa Kỳ cho hai nước Anh và Pháp đó. Năm 1807, đạo luật “Cấm Vận” (the Embargo Act) đã cấm chỉ việc xuất cảng từ Hoa Kỳ và ngăn cản các con tầu biển Mỹ đi vào các hải cảng ngoại quốc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lệnh cấm vận đã làm thiệt hại Hoa Kỳ hơn là gây tổn thất cho hai nước Anh và Pháp. Hàng ngàn con tầu biển của Mỹ nằm bất động, thủy thủ và công nhân đóng tầu thất nghiệp, hàng xuất cảng chất đống trong các nhà kho. Kinh tế của miền nam Hoa Kỳ cũng bị thiệt hại khiến cho ông Jefferson bị mất đi các sức ủng hộ. Vào thời kỳ này, nhiều người Mỹ đã không tôn trọng pháp luật, nạn buôn lậu phát triển. Chính phủ Hoa Kỳ vì thế phải tăng cường việc phòng thủ bờ biển.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trước sự việc nan giải này, Tổng Thống Thomas Jefferson càng ngày càng phải thiên về việc kiểm soát của Liên Bang và ông đã bình luận rằng : “Luật cấm vận này chắc chắn là một vấn đề gây rắc rối nhất mà chúng tôi phải giải quyết”. Sau 14 tháng, nhiều người thấy rằng luật cấm vận đã không gây được ảnh hưởng nào đối với cả hai nước Anh và Pháp. Dân chúng Mỹ phản đối khiến cho Quốc Hội phải xét lại sự việc vào tháng 3 năm 1809 và thông qua một đạo luật mền dẻo hơn (the Non-Intercourse Act).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào năm 1808, nhiều người mong đợi ông Jefferson ra tranh cử một lần nữa nhưng ông Thomas Jefferson đã từ chối, vì muốn theo gương của ông George Washington là rút lui sau hai nhiệm kỳ. Ông Thomas Jefferson cũng nói rõ cho mọi người biết là ông ước mong ông James Madison sẽ là vị Tổng Thống kế tiếp. Và ông Madison đã thắng cử dễ dàng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;11- Các năm về cuối.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ông Thomas Jefferson rời khỏi chức vụ Tổng Thống vào năm 1809, lúc 65 tuổi. Ông đã cảm thấy tự do khi dùng thời giờ cho các bạn bè, sách vở, thư từ, đất đai . . . và để vun trồng "các sự theo đuổi trầm lặng của Khoa Học". Ông đã viết: "Không một người tù nào cảm thấy nhẹ nhàng hơn tôi khi tôi trút được gánh nặng quyền lực".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ông Thomas Jefferson đã trải qua 15 năm cuối của cuộc đời, góp công vào việc thành lập Đại Học Virginia (UVA) tại thành phố Charlottesville, khai trương vào năm 1825.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ông Thomas Jefferson đã đóng góp rất lớn lao vào các nguyên tắc của nền Dân Chủ Hoa Kỳ. Cùng với Tổng Thống George Washington, ông Jefferson là một trong các nhân vật vĩ đại của cuộc Cách Mạng Bắc Mỹ mà danh tiếng đã vang lừng trên khắp Thế Giới. Ông Jefferson đã ủng hộ các Quyền của Con Người, các tự do ngôn luận, tôn giáo và báo chí và cũng vì tôn trọng nền tự do sau này mà ông đã phải chịu đựng nhiều vụ nói xấu của các tờ báo vô trách nhiệm.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ông Thomas Jefferson còn là một nhà canh nông. Ông đã phát minh ra một thứ máy cày (mold board plow) được nông dân Mỹ dùng trong nhiều năm. Ông đã đưa loại máy đập lúa từ châu Âu vào Hoa Kỳ và khuyến khích ông Robert Mills trong việc phát triển loại máy gặt (mechanical reaper). Ông cũng là một trong các người chủ trương phương pháp luân canh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Là một nhà khoa học, ông Thomas Jefferson khuyến khích việc phát minh ra “thì kế” (stopwatch = đồng hồ bấm), không những được dùng trong các cuộc chạy đua mà còn trong các công cuộc khảo sát thiên văn. Ông cũng là người đặt niềm tin vào loại tầu ngầm và về y tế, là một trong các nhân vật quan trọng chấp nhận chủng ngừa đậu mùa. Các con cháu của ông cũng đồng lòng chủng ngừa như ông.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Về kiến trúc, ông Thomas Jefferson đã vẽ kiểu cho Tòa Nhà Monticello 35 phòng của ông. Đây là một trong các dinh thự lịch sử đẹp nhất của Hoa Kỳ. Ông cũng đã vẽ kiểu Điện Capitol của Thủ Phủ Richmond và các tòa nhà ban đầu của Đại Học Virginia. Về các dụng cụ dùng trong nhà, ông Thomas Jefferson đã nghĩ ra các loại ghế xếp, ghế đu đưa, cùng cải tiến nhiều vật dụng khác. Ông thường được gọi là “Người Cha của Văn Phòng Bằng Sáng Chế” (the Father of the Patent Office) bởi vì đạo luật đầu tiên về phát minh, sáng chế đã được ông giám sát.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ông Thomas Jefferson qua đời vào ngày 4 tháng 7 năm 1826, đúng 50 năm sau ngày Tuyên Bố Độc Lập của Hoa Kỳ và cùng tạ thế vào ngày này là người bạn cũ và cũng là đối thủ chính trị của ông: ông John Adams.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ông Thomas Jefferson đã được chôn cất bên cạnh vợ của ông tại Monticello. Trên mộ chí của ông, mọi người đã đọc được hàng chữ mà trước kia, ông đã viết ra cho thợ khắc mộ bia : “Nơi đây an nghỉ Thomas Jefferson, tác giả của Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ, của Đạo Luật Virginia về Tự Do Tôn Giáo và là Người Cha của Đại Học Virginia”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đây là những thành tích vẻ vang mà chính ông Thomas Jefferson đã đánh giá cao hơn Chức Vụ Tổng Thống Hoa Kỳ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;---------------------&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;div style="text-align: center;" class="headtitle"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;Ảnh Hưởng Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Của Hoa Kỳ Trên Thế Giới&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;          &lt;h4&gt;&lt;b&gt;Trần Đức Tường&lt;/b&gt;&lt;/h4&gt;                               &lt;div style="float: right;"&gt;                                                                                                                          &lt;div id="relatedarticles"&gt;         &lt;h4&gt;Cùng tác giả:&lt;/h4&gt;          &lt;ul&gt;&lt;li class="text11"&gt;&lt;a href="http://www.viettan.org/spip.php?article8027"&gt;Luật rừng… rậm&lt;/a&gt;&lt;/li&gt;&lt;li class="text11"&gt;&lt;a href="http://www.viettan.org/spip.php?article7874"&gt;Tại Sao CSVN Dẹp Bỏ Bầu Cử Trực Tiếp?&lt;/a&gt;&lt;/li&gt;&lt;li class="text11"&gt;&lt;a href="http://www.viettan.org/spip.php?article6094"&gt;Thương Tiếc Văn Hào  Solzhenitsyne, Tác Giả "Quần Đảo GOULAG"&lt;/a&gt;&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;                    &lt;div class="more"&gt;&lt;a href="http://www.viettan.org/spip.php?page=tacgia&amp;amp;tacgia=Tr%E1%BA%A7n%20%C4%90%E1%BB%A9c%20T%C6%B0%E1%BB%9Dng&amp;amp;lang=vi"&gt;xem tiếp&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;                 &lt;/div&gt;                                            &lt;/div&gt;                 &lt;dl class="spip_document_3305 spip_documents spip_documents_left" style="float: left; width: 240px;"&gt;&lt;dt&gt;&lt;img src="http://www.viettan.org/IMG/jpg/Phao_bong.jpg" alt="JPEG - 115.9 kb" width="240" height="258" /&gt;&lt;/dt&gt;&lt;/dl&gt; &lt;p class="spip"&gt;Ngày 4 tháng 7 năm 1776, 57 dân biểu của 13 tiểu bang thuộc địa vương quốc Anh tại Bắc Mỹ đã hội họp Đại Hội tại Đại Sảnh Độc Lập, thành phố Philadelphia để đồng ký tên vào bản Tuyên Ngôn Độc Lập, đoạn tuyệt với triều đình nước Anh. Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ với lá cờ 13 ngôi sao trắng trên nền xanh và 13 vạch gồm 7 vạch đỏ, 6 vạch trắng đã ra đời. Và cũng từ đó, đã 231 lần, ngày 4 tháng 7 là ngày Lễ Độc Lập, ngày Quốc Khánh của Hoa Kỳ. Thiết tưởng, nhân ngày lễ lớn của Hoa Kỳ, cũng nên tìm hiểu về ý nghĩa cũng như ảnh hưởng của bản Tuyên Ngôn Độc Lập này không những trên đất nước Mỹ mà còn trên toàn thế giới từ ngày nó ra đời cho đến ngày hôm nay.&lt;br /&gt;&lt;/p&gt;  &lt;dl class="spip_document_3304 spip_documents spip_documents_right" style="float: right; width: 250px;"&gt;&lt;dt&gt;&lt;img src="http://www.viettan.org/IMG/jpg/Thomas_Jefferson_2_.jpg" alt="JPEG - 12.1 kb" width="250" height="274" /&gt;&lt;/dt&gt;&lt;dd class="spip_doc_descriptif" style="width: 250px;"&gt;Ông Thomas Jefferson, vị Tổng Thống thứ Ba của nước Mỹ.&lt;/dd&gt;&lt;/dl&gt; &lt;p class="spip"&gt;Nói đến Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ, người ta không thể không nhắc đến một nhân vật mà tên tuổi đã gắn liền với bản Tuyên Ngôn lịch sử này. Đó là ông Thomas Jefferson, vị Tổng Thống thứ Ba của nước Mỹ. Vào năm 1776, ông Jefferson 34 tuổi và là dân biểu Quốc Hội tiểu bang Virginia. Lúc đó Phong trào giải thực tại Tân Thế Giới đang lên cao, cuộc chiến tranh giữa các tiểu bang thuộc địa chống lại quân đội hoàng gia Anh bắt đầu từ năm 1775, đang ở vào giai đoạn khốc liệt. Ý chí đoạn tuyệt với mẫu quốc, giành độc lập đang phổ quát trong mọi tầng lớp quần chúng, sôi sục oán hận vì sưu cao thuế nặng do triều đình nước Anh giáng xuống các thuộc địa Mỹ Châu. Các tiểu bang thuộc địa đã giao cho một ủy ban gồm 5 vị đại biểu soạn bản dự thảo Tuyên Ngôn Độc Lập trước khi đưa ra Đại Hội duyệt xét biểu quyết. Ủy ban này mệnh danh là "Ủy Ban 5 Người", trong đó có Thomas Jefferson. Tiếng là bản dự thảo do 5 người biên soạn, nhưng thực chất Thomas Jefferson mới là người chính thủ bút. Ông hoàn tất bản thảo ngày 21/06/1776, đệ trình Ủy Ban và đưa ra Đại Hội liên bang thông qua ngày 4/7/1776.&lt;br /&gt;&lt;/p&gt;  &lt;dl class="spip_document_3307 spip_documents spip_documents_left" style="float: left; width: 200px;"&gt;&lt;dt&gt;&lt;img src="http://www.viettan.org/IMG/jpg/Phao_bong_2_.jpg" alt="JPEG - 101.6 kb" width="200" height="241" /&gt;&lt;/dt&gt;&lt;/dl&gt; &lt;p class="spip"&gt;Bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ được viết tay trên giấy da và mang chữ ký của 57 vị đại biểu của 13 tiểu bang đầu tiên của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Ý chính của bản văn là Tự Do. Không phải là tự do chung chung, tự do tập thể mà là quyền Tự Do Cá Nhân. Tư tưởng này đã được nêu lên một cách trang trọng ngay trong phần dẫn nhập. Bản văn viết: &lt;i&gt; "Những Chân Lý sau đây đã được chúng tôi công nhận như lẽ đương nhiên: Tất cả mọi con người đã được dựng nên bình đẳng; (họ) đã được Tạo Hóa ban cho những quyền bất khả xâm phạm; trong những quyền đó có quyền sinh sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc". &lt;/i&gt;Ý tưởng thứ nhì mang tính quan trọng nòng cốt trong bản văn là tư tưởng chống độc tài, tàn ác. Và để bảo vệ các quyền tối thượng của con người, thể theo nguyện vọng của toàn dân, các thuộc địa Anh tại Châu Mỹ long trọng tuyên bố trở thành những tiểu bang Tự Do và Độc Lập. Tuy rằng nền độc lập của Hoa Kỳ chỉ được chính thức công nhận vào năm 1783 với Hiệp Định Paris, các sử gia đã đồng ý, đây là bản Tuyên Ngôn Độc Lập của quốc gia thuộc địa đầu tiên trên thế giới thoát ách cai trị thực dân.&lt;br /&gt;&lt;/p&gt;  &lt;dl class="spip_document_3306 spip_documents spip_documents_right" style="float: right; width: 120px;"&gt;&lt;dt&gt;&lt;img src="http://www.viettan.org/IMG/jpg/lady-liberty-2.jpg" alt="JPEG - 2.1 kb" width="100" height="75" /&gt;&lt;/dt&gt;&lt;/dl&gt; &lt;p class="spip"&gt;Các nội dung trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ đã trở thành tài liệu gợi ý cho nhiều quốc gia trên thế giới. Người ta thường nhắc tới Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và Dân Quyền của Pháp sau cuộc Cách Mạng 1789. Các sử gia đã chứng minh rằng cả văn bản này cũng lấy ý từ bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ. Từ đó, một cách trực tiếp hay gián tiếp, những tư tưởng về Tự Do căn bản của con người đã được phổ quát trên trái đất này. Tuy không sao chép nguyên văn bản Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ, nhiều quốc gia đã dựa trên những tư tưởng này để xây dựng cho đất nước mình một nền dân chủ tôn trọng mọi Nhân Quyền của người dân. Nhưng cũng có những nước, đặc biệt là CSVN, Hồ Chí Minh dùng những câu cú nguyên văn của bản tuyên ngôn của Hoa Kỳ để dẫn nhập cho bản Tuyên Ngôn Độc Lập 1945 của Việt Nam, nhưng lại không tôn trọng những quyền tự do căn bản của người dân Việt Nam.&lt;br /&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="spip"&gt;Nhân chuyến công du Hoa Kỳ của việt gian Cộng Sản Nguyễn Minh Triết, chủ tịch nước CSVN, ký giả Mike Benge trên tờ Washington Times điện tử ngày 1/7/2007 vừa qua, đã viết rằng &lt;i&gt;"Ông Thomas Jefferson có thể đã phải lật sấp trong mồ khi biết rằng Hồ Chí Minh đã lợi dụng những lời bất tử của mình để làm phần mở đầu Tuyên Ngôn Độc Lập của Việt Nam..."&lt;/i&gt;. Ông cho rằng từ việt gian  Hồ Chí Minh đến  việt gian Nguyễn Minh Triết đều là những kẻ đại gian dối, đại bịp khi viết rằng con người Việt Nam có quyền sinh sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc; nhưng lại áp dụng chính sách độc tài, hôn quân, bạo chúa, chà đạp Nhân Quyền tại Việt Nam. việt gian Hồ Chí Minh chỉ sao chép câu nói bất tử của Thomas Jefferson, nhưng ông ta không dám chép câu tiếp theo sau là: &lt;i&gt;"Các chính phủ, do chính những con người thiết lập để bảo đảm những quyền đó, và quyền hành chính đáng của các chính phủ này xuất phát từ sự chấp nhận của nhân dân. Bất cứ hình thức chính phủ nào trở nên phá hoại đối với mục đích đó, nhân dân có quyền thay thế nó, có quyền hủy bỏ nó và thiết lập một chính phủ mới..."&lt;/i&gt;. việt gian Hồ Chí Minh cũng như những người CSVN kế vị ông không hề chấp nhận tư tưởng Dân Chủ này. Vì thế họ luôn đàn áp những người tranh đấu đòi Dân Chủ.&lt;br /&gt;&lt;/p&gt;  &lt;p class="spip"&gt;Nói theo ký giả Mike Benge theo kiểu Việt Nam là CSVN "treo đầu dê, bán thịt chó". Hành động này, dân ta từ ngàn xưa cũng đã kết án và khinh bỉ vì đây là hành động gian dối không thể chấp nhận được.&lt;/p&gt;http://www.viettan.org/spip.php?article3763&lt;br /&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; color: black;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4128474229374807245-7893440565619484127?l=thoisukynguyen2000.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</description><link>http://thoisukynguyen2000.blogspot.com/2009/07/thomas-jefferson-tac-gia-ban-tuyen-ngon.html</link><author>noreply@blogger.com (Thoi Su Ky Nguyen 2000)</author><thr:total xmlns:thr='http://purl.org/syndication/thread/1.0'>0</thr:total></item><item><guid isPermaLink='false'>tag:blogger.com,1999:blog-4128474229374807245.post-4905382624925410970</guid><pubDate>Fri, 03 Jul 2009 16:10:00 +0000</pubDate><atom:updated>2009-07-03T09:11:09.076-07:00</atom:updated><category domain='http://www.blogger.com/atom/ns#'>NGUYÊN NHÂN CỦA CUỘC CÁCH MẠNG HOA KỲ - 1776-Phạm Văn Tuấn</category><title>NGUYÊN NHÂN CỦA CUỘC CÁCH MẠNG HOA KỲ - 1776-Phạm Văn Tuấn</title><description>&lt;p style="text-align: center;" class="MsoNormal"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-size: 13.5pt; color: red;"&gt;NGUYÊN NHÂN CỦA CUỘC CÁCH MẠNG HOA KỲ - 1776 &lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;   &lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 112, 192);"&gt;  &lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;   &lt;b&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 112, 192);"&gt;&lt;a rel="nofollow" target="_blank" href="http://www.vantuyen.net/?view=author&amp;amp;id=2380"&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 112, 192); text-decoration: none;"&gt;Phạm Văn Tuấn&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 112, 192);"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-size: 13.5pt; color: red;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-size: 13.5pt; color: black;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; color: rgb(0, 32, 96);"&gt;1/ Cuộc Chiến Tranh 7 Năm và hậu quả.&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; color: black;"&gt;&lt;br /&gt;Vào đầu thế kỷ 18, cả hai nước Pháp và Anh đều tìm cách tranh quyền bá chủ trên mặt biển. Mỗi nước đều tìm kiếm các liên minh quân sự và bầu không khí chính trị của châu Âu đã trở nên căng thẳng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào năm 1740, Đại Đế Frederick của nước Phổ (Prussia) chiếm tỉnh Silesia của nước Áo, gây nên cuộc chiến tranh Silesia thứ nhất và thứ hai (1740-48). Nữ Hoàng Maria Teresa của nước Áo bèn tìm cách liên minh với các nước Pháp, Nga, Thụy Điển và xứ Saxony. Đại Đế Frederick sau khi liên kết với nước Anh, đã đưa quân chiếm xứ Saxony và cuộc Chiến Tranh 7 Năm (1756-63) bắt đầu. Hậu quả của cuộc chiến tranh này là nước Pháp bị thất bại, phải ký Hiệp Ước Hòa Bình &lt;span style="border-bottom: 1px dashed rgb(0, 102, 204); cursor: pointer;" class="yshortcuts" id="lw_1246636333_0"&gt;Paris&lt;/span&gt; 1763 (the Peace of Paris). Nước Pháp phải nhượng toàn thể miền đất &lt;span style="border-bottom: 1px dashed rgb(0, 102, 204); cursor: pointer;" class="yshortcuts" id="lw_1246636333_1"&gt;Canada&lt;/span&gt; và vài hải đảo trong vùng biển Tây Ân (West Indies) cho nước Anh và bồi thường cho nước Tây Ban Nha bằng miền đất Louisiana nằm tại phía tây của dòng sông Mississippi, trong khi đó nước Anh cũng chiếm được miền đất &lt;span style="border-bottom: 1px dashed rgb(0, 102, 204); cursor: pointer;" class="yshortcuts" id="lw_1246636333_2"&gt;Florida&lt;/span&gt; do Tây Ban Nha nhường lại. Từ nay, nước Phổ trở nên một cường quốc chính của châu Âu và nước Anh bắt đầu xây dựng một đế quốc với lãnh thổ có mặt trời không bao giờ lặn trên đó.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong cuộc Chiến Tranh 7 Năm, các người thuộc địa của Tân Thế Giới đã đứng về phía mẫu quốc Anh, họ là các dân quân cùng chiến đấu bên cạnh binh lính Anh mặc áo đỏ. Khi Hiệp Ước Hòa Bình Paris được ký kết vào năm 1763 và khi nước Anh bắt đầu nhận được miền đất Canada từ nước Pháp và miền đất Florida từ nước Tây Ban Nha, thì một nhà ngoại giao thâm niên người Pháp là ông Charles Gravier, tức Bá Tước De Vergennes (Conte de Vergennes) đã tiên đoán rằng: “ các thuộc địa Anh do không còn bị đe dọa tại các miền biên giới nữa, sẽ không cần sự trợ giúp của mẫu quốc. Khi mẫu quốc Anh chuyển phí tổn quốc phòng cho các xứ thuộc địa gánh chịu, thì các xứ này sẽ tuyên bố độc lập“. Không có lời tiên đoán nào chính xác hơn câu nói của ông Gravier!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trận Chiến Tranh 7 Năm đã làm khô cạn ngân quỹ của Vua George III. Ngay sau khi đã có Hiệp Ước Hòa Bình, chính quyền Anh bắt đầu giảm bớt quân đội và cắt đi các chi phí của Hải Quân. Tại Bắc Mỹ, 10,000 binh lính Anh vẫn còn được duy trì để bảo vệ các xứ thuộc địa khỏi sự quấy phá của các bộ lạc da đỏ do những người Pháp buôn lông thú xúi giục. Vì lý do này, chính quyền tại &lt;span style="border-bottom: 1px dashed rgb(0, 102, 204); cursor: pointer;" class="yshortcuts" id="lw_1246636333_3"&gt;London&lt;/span&gt; đã đòi các người thuộc địa Bắc Mỹ phải trả phí tổn vì sự bảo vệ kể trên. Để có tiền, Quốc Hội Anh đã thông qua Đạo Luật Đường (the Sugar Act) năm 1764 theo đó, 3 xu thuế được đánh lên mỗi gallon mật là nguyên liệu làm rượu rum, nhập cảng vào Tân Thế Giới. Cách đánh thuế này không đặt căn bản trên chính sách mậu dịch mà chỉ là một cách làm tăng thêm lợi tức. Trước sự bất công này, một nhà ngoại giao của các xứ thuộc địa Bắc Mỹ là ông Benjamin Franklin đã qua nước Anh và đề nghị một giải pháp theo đó nước Anh nên thành lập một ngân hàng cho các người thuộc địa vay tiền và dùng tiền lời để trả chi phí cho quân đội Anh trú đóng tại Bắc Mỹ. Nhưng Quốc Hội Anh đã không lắng nghe lời đề nghị kể trên.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đạo Luật Đường tuy được ban ra nhưng đã chỉ mang lại một lợi tức rất nhỏ, vì thế đạo luật này được sửa đổi vào năm 1764 theo đó các người thuộc địa phải trả thuế đánh vào các mặt hàng nhập cảng như đường, rượu chát và các nhu yếu phẩm khác. Để tránh thuế, nạn buôn lậu tại Tân Thế Giới gia tăng. Các nhân viên quan thuế Anh được lệnh xét hỏi các nhà buôn, tìm kiếm hàng lậu. Dù vậy, lợi tức do Đạo Luật Đường mang lại vẫn không đủ nên vào năm 1765, Đạo Luật Tem Thuế (the Stamp Act) được ban hành. Đây là thứ thuế trực thu (direct tax) đánh vào mọi ấn phẩm của các xứ thuộc địa Bắc Mỹ, gồm cả báo chí, văn bản pháp luật, các tập sách mỏng, các cỗ bài. Người dân nào vi phạm đạo luật này sẽ không được xét xử trước một bồi thẩm đoàn mà sẽ bị lôi ra trước một tòa án hải quân (admiralty court) là nơi chỉ có một vị quan tòa ngồi xác định số tiền nộp phạt và vị quan tòa này cũng nhận được 5 phần trăm tiền hoa hồng của số tiền đóng phạt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đạo Luật Tem Thuế đã gây nên sự phản đối mãnh liệt của các người thuộc địa. Họ coi đây là một vi phạm trắng trợn vào các quyền lợi của họ. Từ xưa, họ vẫn tin tưởng vào sự phân quyền giữa nước Anh và các xứ thuộc địa theo đó, nước Anh chịu trách nhiệm đối với các vấn đề đối ngoại như tuyên chiến, ký kết hòa bình, điều hành mậu dịch, đối phó với các vấn đề thổ dân da đỏ và công việc Bưu Chính, còn các xứ thuộc địa bắt chước đường lối tổ chức chính quyền của mẫu quốc Anh bằng cách thành lập các hội đồng địa phương để quản trị các vấn đề nội bộ kể cả việc tăng thuế, duy trì quân đội và luật pháp. Đạo Luật Tem Thuế như vậy đã vi phạm các quyền lợi của người dân thuộc địa vì họ là thần dân của nước Anh, chịu thuế mà không có đại diện. Sự việc này là một vi phạm vào nền độc lập của các hội đồng dân cử địa phương, xen lấn vào nền mậu dịch và kỹ nghệ của họ, đòi hỏi một thứ thuế bất công và quân đội Anh đóng trên mảnh đất của họ là để bắt họ phải tuân phục. Tóm lại, đây là một bước trong việc tước bỏ Tự Do của họ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; color: rgb(0, 32, 96);"&gt;2/ Sự khác biệt giữa nước Anh và các thuộc địa Bắc Mỹ.&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; color: black;"&gt;&lt;br /&gt;Các người thuộc địa định cư trên miền đất Bắc Mỹ rất quen thuộc với công việc tham gia vào chính quyền. 12 năm sau khi thị trấn &lt;span style="border-bottom: 1px dashed rgb(0, 102, 204); cursor: pointer;" class="yshortcuts" id="lw_1246636333_4"&gt;Jamestown&lt;/span&gt; được thành lập tại xứ Virginia, người dân của địa phương này đã lập ra một hội đồng dân cử, được gọi là Hội Đồng Dân Biểu Burgesses (the House of Burgesses). Vào năm 1620, khi con tầu Mayflower còn đang lênh đênh trên biển cả, các người Pilgrims đã thảo ra “Bản Điều Lệ Mayflower” (the Mayflower Compact). Tới khi các xứ thuộc địa phát triển, mỗi xứ đều bầu lên một hội đồng dân cử để bảo vệ và duy trì "tự do" của những người định cư. Các người Thanh Giáo tới Tân Thế Giới để được tự do tín ngưỡng. Hai xứ Rhode Island và &lt;span class="yshortcuts" id="lw_1246636333_5"&gt;Maryland&lt;/span&gt; đã chủ trương hoàn toàn tự do tôn giáo. Người Công Giáo (Catholics) an cư tại xứ Maryland. Bên cạnh đó là xứ &lt;span class="yshortcuts" id="lw_1246636333_6"&gt;Pennsylvania&lt;/span&gt; thuộc về người theo đạo Quakers. Người Hòa Lan định cư tại Amsterdam, nơi mà ngày nay là tiểu bang &lt;span class="yshortcuts" id="lw_1246636333_7"&gt;New York&lt;/span&gt;. Nền giáo dục cũng được dân thuộc địa chú ý. Đại Học Harvard được thành lập năm 1636, chỉ 16 năm sau khi dân Pilgrims đặt chân lên đất liền. Năm 1647, xứ &lt;span style="border-bottom: 1px dashed rgb(0, 102, 204); cursor: pointer;" class="yshortcuts" id="lw_1246636333_8"&gt;Massachusetts&lt;/span&gt; cung cấp cho dân chúng nền giáo dục tiểu học.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tại Tân Thế Giới, đất đai rất rẻ tiền hoặc cho không. Một người dân thường chỉ cần đi tới vùng biên giới, dựng nên một căn nhà gỗ và khai quang một mảnh đất, người đó đã trở nên một chủ đất. Một người làm công sau khi hết thời hạn làm mướn, có thể sở hữu một nông trại. Gỗ rừng nhiều vô kể. Tại các hải cảng đều có các sân đóng tầu và các kỹ nghệ nhỏ bắt đầu phát triển : xay ngũ cốc, dệt vải, làm da thuộc và chế tạo các đồ dùng kim loại. Người dân định cư trên các xứ thuộc địa Bắc Mỹ đều chăm chỉ, nhiều sáng kiến, biết khai thác các tài nguyên thiên nhiên, nhờ vậy nền kinh tế của họ phát triển. Các con tầu biển của Bắc Mỹ đã chở hàng hóa tới bán tại các hải cảng thuộc vùng biển Tây Ân.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trên miền đất phía tây của Bắc Mỹ, các người định cư đổ về thung lũng &lt;span class="yshortcuts" id="lw_1246636333_9"&gt;Ohio&lt;/span&gt; và các kẻ đầu cơ đất đai rất bận rộn khai thác miền hoang dã, lấn chiếm lãnh thổ của người da đỏ địa phương, săn bắn các thú vật có lông, bán rượu rum cho thổ dân da đỏ và lường gạt họ về lông thú. Các việc lấn đất của người da trắng vẫn tiếp tục dù cho có Bản Công Bố Năm 1763 (the Proclamation of 1763) của nước Anh ngăn cấm các người định cư không được mua đất bên ngoài đường ranh nối nguồn của các dòng sông chảy vào Đại Tây Dương.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào thế kỷ 18, nước Anh còn là một quốc gia do nhiều nhà quý tộc cai trị. Đây là những người danh giá, xuất thân từ các gia đình quyền quý, được giáo dục theo một nền văn hóa cao cấp và uyên thâm trong khi đó, người dân Anh bình thường không có được các cơ hội thăng tiến, họ chấp nhận địa vị thấp hèn, lệ thuộc, họ phải làm việc cực nhọc, kính trọng cấp trên và tuân phục các kẻ quyền thế. Nhưng tại Tân Thế Giới, đời sống khác hẳn. Xã hội của những người thuộc địa mang đặc tính dân chủ. Tại Bắc Mỹ, đã không có các hầu tước, các nhà quý tộc. Cách thức giao tế tại nơi này có tính mộc mạc, quê mùa, đơn giản. Miền hoang dã này đã thu hút những tinh thần độc lập và cuộc sống nơi biên giới nghèo nàn đòi hỏi ở người khẩn hoang lòng tự tin, cách tự quản trị. Tại xứ thuộc địa, đã không có các di sản thừa kế, không có các đặc quyền do dòng họ truyền xuống. Các cơ hội tại Tân Thế Giới làm cho mọi người dân có đầu óc năng động, tranh đấu, họ không bị giới hạn bởi tập quán cũ, giai cấp xã hội cũ, họ ưa thích tính đơn giản, tự do, phóng khoáng&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Giữa xã hội Anh và xã hội thuộc địa đã có rất nhiều khác biệt. Chế độ quý tộc tại nước Anh đã sống theo nghi thức, quy lệ, phép lịch sự. Các nhà lãnh đạo Anh đã khinh rẻ thói quê mùa của người dân Bắc Mỹ, từ y phục thô sơ, lời nói vụng về, tới cử chỉ thiếu lịch sự, thiếu nền giáo dục cao cấp. Năm 1750, các chính khách của nước Anh tin tưởng rằng Quốc Hội Anh là đại diện của toàn thể dân tộc Anh, kể cả những người xa xứ, không bỏ phiếu tại quê nhà. Quốc Hội Anh có toàn quyền đối với các xứ thuộc địa, có thể đặt ra luật pháp, bắt buộc dân thuộc địa phải tuân phục, đánh thuế lên loại người dân xa xứ này và ngay cả có quyền giải tán các hội đồng dân cử của các miền đất mới.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngược lại, các nhà ái quốc Bắc Mỹ của thời đại đó lại không tin tưởng vào Quốc Hội Anh. Họ cho rằng Quốc Hội Anh phải tôn trọng một số quyền lợi tự nhiên của con người và họ coi là vô hiệu các hành động nào của Quốc Hội mang tính cách tước đoạt những quyền lợi tự nhiên đó. Vì thế, Vua nước Anh và không phải là Quốc Hội Anh, đã là sợi dây kết nối mẫu quốc Anh với các chính quyền thuộc địa. Các khế ước ban đầu giữa Vua nước Anh và những người định cư đầu tiên đã cho người dân thuộc địa và con cháu của họ các quyền lợi về đời sống, tự do và tài sản. Tới khi Quốc Hội Anh tìm cách tước đoạt đi các quyền lợi này, thì khế ước ban đầu coi như bị hủy bỏ và người dân xứ thuộc địa Bắc Mỹ không còn phải trung thành với Vua nước Anh nữa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một khuyết điểm khác của chính quyền Anh thời đó là thiếu hẳn một cơ quan trung ương quản trị các xứ thuộc địa. Chính quyền hành pháp của nước Anh lại bị phân hóa giữa nhiều bộ sở và ủy ban, những cơ quan này đã không hành động nhanh chóng và phối hợp. Bộ Mậu Dịch Anh là cơ quan hiểu rõ nhất các xứ thuộc địa lại không có quyền quyết định về các đạo luật, các nghị định áp dụng tại miền Tân Thế Giới, trong khi chính quyền Anh còn có tham nhũng, hối lộ và các nhà cai trị gửi qua các xứ thuộc địa là những người không đủ hiểu biết và không có khả năng nắm giữ các chức vụ khó khăn tại các miền đất mới. Khoảng cách giữa nước Anh và miền Bắc Mỹ cũng là một trở ngại trong việc thi hành các chính sách thuộc địa. Edmund Burke đã viết rằng:”sóng biển đã làm cho mệnh lệnh và việc thi hành mất nhiều tháng”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào năm 1760, Vua George III lên ngai vàng. Nhà Vua cố tìm cách nắm quyền cai trị nước Anh và chế ngự Quốc Hội Anh. Chính quyền chia rẽ từ cấp trên, các yếu tố đảng phái, sự bất lực và tham nhũng, các thay đổi chính sách càng khiến cho việc quản trị miền Tân Thế Giới thiếu đi tính nhất quán. Vị Thủ Tướng của nước Anh vào năm 1763 là ông George Grenville lại không hiểu rõ nguyện vọng của người dân thuộc địa Bắc Mỹ, ông đã tìm cách khai thác các xứ thuộc địa sao cho có lợi nhất cho nước Anh. Tại miền Tân Anh Cát Lợi, người dân bị cấm đoán cắt xẻ các cây gỗ lớn có thể dùng làm cột buồm cho tầu Hải Quân Anh. Đất đai tại miền tây cũng bị kiểm soát. Nước Anh còn muốn khống chế nền mậu dịch của Tân Thế Giới. Theo thuyết “Trọng Thương” (the mercantile theory), các thuộc địa Anh phải tiêu thụ các sản phẩm của nước Anh và được hướng dẫn sản xuất ra các mặt hàng nào mà nước Anh không làm ra được, rồi trao đổi sản phẩm tại các hải cảng Anh. Các hội đồng dân cử địa phương của Bắc Mỹ không được quyền giới hạn việc bán ra các hàng hóa Anh tại Tân Thế Giới và một loạt các đạo luật mậu dịch (Acts of Trade) đã giới hạn rất nhiều các cơ hội phát triển của các xứ thuộc địa. Ngoài ra, tất cả các sản phẩm xuất và nhập cảng vào các xứ thuộc địa Bắc Mỹ đều phải do các tầu biển Anh chuyên chở.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đối với dân thuộc địa Bắc Mỹ, họ rất bất mãn. Sản phẩm nông nghiệp của họ bán ra nước ngoài đã không đủ để mua vào các loại hàng hóa sản xuất từ nước Anh. Họ nhận thấy họ bị các nhà buôn Anh bóc lột. Giải pháp của họ là phải phát triển các cơ sở sản xuất địa phương, chủ trương tự do mậu dịch. Vào năm 1688, chỉ có vào khoảng 200,000 người sinh sống trên các xứ thuộc địa của Anh. Vì các nơi định cư còn rải rác, nền kinh tế chưa phát triển, các xứ thuộc địa đã không tìm cách chống lại các giới hạn kinh tế của nước Anh. Nhưng vào năm 1770, dân số Bắc Mỹ đã lên tới 1.5 triệu người. Tại 4 xứ thuộc địa Tân Anh Cát Lợi miền bắc, người dân phần lớn sống bằng nông nghiệp, buôn bán lông thú và đóng tầu biển. Các xứ thuộc địa miền trung có nhiều sắc dân khác nhau, văn hóa và tôn giáo khác nhau, kể cả những người mới đến định cư từ nước Đức và từ mạn bắc xứ Ái Nhĩ Lan, họ chuyên về nông nghiệp nhiều hơn. Người dân của các xứ thuộc địa phía nam lại sống nhờ thuốc lá, gạo và bông gòn trồng trong các đồn điền. Chính những đồn điền này đã thuê mướn các dân nô lệ da đen chở tới từ châu Phi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tại mọi phần đất thuộc địa đều có một hình thức dân chủ đơn giản với mỗi tỉnh có một hội đồng tỉnh và mỗi xứ thuộc địa có một hội đồng dân cử (assembly) để thông qua các đạo luật mà xứ thuộc địa áp dụng. Đại biểu của loại hội đồng dân cử này là các thương gia, các chủ đồn điền giàu có và sự đại diện được phân phối rộng rãi hơn là tại Quốc Hội của nước Anh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo lý thuyết, mỗi hội đồng dân cử thuộc quyền hành của vị thống đốc thuộc địa (colonial governor) và hội đồng các bộ trưởng (council of ministers) và những vị này có quyền phủ quyết các đạo luật mới vì quyền lợi của chính quyền Anh. Nhưng vị thống đốc này lại lãnh lương bổng do hội đồng dân cử trả và hội đồng này có thể làm khó khăn đối với vị thống đốc khi họ không đồng ý về một chính sách hay một sự bổ nhiệm nào đó và như vậy, hội đồng dân cử đã nắm các quyền hành chính trị địa phương.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thời gian đã tới khi các người thuộc địa Bắc Mỹ nhận ra rằng họ có thể tự làm được những gì cần thiết cho họ mà không cần tới sự trợ giúp của người Anh nữa. Các tự do phát triển kinh tế mà người dân thuộc địa trông đợi đã vượt qua sự cần thiết bảo vệ các miền đất biên giới tại Bắc Mỹ. Sự chống đối người Anh theo quy mô lớn tại Tân Thế Giới bắt đầu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; color: rgb(0, 32, 96);"&gt;3/ Các chống đối ban đầu.&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; color: black;"&gt;&lt;br /&gt;Cơ sở đầu tiên chống đối chính quyền Anh là các ủy ban thư tín (committees of correspondence) đặt tại các thị trấn miền Tân Anh Cát Lợi, nhất là tại thành phố &lt;span style="border-bottom: 1px dashed rgb(0, 102, 204); cursor: pointer;" class="yshortcuts" id="lw_1246636333_10"&gt;Boston&lt;/span&gt; và do đề nghị của ông Samuel Adams. Các ủy ban này đã khiến cho dân chúng tại các địa phương khác nhau và xa nhau, liên lạc được với nhau. Lớp người chống đối kế tiếp là các đại biểu cấp tỉnh (provincial congresses). Họ đã hội họp với nhau để bàn luận các vấn đề chính quyền địa phương, bất chấp sự ngăn cấm của các thống đốc người Anh và sau này, khi chính quyền Anh không được dân chúng địa phương công nhận thì các đại biểu cấp tỉnh đã đặt ra luật pháp, kiếm ra tiền và tổ chức quân đội.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi Đạo Luật Tem Thuế bị chống đối, một luật sư của xứ Maryland là ông Daniel Dulany đã viết rằng Quốc Hội Anh có thể đánh thuế thu ngoài (external taxes) lên nền mậu dịch của các xứ thuộc địa, mà không có quyền áp đặt thứ thuế thu trong (internal taxes) vào dân chúng. Sự phân biệt rõ ràng này rất phổ biến tại Bắc Mỹ thời đó. Vào tháng 12 năm 1767, một nhân vật chống đối khác là ông John Dickinson của xứ &lt;span style="border-bottom: 1px dashed rgb(0, 102, 204); cursor: pointer;" class="yshortcuts" id="lw_1246636333_11"&gt;Pennsylvania&lt;/span&gt; cũng viết trong “Các Bức Thư của một Chủ Trại miền Pennsylvania” (Letters of a Farmer in Pennsylvania) rằng khi mục đích của thuế vụ để làm thăng tiền nền mậu dịch của nước Anh, thuế vụ đó được coi là hữu lý nhưng khi các loại thuế chỉ được dùng để làm tăng lợi tức, các quyền tự trị của các xứ thuộc địa sẽ bị chấm dứt. Và cũng theo ông Dickinson, bằng cách kiểm soát số tiền trả cho các thống đốc thuộc địa, các hội đồng dân cử địa phương có thể điều khiển các thống đốc nhưng khi nước Anh dùng tiền thuế để trả lương cho các thống đốc thì các vị này sẽ khống chế các hội đồng địa phương.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi ông Charles Towshend làm Bộ Trưởng Tài Chính của nước Anh (Chancellor of the British Exchequer), phải chịu thuế tại Bắc Mỹ là các mặt hàng gồm có chì, sơn, giấy, thủy tinh và trà. Tại các xứ thuộc địa Bắc Mỹ, hội “Các người con trai của Tự Do” (the Sons of Liberty) đã tổ chức phản đối các nhân viên thuế vụ, rồi các nhà buôn đồng ý không nhập cảng mọi hàng hóa của nước Anh và hội “Các người con gái của Tự Do” (the Daughters of Liberty) kêu gọi mọi người không dùng các sản phẩm của Anh Quốc chẳng hạn như trà, là thứ bị đánh thuế bởi Đạo Luật Townshend.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các hành động chống đối đã lên cao điểm vào ngày 21-6-1768, khi nhân viên quan thuế chiếm giữ chiếc thuyền buồm “Tự Do” (Liberty) của ông John Hancok, một thương gia của thành phố Boston. Hàng ngàn người tại Boston đã biểu tình, đe dọa mạng sống của các nhân viên quan thuế, khiến cho những người này phải bỏ trốn. Khi tin tức về cuộc nổi loạn “Tự Do” lan tới nước Anh, 4 trung đoàn lính Anh, vào khoảng 4,000 binh sĩ, được điều động tới Boston để bảo vệ các nhân viên quan thuế.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sự khinh rẻ dân thuộc địa của binh lính Anh cùng với các công việc làm thêm của lớp quân nhân này đã cướp đi công ăn việc làm của người dân lao động Boston, đã dẫn tới rối loạn. Vào tháng 3 năm 1770, một xáo trộn đã xẩy ra. Một số người dân Boston đã nhạo báng một nhóm binh lính Anh. Nhóm này bèn nổ súng, giết chết 5 người. Sự việc này được gọi là “cuộc tàn sát Boston” (the Boston Massacre), đã gây nên phẫn nộ và dẫn tới những hệ quả về sau.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tới năm 1770, cách đánh thuế bởi đạo luật Townshend được vị Thủ Tướng mới là Lord North xét lại và theo đề nghị của Vua George III, thuế trà vẫn được duy trì để xác nhận quyền đánh thuế của nước Anh tại các xứ thuộc địa. Các nhà buôn Bắc Mỹ khi đó đã chấp nhận sự dung hòa này và các chống đối giảm dần nhưng do nạn buôn lậu, chỉ có 1/10 trà nhập cảng vào Bắc Mỹ chịu thuế.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tới năm 1773, Quốc Hội Anh lại ra một đạo luật cho phép Công Ty Đông Ấn của Anh (the British East India Company) chở trà tới các xứ thuộc địa Bắc Mỹ mà không phải trả thuế cho Anh Quốc. Công ty này sắp sửa phá sản và đang lưu trữ một số lượng trà tồn kho rất lớn. Nếu công ty Đông Ấn có được độc quyền bán một mặt hàng, họ sẽ có các độc quyền khác tại Bắc Mỹ và như vậy, sẽ lấn át nền mậu dịch địa phương. Vì vậy tại &lt;span class="yshortcuts" id="lw_1246636333_12"&gt;New York&lt;/span&gt; và &lt;span class="yshortcuts" id="lw_1246636333_13"&gt;Philadelphia&lt;/span&gt;, các con tầu biển Đông Ấn bị phản đối, không cho bốc hàng lên bờ. Trong khi đó tại bến cảng Boston, một nhóm dân địa phương đã ăn mặc giả làm thổ dân da đỏ, ném xuống biển khối lượng trà của công ty Đông Ấn trị giá khoảng 15,000 bảng Anh. Biến cố này được gọi là “Hành động Trà Boston” (the Boston Party). Đây là một sự kiện lớn nhất, đã gây nên cuộc Chiến Tranh Cách Mạng Hoa Kỳ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bởi vì Công Ty Đông Ấn thuộc Anh đã thi hành luật pháp của nước Anh nên sự kiện kể trên là một cách chống đối của các xứ thuộc địa đối với Vua George III và Thủ Tướng Lord North. Quốc Hội Anh đã phản ứng lại “hành động” chống đối tại bến cảng Boston bằng 5 đạo luật trừng phạt 1774, được các người dân thuộc địa gọi là “Năm Đạo Luật Cố Chấp” (the Five Intolerable Acts). Thứ nhất, Đạo Luật Hải Cảng Boston (the Boston Act) ra lệnh đóng cửa hải cảng Boston cho đến khi nào Công Ty Đông Ấn được bồi thường về số trà bị thiệt hại. Bởi vì mậu dịch là một huyết mạch của thành phố Boston, quyết định này đã ảnh hưởng xấu tới đời sống của mọi người dân địa phương, kể cả những người vô tội. Thứ hai, Đạo Luật Chính Quyền &lt;span class="yshortcuts" id="lw_1246636333_14"&gt;Massachusetts&lt;/span&gt; (the Massachusetts Government Act) sửa lại luật của xứ thuộc địa bằng cách xác định là nhà Vua nước Anh mà không phải là Quốc Hội Anh, có quyền bổ nhiệm Hội Đồng Thống Đốc (the Government's Council) và giới hạn các buổi họp thành phố còn một lần trong một năm và như vậy, dân địa phương không có quyền tự quản trị nữa. Đạo luật thứ ba là Luật Quản Trị Tư Pháp (the Impartial Administration of Justice Act) cho phép một nhân viên người Anh hay một binh lính Anh bị tố cáo trọng tội, có thể được đưa về nước Anh để xét xử và như vậy bị cáo này không phải trình diện trước bồi thẩm đoàn thù nghịch của xứ thuộc địa. Thứ tư, theo Đạo Luật Đóng Quân (the Quartering Act), vị thống đốc Massachusetts có quyền cho quân đội đồn trú tại các quán rượu hay tòa nhà nào còn chỗ trống tại Boston. Đạo luật thứ năm không có tính trừng phạt các xứ thuộc địa mà chỉ nới rộng các biên giới của tỉnh Quebec tới dòng sông &lt;span class="yshortcuts" id="lw_1246636333_15"&gt;Ohio&lt;/span&gt; và dành cho người Công Giáo La Mã trong tỉnh đó nền tự do tôn giáo và sự bảo vệ luật pháp của cả nước Anh lẫn nước Pháp.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Để giám sát các đạo luật “cố chấp” này, Quốc Hội Anh đã bổ nhiệm Trung Tướng Thomas Gage, tư lệnh các lực lượng Anh tại Bắc Mỹ, làm thống đốc xứ Massachusetts. Nếu các xứ thuộc địa Bắc Mỹ chấp nhận 5 đạo luật cố chấp có tính trừng phạt này, họ sẽ bị mất đi quyền tự quản trị, các hội đồng dân cử địa phương sẽ mất quyền và sẽ có sự pha trộn hai thứ quyền hành quân sự và quyền hành dân sự.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào tháng 6 năm 1774, các nhà lãnh đạo chính trị của xứ Massachusetts đã kêu gọi tất cả các xứ thuộc địa cần phải triệu tập một thứ quốc hội và yêu cầu các xứ này gửi nhiều đại biểu tới họp. 44 đại biểu đã có mặt tại Sảnh Đường Carpenters (Carpenters' Hall) thuộc thành phố Philadelphia vào ngày 5 tháng 9 năm 1774, rồi sau đó còn có thêm các đại biểu khác, ngoại trừ xứ Georgia, nâng tổng số lên 56 người. Xứ thuộc địa Georgia không tham gia vì họ e sợ rằng nếu họ gửi đại biểu đi họp thì nước Anh sẽ không giúp họ trong việc chống lại bộ lạc da đỏ Creek (the Creek Indians). Tất cả các đại biểu đã đồng thanh chọn ông Peyton Randolph của xứ Virginia làm chủ tịch của Quốc Hội Lục Địa đầu tiên, và trong số các đại biểu ban đầu, có các nhân vật danh tiếng như George Washington, Patrick Henry, John Jay, John Adams và Samuel Adams. Vào năm sau, Quốc Hội này còn có Benjamin Franklin và Thomas Jefferson. Hội họp một cách kín đáo, các đại biểu này đã bác bỏ kế hoạch đề nghị bởi ông Joseph Galloway của xứ &lt;span class="yshortcuts" id="lw_1246636333_16"&gt;Pennsylvania&lt;/span&gt;, theo đó Quốc Hội Lục Địa nên tìm cách dung hòa chính quyền Anh với nền Tự Do của các xứ thuộc địa. Trái lại, họ đã bỏ phiếu, đồng thanh chấp nhận một bản tuyên ngôn về các quyền lợi, gồm có các quyền về đời sống, tự do, tài sản, quyền hội họp, quyền được xét xử trước một bồi thẩm đoàn. Họ cũng đòi hỏi xét lại các bất công tích lũy từ năm 1763.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Quốc Hội đầu tiên của 13 xứ thuộc địa Bắc Mỹ này ngay từ lúc đầu chỉ muốn xác định các quyền lợi của người dân Tân Thế Giới, giới hạn các quyền hành của Quốc Hội Anh và đồng lòng với nhau về các chiến thuật đối với 5 đạo luật “cố chấp”. Sau đó, các đại biểu Quốc Hội đồng ý tạm hoãn hội họp cho tới tháng 5 năm 1775. Chính vào thời gian này, các xung đột lại gia tăng khiến cho các đại biểu của các xứ thuộc địa phải tổ chức một chính quyền trung ương và một quân đội lục địa rồi Cuộc Cách Mạng Hoa Kỳ dần dần thành hình.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4128474229374807245-4905382624925410970?l=thoisukynguyen2000.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</description><link>http://thoisukynguyen2000.blogspot.com/2009/07/nguyen-nhan-cua-cuoc-cach-mang-hoa-ky.html</link><author>noreply@blogger.com (Thoi Su Ky Nguyen 2000)</author><thr:total xmlns:thr='http://purl.org/syndication/thread/1.0'>0</thr:total></item><item><guid isPermaLink='false'>tag:blogger.com,1999:blog-4128474229374807245.post-6756341060970046950</guid><pubDate>Fri, 03 Jul 2009 16:06:00 +0000</pubDate><atom:updated>2009-07-03T09:10:12.216-07:00</atom:updated><category domain='http://www.blogger.com/atom/ns#'>CÁC TRẬN CHIẾN TRONG CUỘC CÁCH MẠNG HOA KỲ - 1776</category><title>CÁC TRẬN CHIẾN TRONG CUỘC CÁCH MẠNG HOA KỲ - 1776</title><description>&lt;p style="text-align: center;" class="MsoNormal"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style=";font-size:13;color:red;"  &gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;&lt;p style="text-align: center;" class="MsoNormal"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style=";font-size:13;color:red;"  &gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;&lt;p style="text-align: center;" class="MsoNormal"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style=";font-size:13;color:red;"  &gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt;CÁC TRẬN CHIẾN TRONG CUỘC CÁCH MẠNG HOA KỲ - 1776 &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;   &lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style=";font-size:13;color:red;"  &gt;  &lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;   &lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 112, 192);"&gt;Phạm Văn Tuấn.&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;   &lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style=";color:black;" &gt;1/ Trận Lexington, Concord và Boston.&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style=";font-size:130%;color:black;"  &gt;&lt;br /&gt;Vào năm 1775, đã có sự chia rẽ trong dân chúng của 13 xứ thuộc địa Bắc Mỹ. Một số người dân muốn đòi hỏi nền độc lập khỏi nước Anh, họ được gọi là các nhà "ái quốc" (the Patriots). Đối lập với họ là những người "trung thành" (the Loyalists) với Vua George III, hoặc là các đảng viên Tories. Các người trung thành gồm có các thương gia và chủ đất giàu sang, họ muốn duy trì nếp sống phong lưu đang có sẵn. Họ cũng là người dân thường hãnh diện là công dân của nước Anh, hay những người không muốn bị lôi cuốn vào chiến tranh, những người dân này chống đối các nhà ái quốc, coi việc làm áp lực đối với chính quyền Anh là bất hợp pháp và vi hiến. Trong khi đó vẫn có các chương trình hòa giải sự khác biệt chính trị giữa nước Anh và các xứ thuộc địa. Lord North cho rằng nước Anh sẽ không đánh thuế các xứ này nếu họ cung cấp đầy đủ lợi tức cho binh lính Anh trú đóng tại Bắc Mỹ. Edmund Burke lại muốn các người thuộc địa tự quản trị và bỏ phiếu quyết định về thuế vụ của họ, còn William Pitt, lúc này là Lord Chatham, mong muốn xét lại các đạo luật "cố chấp" và hứa rằng Quốc Hội Anh sẽ lại đánh thuế khi có sự đồng ý của các hội đồng dân cử Bắc Mỹ. Một số chính khách người Anh khác bằng lòng về sự đại diện của các xứ thuộc địa tại Quốc Hội Anh. Cuối cùng, tất cả các kế hoạch kể trên đều thất bại và miền đất Bắc Mỹ mang bầu không khí chiến tranh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tới thời gian này, tại các tỉnh các nhà ái quốc đã tổ chức các toán quân Minutemen, đây là những dân quân phải sẵn sàng chiến đấu vào giờ phút thông báo. Mặt khác, các kẻ "trung thành" phải tuyên thệ với lý tưởng "ái quốc", một số người bị bắt giam, một số khác có đất đai và tài sản bị tịch thu và bị đẩy ra khỏi cộng đồng. Vào thời kỳ này, các người trung thành phải chọn lựa, hoặc là chống lại các người ái quốc, hoặc bỏ chạy. Hơn 50,000 người trung thành đã theo quân đội Anh hoặc ở lại làm các kẻ tình báo. Tại xứ New York, có 15,000 người trung thành trở nên binh lính Anh và 8,000 người là dân trung thành địa phương. Trong 8 năm tiếp theo, đã có 80,000 người trung thành rời bỏ các xứ thuộc địa, chạy qua sống tại phần đất phía bắc của Hồ Erie và sau này, họ đã lập nên xứ Canada nói tiếng Anh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào thời kỳ này, dân chúng cư ngụ đông đảo nhất là tại phần đất giữa hai thành phố Boston và Philadelphia và cũng chính tại nới này mà tinh thần chống lại người Anh lên cao nhất. Đêm hôm 18 rạng ngày 19 tháng 4 năm 1775, Tướng Gage theo lệnh của Thủ Tướng Lord North, đã phái đi 800 binh lính tới thị trấn Concord cách thành phố Boston 29 cây số (vào khoảng 18 dậm) để tịch thu một số súng đạn của dân quân địa phương. Việc xuất quân này đã không tránh khỏi sự canh chừng của các nhân viên thuộc Ủy Ban An Ninh (the Committee of Safety). Một bác thợ bạc của thành phố Boston tên là Paul Revere đã cưỡi ngựa suốt đêm, đi thông báo cho dân làng biết rằng binh lính Anh đang di chuyển tới Lexington để bắt hai ông Samuel Adams và John Hancock và tới Concord để tịch thu súng đạn. Sáng ngày hôm sau, 19-4, binh lính Anh khi tới thị trấn Lexington, đã gặp một nhóm vào khoảng 70 dân quân ái quốc. Vị chỉ huy binh lính Anh là Thiếu Tá John Pitcairn đã ra lệnh cho các dân quân thuộc địa buông súng. Không ai tuân lệnh. Súng nổ. 8 dân quân bị chết và 1 người bị thương nặng là Đại Ủy John Parker thuộc toán dân quân. Sau đó, toán dân quân rút lui và binh lính Anh tiếp tục tiến đến thị trấn Concord cách đó vài dậm. Tại nơi này, súng đạn của dân quân đã được tẩu tán. Bính lính Anh lục soát vô hiệu rồi sau đó, đã đốt nhiều căn nhà và tìm cách rút lui nhưng trên đường về, họ đã bị dân quân thuộc địa núp trong các bụi cây, các tòa nhà bắn sẻ. Khi trở về tới Boston, tổn thất về phía binh lính Anh là 73 người bị chết, 174 người bị thương và 26 người mất tích. Về phía dân quân thuộc địa, chỉ có 45 người bị thương với 49 người bị chết.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Giao tranh tại Lexington và Concord đã khiến cho các xứ thuộc địa Tân Anh Cát Lợi kêu gọi mọi người dân cầm súng và hội đồng dân cử xứ Massachusetts ra lệnh cho dân quân vây hãm thành phố Boston.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lúc khởi đầu, các người thuộc địa chưa có một quân đội thống nhất. Lực lượng quân sự của họ là các dân quân địa phương thiếu huấn luyện, chưa quen vâng lệnh cấp trên, cầm đầu bởi các người chỉ huy không có kinh nghiệm. Tổ chức quân đội này cũng chưa có một hệ thống trung ương lo nơi ăn, chốn ở, lo trả lương bổng cho các người lính chiến, lo súng đạn và quân trang cho họ. Trong khi đó 13 xứ thuộc địa chưa biết đoàn kết, còn e ngại rằng mỗi xứ phải gánh chịu các phần đóng góp nhiều hơn và tất cả các địa phương chưa biết hành động một cách thống nhất, theo kế hoạch chung. Cuộc Cách Mạng là một thứ gì mới mẻ và xa lạ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Biến cố xẩy ra tại Lexington và Concord với các toán dân quân địa phương tham chiến, với số thiệt hại về cả hai phía khá cao, đã khiến cho sự việc này được coi là một cuộc nổi dậy có võ trang chống lại người Anh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày 10 tháng 5 năm 1775, các đại biểu của các xứ thuộc địa lại hội họp tại Philadelphia, lần này được gọi là Quốc Hội Lục Địa Thứ Hai, để đối phó với tình hình mới. Các đại biểu đã sớm chấp nhận Quốc Hội là một chính quyền trung ương của "Các Thuộc Địa Liên Hiệp Bắc Mỹ" (the United Colonies of America) và công nhận toán quân vây hãm thành phố Boston thuộc "Quân Đội Lục Địa" (Continental Army) của họ. Quốc Hội Lục Địa Thứ Hai cũng chỉ định một nhà quý tộc 43 tuổi thuộc xứ Virginia làm Tư Lệnh Quân Đội, đó là ông George Washington. Nhiều lý do đã khiến cho ông Washington được chọn lựa. Thứ nhất, ông Washington đã là nhân viên của Hội Đồng Dân Biểu Burgesses hay hội đồng dân cử của xứ Virginia và vào thời gian này, Virginia là xứ thuộc địa rộng lớn nhất. Thứ hai, các xứ thuộc địa miền bắc muốn lôi cuốn các xứ miền nam tham gia vào cuộc chiến đấu. Thứ ba, ông Washington đã là một quân nhân có kinh nghiệm, đã từng tham chiến trong Cuộc Chiến Tranh 7 Năm, đã là phụ tá của một vị tướng người Anh và đang chỉ huy toán dân quân của địa phương Virginia.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngoài các ưu điểm xuất sắc về lập trường chính trị và quân sự, ông George Washington còn là một nhân vật cao lớn, uy nghiêm, có tinh thần vừa táo bạo, vừa bình tĩnh và tự tin. Quốc Hội đã yêu cầu ông Washington lập ra một kế hoạch phòng thủ thành phố New York, viết ra các kế hoạch xây dựng quân đội, các quy luật cho binh lính và các phương thức để mua súng đạn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 112, 192);"&gt;2/ Tướng Washington chỉ huy Quân Đội Lục Địa.&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style=";font-size:130%;color:black;"  &gt;&lt;br /&gt;Khi ông Washington nhận chức điều khiển quân đội, binh lính của ông chỉ là các nông dân, thợ rừng, các công nhân tầm thường hay thư ký cấp thấp, họ phục vụ quân đội theo hợp đồng với thời hạn ngắn hơn một năm. Họ chỉ là những người lính thiếu huấn luyện, thiếu thực phẩm, quần áo và súng đạn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào giai đoạn này, Quốc Hội Lục Địa chưa có quyền đánh thuế lên các xứ thuộc địa mà chỉ dám yêu cầu từng hội đồng dân cử cung cấp ngân khoản để mua súng đạn, chưa kể tới thực phẩm và lương bổng của binh lính. Trong khi đó, người lính được trả lương thì tiền bạc của họ là loại tiền giấy rất ít giá trị do Quốc Hội Lục Địa phát hành mà các thương gia và các chủ quán rượu không muốn nhận, họ ưa các đồng tiền vàng và tiền bạc hơn. Quốc Hội Lục Địa cũng chưa thể xin được trợ giúp từ các nước bên ngoài trong khi tại Bắc Mỹ, các người giàu có đều là những kẻ trung thành và các nhà ái quốc không dám tịch thu tài sản của họ vì e ngại sẽ gây nên làn sóng chống đối.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Với tinh thần và các phương tiện chiến đấu ban đầu thiếu thốn như vậy, không có dân quân địa phương nào muốn ký kết hợp đồng phục vụ quân đội lục địa lần thứ hai. Về sau, vào năm 1776, ông George Washington đã phải bi quan mà tuyên bố rằng "tinh thần lính đánh thuê và bạc nhược như vậy đã lan tràn mọi nơi khiến cho tôi không ngạc nhiên nếu có một thảm bại xẩy ra".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Về phía quân đội Anh, do không thể tuyển mộ các binh lính tình nguyện tại nước Anh nên Vua George III đã mướn vào khoảng 30,000 lính đánh thuê giàu kinh nghiệm tác chiến, phần lớn gốc từ các miền Hesse-Kassel, Brunswick và Hesse-Hanau của nước Đức, mà người Bắc Mỹ gọi chung là các người lính Hessians. Các đạo quân Anh ngoài súng đạn, lương thực, quân trang đầy đủ, còn được yểm trợ bởi một hậu phương giàu có, với tài nguyên kỹ nghệ và kinh nghiệm quân sự, bởi một hạm đội tầu biển có thể di chuyển tự do trên mọi bờ biển mà không có một lực lượng nào chống đối.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Quân Đội Lục Địa như vậy đã có rất nhiều yếu kém, nhưng lại có một ưu điểm rất lớn, hơn hẳn địch quân, đó là tính lưu động. Họ được trang bị nhẹ nhàng, mở các cuộc đột kích rồi lẩn tránh trong miền thôn quê, nơi đã có các người dân ái quốc yểm trợ cả về thực phẩm lẫn chỗ ẩn náu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngoài khó khăn phải đối phó với các vụ bắn sẻ, quân đội Anh còn gặp trở ngại về tiếp liệu. Người Bắc Mỹ địa phương đã từ chối cung cấp lương thực cho binh lính Anh khiến cho các đồ tiếp tế phải chở từ nước Anh trên các con tầu biển và cuộc hải hành phải mất từ 2 tới 3 tháng trên lộ trình dài 3,000 dậm với các trắc trở như bão táp, cướp biển. Đồ vật tiếp liệu khi được bốc dỡ lên bờ, lại phải được chuyên chở tới các căn cứ ở gần, có phòng thủ cẩn thận. Quân đội Anh còn có một nhiệm vụ khác là phải bảo vệ các người trung thành, vì vậy họ phải rút lui khỏi các căn cứ ở xa, khó tiếp tế. Thực vậy, làm sao quân đội Anh có thể kiểm soát nổi một miền đất bao la, trải dài từ xứ Maine ở phía bắc tới tận xứ Georgia ở phía nam, lại nằm sâu vào trong đất liền tới 300 dậm.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày 20-6-1775, Tướng George Washington nhận nhiệm vụ do Quốc Hội Lục Địa giao phó rồi lên đường đi Boston. Trong khi đó Tướng Anh Thomas Gage mới nhận được lực lượng tăng cường, nâng quân số lên tới 8,000 người. Tướng Gage bèn cho quân lính chiếm các điểm cao nhìn xuống thành phố Boston là Charlestown ở phía bắc và Dorchester tại phía nam, khi đó quân đội Lục Địa dưới quyền của Trung Tá William Prescott đóng chốt tại Breed's Hill. Ngày 17-6, Tướng Gage sai Thiếu Tướng William Howe với 2,500 bộ binh tiến đánh quân đội Lục Địa và phải sau 3 lần tấn công, dân quân Bắc Mỹ mới bỏ chạy và thua trận tại Bunker Hill. Sau trận đánh này, tổn thất của quân đội Anh là 1,000 người vừa chết vừa bị thương, số thiệt hại của quân đội Lục Địa chỉ bằng nửa. Quân đội Bắc Mỹ đã phải bỏ chạy khỏi Breed's Hill nên bị coi là thua trận này nhưng nếu xét về số thương vong thì quân đội Anh không phải là thắng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong khi trận Bunker Hill chưa xẩy ra, Quốc Hội Lục Địa đã gửi đơn thỉnh nguyện (the Olive Branch Petition) tới Vua George III của nước Anh, xác nhận lòng trung thành của người dân Bắc Mỹ đối với nhà Vua và yêu cầu nhà Vua bác bỏ các chính sách của những vị bộ trưởng dưới quyền. Lời thỉnh nguyện kể trên đã tới Vua nước Anh cùng lúc với tin tức về trận đánh Bunker Hill khiến cho Vua George III khước từ lời yêu cầu và vào ngày 23-8-1775, nhà Vua đã tuyên bố Tân Anh Cát Lợi là xứ phản loạn. Quốc Hội Anh cũng theo đó xác nhận sự phản bội của mọi người dân thuộc địa và tầu thuyền của họ đều đáng bị tịch thu. Ngoài ra, số thiệt hại của binh lính Anh tại trận đánh Bunker Hill đã làm cho chính quyền Anh thấy rằng họ đang phải đối đầu với một cuộc chiến tranh đích thực và cũng vì thế, Tướng Gage bị thay thế bởi Tướng Howe.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày 2-7-1775, Tướng George Washington tổ chức và huấn luyện lại đạo quân dưới quyền, với quân số từ 13,000 tới 17,000. Ông thấy rằng không thể đánh thành phố Boston mà không có pháo binh chủ động. Tướng Washington đành phải chờ tới mùa đông, lúc tuyết đóng băng trên các con đường và giòng sông, cho phép kéo đi các cỗ súng đại bác mà hai đại tá Ethan Allen thuộc miền Vermont và Benedict Arnold thuộc xứ Connecticut, đã chiếm được từ quân đội Anh nhân trận đánh đồn Ticonderoga bên hồ Champlain.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào tháng 8 năm đó, lực lượng quân đội Bắc Mỹ dưới quyền Tướng Richard Montgomery đã đánh xứ Canada, chiếm thành phố Montreal vào tháng 11 và vào tháng sau, sát nhập với đạo quân của Đại Tá Arnold, nhưng rồi quân đội Bắc Mỹ đã bị thua trận tại Quebec và Tướng Montgomery tử trận.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào mùa đông năm 1775-76, Đại Tá Henry Knox là chỉ huy trưởng Pháo Binh của Tướng Washington đã di chuyển được 59 khẩu đại bác hạng nặng và súng cối, từ Ticonderoga tới Boston. Đêm hôm 4-3-1776, lực lượng của Tướng Washington đã chiếm được Dochester Heights, đặt các khẩu đại pháo hướng về hải cảng Boston. Bị hướng súng bất ngờ, Tướng Howe thấy rõ không thể giữ được thành phố Boston nữa nên đành ra lệnh di tản. Ngày 17-3, hơn 11,000 quân đội Anh và 1,000 người trung thành đã xuống tầu, rời đi Halifax thuộc miền Nova Scotia. Đa số những người trung thành này không bao giờ có cơ hội nhìn lại thành phố Boston của họ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi quân lính Anh xuống tầu rút lui khỏi Boston, Tướng Washington đã biết rõ rằng người Anh chưa hẳn đã thua trận tại xứ thuộc địa. Thực vậy, Vua George III và Quốc Hội Anh đâu đã chịu bỏ cuộc và có nguồn tin cho biết nước Anh đang tuyển mộ các binh lính đánh thuê người Đức. Tướng Howe sở dĩ rút lui là để tổ chức lại lực lượng quân sự và chờ viện binh gửi qua. Tướng Washington đã tiên đoán rằng khi Tướng Howe trở lại thì thành phố New York với hải cảng rộng rãi, với nhiều sông rạch gần giòng sông Hudson nên rất thuận tiện cho lực lượng Anh lên bờ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày 29-6-1776, Tướng Howe tới Sandy Hook, N.J., với một đoàn tầu biển chỉ huy do Đô Đốc Richard Howe, một người anh em. Đoàn tầu này đã chở qua Bắc Mỹ một lực lượng viễn chinh của nước Anh lớn nhất từ xưa tới nay. Nểu kể cả 8,000 binh lính đánh thuê người Đức thì lực lượng quân sự này đông tới 32,000 người. Để đối đầu, Tướng George Washington chỉ có ít hơn 20,000 quân, một nửa trong số này là các người lính thiếu kinh nghiệm. Cả hai phe đang chuẩn bị trận chiến.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào tháng 11-1775, hy vọng hòa giải với nước Anh của các người miền Nam thuộc Tân Thế Giới đã bị tiêu tan khi Thống Đốc xứ Virginia là Lord John Dunmore đã trả tự do cho các người nô lệ nào chống lại chủ của họ và gia nhập vào quân đội Anh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;3/ Bản Tuyên Ngôn Độc Lập.&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;Vào thời kỳ các trận chiến xẩy ra tại Lexington và Concord, rất ít người thuộc địa muốn đòi hỏi độc lập khỏi nước Anh. Phần lớn các nhà chính trị Bắc Mỹ chỉ muốn một nền tự trị trong Đế Quốc Anh. Tháng 6 năm 1775, Tướng Washington đã hy vọng vào "nền hòa bình và hòa hợp giữa mẫu quốc và các thuộc địa", rồi ông Thomas Jefferson cũng trông đợi sự hòa giải. Trong khi đó, Quốc Hội Anh không xét lại 5 đạo luật "cố chấp", và vào tháng 8, Vua George III đã gọi các nhà "ái quốc" Bắc Mỹ là các kẻ làm loạn (rebels). Vào tháng 10-1775, quân Anh đốt phá thành phố Portland, Me., làm cho hàng ngàn người thuộc địa gặp cảnh không nhà khi mùa đông tới và có tin 20,000 lính đánh thuê Hessians đang được gửi đến Tân Thế Giới để dẹp cuộc nổi dậy cùng với sự xúi dục quấy phá của các người da đỏ tại các biên giới phía tây. Trước hoàn cảnh này, ông Thomas Jefferson đã viết :"Nhà Vua đã cưỡng đoạt các vùng biển của chúng ta, tàn phá các bờ biển, đốt cháy các thành phố và hủy diệt dân tộc chúng ta".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào tháng 1-1776, ông Thomas Paine đã viết ra tập sách mỏng "Lương Tri" (Common Sense) trong đó tác giả tự hỏi làm sao một dân tộc có thể vừa chống lại nhà vua, lại vừa trung thành với nhà vua? Thời kỳ hòa giải đã qua, và theo Thomas Paine, "Đây là lục địa Bắc Mỹ rộng lớn, thích hợp để trở nên quê hương của một giống người tự do. Hãy đừng để miền đất này nằm dưới chân của một vị vua không xứng đáng". Hàng ngàn người dân thuộc địa đã đọc được câu nói này và họ dần dần chấp nhận ý tưởng tách rời các xứ thuộc địa khỏi nước Anh. Trở ngại tâm lý đã được vượt qua.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào giai đoạn này, các xứ thuộc địa Bắc Mỹ không thể thắng được cuộc chiến nếu không có sự giúp đỡ của các quốc gia khác ở châu Âu và các nước này cũng không thể giúp các xứ thuộc địa khi mà người dân còn công nhận trung thành với Vua nước Anh. Ngoài ra, nếu không có độc lập, người dân Bắc Mỹ sẽ không thể ký kết các hiệp ước mậu dịch với các quốc gia khác, nền kinh tế sẽ bị kiềm chế và sẽ không thể phát triển đời sống no ấm của người dân.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào mùa xuân năm 1776, North Carolina là xứ đầu tiên gửi các đại biểu tới Quốc Hội Lục Địa để tuyên bố độc lập. Xứ Virginia và các xứ thuộc địa khác cũng tham gia vào cuộc bàn thảo. Ngày 7-6-1776, đại biểu Richard Henry Lee đã đưa ra một nghị quyết theo đó "các thuộc địa liên hiệp này là, và có quyền là các xứ tự do và độc lập, họ không trung thành với nhà Vua nữa và mọi liên hệ chính trị giữa họ và nước Anh phải bị hoàn toàn cắt đứt". Nghị quyết này chưa được các đại biểu chấp thuận ngay vì họ chưa được lệnh từ các xứ thuộc địa. Vì vậy một ủy ban khác được chỉ định để chuẩn bị một bản văn xác nhận về trường hợp tranh đấu của các xứ Bắc Mỹ. Ủy ban gồm các ông John Adams, Thomas Jefferson, Benjamin Franklin, Roger Sherman và Robert Livingston. Ông Thomas Jefferson được chọn để viết ra bản tuyên ngôn cần thiết, trình bày trước Quốc Hội vào ngày 28-6.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày 2-7, nghị quyết của Henry Lee được chấp thuận và bắt đầu cuộc tranh luận về bản tuyên bố của Jefferson. Trong một danh sách các lời tố cáo Vua George III, ông Thomas Jefferson cũng chỉ trích chế độ nô lệ và nghề buôn bán nô lệ. Các đại biểu của miền Nam là các xứ dùng người nô lệ đã không chấp nhận đề mục này.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào ngày 4-7-1776, Bản Tuyên Ngôn Độc Lập (the Declaration of Independence) được Quốc Hội chấp nhận. Tên họ của 56 đại biểu được liệt kê bên dưới các xứ mà họ đại diện. Chủ Tịch Quốc Hội là ông John Hancok ký vào Bản Tuyên Ngôn ngày 4-7. Phần lớn các đại biểu ký tên vào ngày 2-8. Lúc đầu bản văn này chưa xác nhận nền Độc Lập của các xứ thuộc địa Bắc Mỹ mà chỉ là một lời xác định về lý thuyết của chính quyền Bắc Mỹ trong đó có 3 điểm chính : (1) Thượng Đế đã tạo ra mọi người bình đẳng và cho họ các quyền lợi về đời sống, tự do và theo duổi hạnh phúc, (2) Công việc chính của chính quyền là bảo vệ các quyền lợi này, (3) nếu một chính quyền nào tìm cách ngăn cản các quyền lợi này thì người dân được tự do nổi dậy và thiết lập một chính quyền mới. Ba điểm này đã là căn bản cho việc thành lập các chính quyền tiểu bang sau khi Bản Tuyên Ngôn Độc Lập được đồng thanh chấp thuận.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các ý tưởng về nền độc lập và tự chủ đã được phổ biến trước kia tại nước Anh do John Locke qua tác phẩm "Về Chính Quyền Dân Sự" (On Civil Government), một lời biện hộ cho cuộc Cách Mạng Anh năm 1688 và tư tưởng của John Locke về "quyền theo đuổi tài sản" (the pursuit of property) đã được sửa đổi thành "quyền theo đuổi hạnh phúc" (the pursuit of happiness).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày 8 tháng 7 năm 1776, dân chúng của thành phố Philadelphia đã nghe thấy tiếng "Chuông Tự Do" (the Liberty Bell) kêu gọi họ tới nghe đọc Bản Tuyên Ngôn Độc Lập. Súng đại bác đã nổ vang và các kỵ mã đã mang tin quan trọng này đi xa, loan báo cho mọi người biết. Tướng George Washington cũng ra lệnh đọc Bản Tuyên Ngôn cho binh lính nghe để làm tăng thêm tinh thần chiến đấu của họ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong Lịch Sử của Nhân Loại, chưa bao giờ một đất nước thuộc địa với dân số nhỏ bé đã có nhiều nhà lãnh đạo tài năng hàng đầu như lúc này. George Washington là vị Tướng Tư Lệnh Quân Đội, đã duy trì được tinh thần chiến đấu bằng sự can đảm, kiên nhẫn và cứng dắn của ông trong các giờ phút đen tối nhất của lịch sử. Benjamin Franklin đã là đại biểu của Quốc Hội Lục Địa, qua nước Pháp để xin trợ giúp cho quốc gia Hoa Kỳ non trẻ, ông đã dùng tới mọi nghệ thuật ngoại giao để giành lấy thiện chí của mọi tầng lớp xã hội Pháp và ông đã trở nên một thần tượng của thành phố Paris. John Adams và Thomas Jefferson đã làm ổn định được các mối bất hòa trong Quốc Hội và đã lấy lại niềm tin của mọi người, còn Robert Morris lãnh nhiệm vụ kiếm tiền cho cuộc chiến tranh giành độc lập. Phía bên ngoài, toàn thể người dân Bắc Mỹ đã chịu đựng mọi cảnh thiếu thốn và gian nan, và nhờ tất cả các yếu tố này mà chính quyền quốc gia Hoa Kỳ được thành công.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau khi Bản Tuyên Ngôn Độc Lập được công bố, Bộ Trưởng Ngoại Giao của nước Pháp là ông Charles Vergennes đã trình bày với Vua Louis 16 rằng nước Anh sẽ ký hòa bình với các xứ thuộc địa Bắc Mỹ rồi sẽ cùng các xứ này chiếm các phần đất của nước Pháp tại vùng biển Tây Ấn.. Nước Pháp bèn công nhận ngay nền Độc Lập của Hoa Kỳ vào tháng 2 năm 1778 và thiết lập quan hệ đồng minh với Hoa Kỳ. Nước Pháp cũng giúp Hoa Kỳ về súng đạn và quân trang. Quân đội Pháp được gửi qua Bắc Mỹ chiến đấu giúp cuộc Cách Mạng và trong số các người tình nguyện, danh tiếng nhất là Hầu Tước De Lafayette.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sự trợ giúp Hoa Kỳ còn tới từ các nguồn khác. Bá Tước người Đức Frederick William von Steuben đã dạy cho các sĩ quan cách mạng nghệ thuật chiến tranh và huấn luyện các binh lính trở thành các chiến sĩ tinh nhuệ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sức mạnh hải quân của nước Anh trên mặt biển đã khiến cho các quốc gia tại châu Âu gồm Nga, Phổ, Hòa Lan, Đan Mạch, Thụy Điển tham gia vào "Hội các Quốc Gia Trung Lập" (the League of Armed Neutrality) vào năm 1780, và sau khi nước Anh tuyên chiến với Hòa Lan thì Hoa Kỳ cũng nhận được tiền trợ giúp từ nước Hòa Lan này.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trên mặt biển, các tầu buôn Hoa Kỳ được lệnh sẵn sàng chiến đấu và Quốc Hội Hoa Kỳ đang chuẩn bị ngân quỹ để thành lập Hải Quân. Nhiều tầu biển Hoa Kỳ được lệnh bắt giữ các tầu biển của nước Anh và đã có các vị chỉ huy Hải Quân người Hoa Kỳ tài giỏi với danh tiếng như Esek Hopkins, John Paul Jones và John Barry.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mặt khác, sự chia rẽ trong nội bộ của nước Anh cũng làm lợi cho quốc gia non trẻ Hoa Kỳ. Vào lúc này, Vua George III là vị lãnh đạo của đảng Tory và Nhà Vua muốn lấn át quyền hành của Quốc Hội Anh. Đối lập với đảng Tory là các người Whigs, họ cho rằng Nhà Vua đã triệt hạ các tự do của người dân nước Anh và người đứng đầu đảng Whig là Lord Rockingham tin rằng không thể dẹp yên được các xứ thuộc địa, vì vậy nên giành cho họ tự do. Ngoài ra, quan niệm về kinh tế cũng đang thay đổi. Nhà kinh tế học người Anh là Adams Smith, qua tác phẩm "Tài Sản của các Quốc Gia" (the Wealth of Nations, 1776) đã chủ trương nền tự do mậu dịch với Bắc Mỹ, nhờ đó cả nước Anh và các xứ thuộc địa đều có lợi. Cuối cùng, trước các thất bại quân sự năm 1781 tại Bắc Mỹ, trước các áp lực của nhiều nhà buôn và chủ hãng bảo hiểm các con tầu biển Anh bị đánh phá và trước các cuộc nổi dậy tại Ái Nhĩ Lan và Ấn Độ, Quốc Hội Anh vào năm 1872 đã thúc giục Vua George III phải chấm dứt chiến tranh tại vùng đất Tân Thế Giới.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;3/ Các trận đánh tại miền Bắc.&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;Trong khi các đại biểu Quốc Hội đang thảo luận về Bản Tuyên Ngôn Độc Lập thì một lực lượng quân đội Anh vào khoảng 30,000 lính, kể cả các binh lính đánh thuê Hessians, đổ bộ lên đảo Staten, gần thành phố New York. Để chống cự lại, Tướng Washington chỉ có 15,000 quân sĩ, dàn trận một cách yếu ớt tại hai địa điểm là Manhattan và Long Islands.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào ngày 26-8-1776, Hải Quân Anh giả vờ tiến tới thành phố New York nhưng thực ra bộ binh Anh tấn công vào Brooklyn, làm cho quân đội Hoa Kỳ bị 1,000 người chết, 2,000 người bị bắt. May nhờ có sương mù và đêm tối mà Tướng Washington cùng với các người còn sống sót mới vượt qua giòng sông East (the East River), bỏ chạy về nơi an toàn. Đây là một bài học vô giá cho ông Washington. Từ nay trở về sau, ông sẽ không bao giờ dùng chiến thuật đương đầu với một kẻ thù hùng mạnh hơn, được trang bị đầy đủ hơn. Sau cuộc rút lui tại làng White Plains, Tướng Washington còn phải chạy dài qua xứ New Jersey, tới giòng sông Delaware trước cuộc săn đuổi của các binh lính áo đỏ người Anh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tháng 11 năm 1776 là thời gian đen tối nhất của vị danh tướng Washington. Các tổn thất, bệnh tật và đào ngũ đã làm cho lực lượng quân sự của ông giảm đi còn 6,000 người, với các quân nhân có hợp đồng phục vụ sắp hết hạn. Công cuộc kháng chiến của Hoa Kỳ đang đứng trước thảm cảnh sụp đổ hoàn toàn! Nhưng vào một đêm mùa Giáng Sinh lạnh giá, bằng một lực lượng 2,400 người và 18 khẩu đại bác, Tướng Washington đã dẫn đầu quân lính băng qua giòng sông Delaware đóng băng, đánh vào đồn Trenton, bắt được hơn 900 tù binh người Hessians. Một tuần lễ sau, lực lượng phục thù của binh lực Anh tiến tới, điều khiển bởi Lord Cornwallis. Tướng Washington đã để lại 400 quân bên lửa trại, còn đa số binh lính đi vòng phía sau, đánh tập hậu quân đội Anh tại trận Princeton. Trong cuộc tấn công bất ngờ này, 2 trung đoàn Anh phải tháo chạy, để lại cho Quân Đội Lục Địa kiểm soát toàn vùng New Jersey.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chiến lược quân sự năm 1777 của quân đội Anh do Lord George Germain, Bộ Trưởng Bộ Mỹ Châu (the American Department) soạn ra, có mục đích cắt xứ Tân Anh Cát Lợi khỏi các thuộc địa phía nam. Theo kế hoạch này, một đạo quân Anh dưới quyền Thiếu Tướng John Burgoyne đổ bộ lên Canada và tiến về phía nam từ Montreal tới Albany, N.Y. Một đạo quân khác gồm các các người da đỏ do Đại Tá Bary St. Leger chỉ huy, di chuyển sang phía đông từ hồ Ontario, qua thung lũng Mohawk để gặp đạo quân của Tướng Burgoyne tại Albany. Do cách hành quân quá phức tạp lại ở trên một địa thế khó khăn với phương tiện thông tin nghèo nàn, nên cánh quân của Đại Tá St. Leger khi tiến tới đồn Stanwix, đã không thể triệt hạ được đồn lũy này và rồi bị thua trận tại Oriskany trước lực lượng của Thiếu Tướng Benedict Arnold. Tướng St. Leger đành phải rút quân về Montreal. Còn cánh quân kia với 7,000 lính do Tướng Burgoyne chỉ huy, lúc đầu đã chiến thắng, chiếm được đồn Ticonderoga vào ngày 6-7 rồi vào ngày 29-7, đã tới được phần trên của giòng sông Hudson. Khi lực lượng lính đánh thuê Hessians tiến vào xứ Vermont thì đã bị dân quân Vermont và New Hampshire đánh tan tại trận Bennington. Do thiếu tiếp liệu và quân tiếp viện, đạo quân của Tướng Burgoyne đã băng qua giòng sông Hudson, tiến về phía nam để tìm chỗ an toàn hơn nhưng vào tháng 9 năm đó, quân đội Lục Địa và dân quân địa phương dưới quyền của Thiếu Tướng Horatio Gates đã tiến đánh quân Anh gần Saratoga. Ngày 17-10, Tướng Burgoyne với gần 5,000 quân đã xin đầu hàng Tướng Gates.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày 25-8-1777, đạo quân của Tướng Howe đổ bộ lên phần đầu của Vịnh Chesapeake để tiến về phía Philadelphia trong khi đó Tướng Washington không thể ngăn cản nổi đạo quân này tại Brandywine Creek, Pa. Ngày 26-9, Tướng Howe tiến vào thành phố Philadelphia. Quốc Hội Lục Địa phải bỏ chạy qua York, Pa., rối tới Baltimore, Md. Ngày 4-10, quân của Tướng Washington tấn công đạo quân của Tướng Howe tại Germantown, phía bắc của thành phố Philadelphia nhưng rồi bị thất bại, phải rút lui về Valley Forge với 11,000 quân. Đây là một giai đoạn cay đắng của Quân Đội Lục Địa. Hàng trăm ngựa và bò chết đói vì không có thực phẩm. 3,000 người lính của Tướng Washington không có giầy dép. Nơi trú ngụ của họ chỉ là các túp lều dựng lên tạm bợ bằng cành cây! Nhiều người lính đã chết vì lạnh và thiếu thốn. 2,000 lính đã đào ngũ. Chính vào lúc gần như tuyệt vọng này, một chuyên viên quân sự người Đức, đã từng phục vụ dưới thời Đại Đế Frederick của nước Phổ, đến huấn luyện binh sĩ và sĩ quan Hoa Kỳ, đó là Bá Tước Von Steuben.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1777 đánh dấu một khúc quanh về thắng lợi của Hoa Kỳ trong cuộc Cách Mạng giành độc lập. Ngay sau cuộc Cách Mạng xẩy ra, nước Pháp đã bí mật gửi tiền bạc và đồ tiếp liệu giúp đỡ các người thuộc địa Bắc Mỹ. Tới khi quân đội Lục Địa chiến thắng tại Saratoga và khi Tướng Washington đang tấn công quân đội Anh tại Germantown, thì những chiến tích này đã khiến cho nước Pháp không cần che dấu các trợ giúp quân sự nữa. Vào lúc này, Tướng Washington trông đợi hạm đội Pháp tại bờ biển Hoa Kỳ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào tháng 4-1887, Hạm Đội Pháp dưới quyền của Đô Đốc Charles Hector Théodat, tức Bá Tước D 'Estaing, rời hải cảng Toulon thuộc Pháp, để qua Bắc Mỹ. Tại Philadelphia, Trung Tướng Sir Henry Clinton, người thay thế Tướng Howe, e sợ rằng hạm đội Pháp sẽ tiến vào sông Delaware để cắt đường, không cho đạo quân Anh rút về New York, vì vậy Tướng Clinton cùng với các người trung thành di tản khỏi thành phố Philadelphia, rút lui qua xứ New Jersey. Đạo quân của Tướng Washington đuổi theo, tấn công đoàn quân Anh tại Monmouth Courthouse ngày 28-6 nhưng thắng bại của trận này không rõ rệt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hạm đội Pháp gồm 12 tầu chiến tới cửa sông Delaware vào ngày 8-7-1778 thì thấy quân đội Anh đã rút lui, nên sau đó đã di chuyển tới Sandy Hook vào ngày 14-7. Vị Đô Đốc người Pháp đã bắt liên lạc với bộ chỉ huy của Tướng Washington và lập kế hoạch đánh hạm đội Anh nhưng vì mực nước quá cạn và thời tiết xấu nên kế hoạch kể trên phải bỏ dở. Cuối cùng, ngày 4-11, đoàn tầu chiến Pháp nhắm vùng biển Tây Ấn ra đi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tại miền tây, một lực lượng quân đội Lục Địa do Tướng Geoge Rogers Clark chỉ huy đã chiếm được đồn Vincennes (ngày nay thuộc tiểu bang Indiana) của lực lượng Anh, nhờ đó quân đội Lục Địa kiểm soát được cả vùng phía bắc của thung lũng Ohio. Đồng thời, Tướng Washington cũng phái đi một lực lượng hùng hậu do Tướng John Sullivan chỉ huy, tới miền tây của xứ New York để đánh phá các làng da đỏ Iroquois. Đồn lũy Stony Point của người Anh trên bờ sông Hudson cũng bị Tướng "Mad Anthony" Wayne chiếm vào tháng 7 rồi Thiếu Tá Henry Lee chiếm trại quân Anh Paulus Hook trên bờ biển Jersey vào tháng 8-1779.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;4/ Các trận đánh tại Miền Nam.&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;Vào năm 1778, các bộ trưởng của Vua nước Anh phải đối đầu với nhiều vấn đề, nào là sự đầu hàng của Tướng Anh Burgoyne, sự tham gia của nước Pháp vào trận chiến, nào là các áp lực của Quốc Hội Anh, đòi hỏi phải dùng chiến lược mới.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào thời gian này, các người trung thành miền Nam đề nghị rằng một chiến dịch tại phía nam có họ tham gia, sẽ dùng đến ít nhân lực hơn. Ngày 29-12-1778, một đoàn quân viễn chinh Anh gồm 3,500 người từ New York, đã di chuyển xuống Georgia và chiếm thành phố Savannah. Quốc Hội Lục Địa đã phái Thiếu Tướng Benjamin Lincoln xuống Charleston, S.C., để chỉ huy mặt trận phía nam. Ngày 9-10-1779, cánh quân của Tướng Lincoln cùng với Hải Quân Pháp của Đô Đốc D 'Estaing vây hãm thành phố Savannah nhưng nơi này không bị thất thủ và khi Hải Quân Pháp rút đi theo lệnh từ Paris, 3,500 quân của Tướng Lincoln bị 8,000 quân của Tướng Clinton người Anh bao vây rồi phải đầu hàng vào tháng 5-1780. Sau đó, Tướng Lincoln trở về New York, giao lại quyền chỉ huy cho Trung Tướng Charles Cornwallis điều khiển 7,000 lính Anh chính quy cùng với các toán quân trung thành, để bình định hai xứ thuộc địa Carolinas.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào thời gian này, ngoài sự trợ giúp về tiền bạc, tiếp liệu và hải quân, nước Pháp còn gửi tới Bắc Mỹ vào tháng 7-1780, 5,000 quân với quân trang và đạn dược đầy đủ, 106 khẩu đại bác và 17 nhân viên y tế, đặt dưới quyền chỉ huy của Tướng Jean Baptiste de Vimeur và Bá Tước De Rochambeau. Sự tham gia của quân lực Pháp đã làm quân đội Lục Địa lên tinh thần và cũng làm cho các nhà buôn địa phương vui lòng khi những người lính tình nguyện này đã tiêu xài bằng các đồng tiền vàng. Khi đoàn quân Pháp sang giúp đỡ quân đội Lục Địa thì mặt trận đã chuyển về các xứ miền nam.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày 16-8-1780, Tướng Cornwallis đã thắng được Tướng Gates tại Camden, S.C., nhưng cũng từ nay bắt đầu các trận đánh du kích của dân quân Lục Địa. Tháng 3 năm 1781, Thiếu Tướng Cornwallis dàn quân, đánh đạo quân của Thiếu Tướng Nathanael Greene nhưng vì thiếu tiếp liệu và với hơn 500 binh lính bị giết, đạo quân Anh phải rút về Wilmington, N.C. Khi được tăng cường vào tháng 4-1781, Tướng Cornwallis đã di chuyển quân lên phía bắc để vây Tướng De Lafayette, lúc đó đang chỉ huy 3,000 quân tại Richmond, Va. Vì không thể đối đầu do lực lượng chỉ bằng nửa, Tướng De Lafayette đã rút lui về phía tây bắc và được Tướng Wayne đem 1,000 quân tăng cường. Sợ bị vây hãm, Tướng Cornwallis đành kéo quân về phòng thủ tại Yorktown là một nơi gần bờ biển, dễ dàng cho Hải Quân Anh đến tiếp cứu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;5/ Chiến thắng cuối cùng của Quân Đội Lục Địa.&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;Khi sống tại nước Pháp, ông Benjamin Franklin vẫn thường xuyên báo cáo về Hoa Kỳ các biến cố xẩy ra tại nước Pháp và nước Anh đối với cuộc Chiến Tranh Cách Mạng. Khi đó, cuộc thất trận của quân đội Anh tại Saratoga đã khiến cho dân chúng Anh đòi hỏi Nhà Vua và các bộ trưởng Anh phải lo việc dàn xếp hòa bình và công nhận nền Độc Lập của các xứ thuộc địa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mặt khác, Tướng George Washington biết rõ rằng quân đội Anh không thể đóng quân trong đất liền sau nhiều tháng mà phải trở ra bờ biển để lấy tiếp liệu và quân đội Anh sẽ đầu hàng nếu bị ép giữa hai lực lượng của quân đội Lục Địa và Hải Quân Pháp từ ngoài biển. Rất may mắn cho các xứ thuộc địa Bắc Mỹ vì vào thời gian này, các bộ trưởng của nước Pháp muốn phục thù việc mất đi các phần đất nhường cho nước Anh, vì vậy Hải Quân Pháp được tăng cường và binh lính Pháp được luyện tập tinh nhuệ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào tháng 9-1779, các hạm đội của hai nước Pháp và Tây Ban Nha đã đánh phá pháo đài Gibraltar của người Anh. Đây là một cửa ải rất quan trọng tại miền Địa Trung Hải, nếu xét cả về hai mặt chiến thuật và kinh tế. Vì thành phố Gibraltar chỉ có thể tiếp tế và tăng cường bằng đường biển, nên trách nhiệm phải bảo vệ pháo đài này rất lớn lao.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Từ xưa, nguyên tắc chiến lược của người Anh trong cuộc chiến tranh với người Pháp là duy trì một lực lượng hải quân thật hùng hâu và tìm cách phong tỏa hai quân cảng của nước Pháp là Brest trên Đại Tây Dương và Toulon trên Địa Trung Hải. Nhưng vào năm 1781, Hải Quân Hoàng Gia Anh không có đủ tầu chiến để vừa phong tỏa hai quân cảng của nước Pháp, vừa tiếp tế và bảo vệ pháo đài Gibraltar. Hạm đội Pháp ra đi từ quân cảng Toulon vào năm 1778 là một chứng tỏ sự yếu kém của Hải Quân Anh. Tới năm 1781, nhân khi pháo đài Gibraltar bị công phá, 29 tầu chiến của Pháp, chỉ huy do Đô Đốc Francois Joseph Paul, tức Bá Tước De Grasse, đã ra khơi vào ngày 22-3 để tiến về vùng biển Tây Ấn và Bắc Mỹ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày 14-8-1781, Tướng George Washington nhận được tin Đô Đốc De Grasse đã mang hạm đội Pháp tiến vào Vịnh Chesapeake, ông liền quyết định đánh Tướng Cornwallis tại Yorktown, Va. Hai đoàn quân của Tướng Washington và Tướng Jean Rochambeau, người Pháp, cùng tiến về phía nam trong khi ngoài biển, Hạm Đội Anh dưới quyền Đô Đốc Thomas Graves đã phải bỏ chạy trước Hạm Đội Pháp đang tiến tới. Rồi 16,000 quân Hoa Kỳ, Pháp và dân quân địa phương đã ở dưới quyền của Tướng Washington, vây quanh Yorktown. Trước tình thế tuyệt vọng này, Tướng Cornwallis với 7,247 binh lính đã đầu hàng trước Tướng George Washington vào ngày 19-10-1781.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cuộc đầu hàng của quân đội Anh tại Yorktown đã chấm dứt cuộc Chiến Tranh Cách Mạng tại Bắc Mỹ nhưng các thương thuyết hòa bình còn kéo dài tới khi Hòa Ước Paris được ký kết.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau chiến thắng Yorktown, Lord North từ chức và vị thủ tướng Anh thay thế đã có thiện cảm với nền độc lập của Hoa Kỳ. Hội nghị hòa bình được trù liệu tại Paris. Quốc Hội Lục Địa đã cử đi dự 5 ủy viên, gồm các ông John Adams, John Giay, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson và Henry Laurens, nhưng ông Jefferson không đi còn ông Laurens đã tới châu Âu 2 ngày trước ngày ký hòa ước.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào ngày 03-9-1783, Hòa Ước Paris được ký kết theo đó nước Anh công nhận các thuộc địa cũ của mình là Quốc Gia Hoa Kỳ được độc lập, có biên giới tại phía bắc là xứ Canada, có giòng sông Mississippi ở phía tây và xứ Florida là biên giới phía nam.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cuộc Cách Mạng Hoa Kỳ là một biến cố rất lớn lao về nền dân chủ và tính bình đẳng. Sau cuộc chiến tranh này, các phần đất rộng lớn của Vua nước Anh, của các địa chủ trung thành đã bỏ xứ ra đi, đều thuộc về các chính quyền địa phương, hoặc được phân chia nhỏ để bán lại cho các dân quân ái quốc. Từ nay, các tiểu bang được thành lập và việc xây dựng quốc gia Hoa Kỳ được bắt đầu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 112, 192);font-size:12;" &gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;Phạm Văn Tuấn.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4128474229374807245-6756341060970046950?l=thoisukynguyen2000.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</description><link>http://thoisukynguyen2000.blogspot.com/2009/07/cac-tran-chien-trong-cuoc-cach-mang-hoa.html</link><author>noreply@blogger.com (Thoi Su Ky Nguyen 2000)</author><thr:total xmlns:thr='http://purl.org/syndication/thread/1.0'>0</thr:total></item><item><guid isPermaLink='false'>tag:blogger.com,1999:blog-4128474229374807245.post-5312464141587543420</guid><pubDate>Fri, 03 Jul 2009 15:50:00 +0000</pubDate><atom:updated>2009-07-03T09:05:32.379-07:00</atom:updated><category domain='http://www.blogger.com/atom/ns#'>ABRAHAM LINCOLN-VĨ NHÂN GIẢI PHÓNG NÔ LỆ -Phạm Văn Tuấn.</category><title>ABRAHAM LINCOLN-VĨ NHÂN GIẢI PHÓNG NÔ LỆ -Phạm Văn Tuấn.</title><description>&lt;p style="text-align: center;" class="MsoNormal"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-size: 13.5pt; color: red;"&gt;ABRAHAM LINCOLN (1809 - 1865 )&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;&lt;p style="text-align: center;" class="MsoNormal"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-size: 13.5pt; color: red;"&gt;VĨ NHÂN GIẢI PHÓNG NÔ LỆ&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;&lt;p style="text-align: center;" class="MsoNormal"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-size: 13.5pt; color: red;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;   &lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-size: 13.5pt; color: red;"&gt;  &lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;a href="http://images.google.com/imgres?imgurl=http://img2.tfd.com/wiki/4/44/Abraham_Lincoln_head_on_shoulders_photo_portrait.jpg&amp;amp;imgrefurl=http://tomorrowsreflection.com/%3Ftag%3Dabraham-lincoln&amp;amp;usg=__QJtIWBgigsumZSNmDI_j5a4ue_A=&amp;amp;h=1344&amp;amp;w=1024&amp;amp;sz=73&amp;amp;hl=en&amp;amp;start=6&amp;amp;um=1&amp;amp;tbnid=VmarYVklvCkZCM:&amp;amp;tbnh=150&amp;amp;tbnw=114&amp;amp;prev=/images%3Fq%3DABRAHAM%2BLINCOLN%26hl%3Den%26client%3Dfirefox-a%26rls%3Dorg.mozilla:en-US:official%26sa%3DN%26um%3D1"&gt;&lt;img style="border: 1px solid ;" src="http://tbn3.google.com/images?q=tbn:VmarYVklvCkZCM:http://img2.tfd.com/wiki/4/44/Abraham_Lincoln_head_on_shoulders_photo_portrait.jpg" width="114" height="150" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;img src="http://tbn3.google.com/images?q=tbn:PBMLjxeueS9YHM:http://farm1.static.flickr.com/48/253969702_9074a2e579.jpg" style="border: 1px solid ;" width="130" height="130" /&gt;&lt;/p&gt;&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/p&gt;   &lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; color: rgb(0, 112, 192);"&gt;Phạm Văn Tuấn.&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; color: rgb(0, 112, 192);"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;   &lt;span style="font-size: 13.5pt; color: red;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-size: 13.5pt; color: black;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; color: black;"&gt;Ông Abraham Lincoln luôn luôn đặt tin tưởng vào nền Dân Chủ và đã chứng tỏ rằng chế độ Dân Chủ là một hình thức chính quyền tốt đẹp và tồn tại rất lâu dài, bởi vì chế độ Dân Chủ đã cung cấp cho mọi người dân cuộc sống đầy đủ Tự Do và nhiều hy vọng phát triển. Các niềm tin và mục đích của ông đã được ông xác nhận trong bài Diễn Văn Gettysburg, trong bài diễn văn nhậm chức Tổng Thống lần thứ hai, trong các buổi nói chuyện và các bài viết khác nhau.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ông Abraham Lincoln là đảng viên Cộng Hòa đầu tiên đắc cử chức vụ Tổng Thống nhưng lại xuất thân từ một nguồn gốc tầm thường để đạt tới chức vụ cao cấp nhất của quốc gia Hoa Kỳ. Ông đã chứng tỏ một bản tính cao thượng, khiến cho mọi người trên Thế Giới phải kính trọng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ông Abraham Lincoln đã giúp công rất nhiều vào việc chấm dứt chế độ nô lệ. Ông là kiến trúc sư chính của cuộc chiến thắng vẻ vang khi xẩy ra cuộc Nội Chiến Nam-Bắc Mỹ (1861-65). Đây là cuộc khủng hoảng chính trị và quân sự lớn lao nhất trong lịch sử của nước Hoa Ky,ø thời đó còn đang cần được củng cố và ổn định. Ông Lincoln là một vị lãnh tụ chiến tranh sáng suốt, đã ra lệnh cho các đạo quân Bắc Mỹ tiến đánh mọi mặt trận vào cùng một thời gian để tiêu diệt các đạo quân Miền Nam đối nghịch mà không cần chiếm giữ đất đai. Trong nhiều lần, ông đã thay đổi các tướng lãnh chỉ huy vì các vị này đã không theo đúng đường hướng chiến lược do ông đặt ra, cho tới khi ông gặp Tướng Ulysses S. Grant, một vị tướng mà ông Lincoln yểm trợ hết lòng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong cuộc chiến tranh Nam-Bắc Mỹ, nhiều gia đình người Mỹ đã gặp cảnh anh em chém giết lẫn nhau. Ông Abraham Lincoln đã thúc đẩy tinh thần chiến đấu của người dân vì lý tưởng Tự Do, vì nền Dân Chủ, vì chủ trương giải phóng nô lệ. Cuộc Nội Chiến Hoa Kỳ này là trận chiến đẫm máu nhất. Chỉ riêng trong trận Gettysburg, số tổn hại lên tới trên 45,000 người, gồm những người bị giết, bị thương, bị bắt và mất tích. Nếu phe Miền Bắc do Tổng Thống Abraham Lincoln điều hành bị thất trận trong cuộc Nội Chiến này, thì ngày nay Hoa Kỳ không còn là một quốc gia cường thịnh và quan trọng bậc nhất trên Thế Giới, mà đã bị phân chia thành 2 nước, hay có thể thành nhiều nước nhỏ, như vậy ông Abraham Lincoln đã gây ảnh hưởng mạnh mẽ tới chiều hướng của Lịch Sử Thế Giới.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đời sống của người dân Hoa Kỳ dưới thời của Tổng Thống Abraham Lincoln đã bị quay vòng theo chiến cuộc nhưng chính trong các năm chinh chiến này, việc phát triển kinh tế đã đóng một vai trò quan trọng. Ngân Hàng Quốc Gia đã cung cấp các loại tiền giấy và việc kiểm soát tài chính liên bang đã bảo đảm dịch vụ ngân hàng và tín dụng. Chính quyền Liên Bang thời đó đã đánh thuế lên các hàng hóa nhập cảng từ châu Âu để giới hạn sự cạnh tranh từ bên ngoài và khuyến khích việc phát triển kỹ nghệ trong nước. Chính quyền Hoa Kỳ cũng nâng đỡ việc thành lập liên đoàn công nhân (labor unions), cung cấp đất đai canh tác miễn phí cho các người định cư và trợ giúp di dân. Đất công cũng được phân chia cho các Đại Học nhờ đó các Đại Học lớn của tiểu bang được thành lập. Cũng vào thời gian này, đường xe lửa xuyên liên bang được xây dựng và thuế lợi tức được áp dụng để có ngân khoản dùng cho chiến tranh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Dưới thời Nội Chiến của Tổng Thống Abraham Lincoln, văn hóa vẫn phát triển với các tác phẩm tiêu biểu như bài thơ “Barbara Frietchie” của nhà thơ John Greenleaf Whittier, cuốn truyện “Một người không quê hương” (the Man Without a Country) của Edward Everett Hale, tác phẩm hội họa “Các tù binh từ chiến tuyến” (Prisoners from the Front) của Winslow Homer và cũng vào thời kỳ khủng hoảng này, nhiếp ảnh gia Mathew Brady cùng với các phụ tá, đã chụp hơn 3,500 tấm ảnh mô tả đầy đủ về con người, cảnh vật, trại quân, bãi chiến trường . . . cùng các biến cố lịch sử khác.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trước khi được bầu vào chức vụ Tổng Thống Hoa Kỳ, rất ít người dân Mỹ biết tới tên tuổi của ông Lincoln. Ông Abraham Lincoln đã nhận được dưới 40 phần trăm phiếu bầu phổ thông (popular vote) trong cuộc tranh cử năm 1860 nhưng tới năm 1865, hình ảnh của ông Abraham Lincoln đã ở tầm vóc quan trọng ngang bằng với ông George Washington.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;1- Thuở thiếu thời.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Abraham Lincoln chào đời ngày 12-2-1809 tại Hardin, ngày nay thuộc hạt Larue trong tiểu bang Kentucky. Ông nội và cha của Abraham tên là Thomas, đã sinh ra tại hạt Rockingham, Va., còn ông tổ tên là Samuel Lincoln làm nghề dệt vải, đã từ miền Hingham nước Anh tới Hingham, Massachusetts, năm 1637 và lập nên dòng họ Lincoln tại nơi này. Người con của ông cụ Samuel tên là Mordecai, đã di chuyển xuống New Jersey, Pennsylvania, rồi xuống Virginia và vì vậy, ông nội của Abraham Lincoln cũng tên là Abraham, đã có một nông trại tại thung lũng Shenandoah, Va.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1782, ông cụ Abraham cùng vợ và 5 người con nhỏ di chuyển tới miền hoang vu thuộc Kentucky rồi tại nơi này, ông cụ Abraham bị người da đỏ giết chết vào năm 1786. Một trong các người con của ông cụ này tên là Thomas, là cha đẻ của vị Tổng Thống tương lai, sinh năm 1778 và đã sống thời niên thiếu không học vấn và hành nghề thợ mộc. Năm 1806 vào tuổi 28, ông Thomas Lincoln đã kết hôn với bà Nancy Hanks có nguồn gốc bình dân. Cặp vợ chồng này sinh sống trong 18 tháng đầu tại Elizabethtown, thuộc hạt Hardin, Ky., và tại nơi đây đã ra đời người con gái đầu tiên tên là Sarah. Năm sau, ông Thomas Lincoln đã mua một nông trại tại South Fork, gần dòng sông Nolin, cách Elizabethtown 8 cây số về phía nam. Chính tại nông trại nhỏ này, Abraham Lincoln đã ra chào đời.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi Abraham được 2 tuổi, gia đình Lincoln lại dọn tới Knob Creek, xa hơn 16 cây số và tại nơi này, 2 chị em Sarah và Abraham đã học tập đọc, tập viết và tập làm toán trong một căn nhà gỗ dùng làm lớp học. Cũng tại nơi định cư mới này, một người con thứ ba tên là Thomas đã chào đời nhưng chẳng may chết sớm.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1816, ông Thomas Lincoln lại quyết định di chuyển sang Indiana là nơi nông dân có thể mua đất đai trực tiếp từ chính phủ. Gia đình Lincoln đã chất đồ đạc lên một toa xe, di chuyển lên mạn bắc, vượt qua dòng sông Ohio để tới hạt Spencer ở phía tây nam của miền Indiana. Tại nơi này, ông Thomas đã khai phá 65 mẫu rừng thành nông trại. Mùa đông tới làm cho gia đình Lincoln thêm cơ cực. Ông Thomas và cậu con trai Abraham đã chặt cây rừng, dựng nên một căn nhà gỗ để gia đình dọn vô cư ngụ vào tháng 2 năm 1817. Đây là một miền hoang dã, gấu, chó sói và các loài dã thú khác thường lai vãng quanh vùng. Chính trong khung cảnh sơn lâm này, Abraham Lincoln dù mới 8 tuổi, đã giúp đỡ cha trong việc chặt cây, bửa củi. Cuộc sống đơn sơ nơi núi rừng này càng trở nên dễ chịu thì bất ngờ, bà Nancy Lincoln bị “bệnh sữa” (milk sickness) và qua đời vào tháng 10-1818. Bệnh này có lẽ gây ra do chất độc trong sữa bò khi con bò sữa ăn phải loại lá cây nguy hiểm. Ông Thomas đã chôn vợ bên sườn đồi, gần căn nhà gỗ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Từ khi bà Nancy chết đi, gia đình Lincoln không còn hạnh phúc như trước nữa. Chị gái Sarah với tuổi 12, đã phải đảm đương việc bếp núc trong hơn một năm cho tới khi ông Thomas quay trở về Kentucky. Trong chuyến viếng thăm này, ông Thomas đã cưới bà góa phụ Sarah Bush Johnston, một người quen cũ. Bà Johnston đã mang 3 người con riêng 12, 8 và 5 tuổi về sống chung với gia đình Lincoln và làm cho cuộc sống của tất cả trở nên đầm ấm, hạnh phúc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;2- Thời thanh niên của Abraham Lincoln.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Từ 7 tới 21 tuổi, Abraham Lincoln lớn lên tại miền biên giới hoang vu, một nơi không được phát triển về giáo dục. Sách và giấy rất khan hiếm. Nền học vấn chính thức của Abraham vì thế chỉ kéo dài được một năm. Ngoài các hiểu biết căn bản về tập viết và làm toán, Abraham chỉ có vài cuốn sách để tập đọc như các truyện Robinson Crusoe, truyện ngụ ngôn Aesop. Abraham vì muốn đọc sách nên thường phải đi bộ vài cây số mới mượn được các cuốn truyện.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1823 khi Abraham lên 14 tuổi, ông bà Thomas đã tham gia vào nhà thờ Pegeon Creek Baptist. Vào thời gian này, đã có sự cạnh tranh giữa nhiều hệ phái như Baptist, Methodist, Presbyterian. Trước các ảnh hưởng tôn giáo, Abraham Lincoln đã không theo một nhà thờ nào và cũng không đi lễ nhà thờ một cách đều đặn mặc dù có niềm tin tôn giáo.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi chưa đủ 20 tuổi, Abraham Lincoln đã là một thanh niên cao 6 feet 4 inches (193 cm) với thân hình gầy gò nhưng rất mạnh mẽ, nhất là về 2 cánh tay. Cậu Abraham có khuôn mặt xấu trai, nước da đậm, tóc đen và thô nhưng lại có một biệt tài, đó là khả năng nói năng, thuyết phục. Nhiều người trong vùng đã từng được nghe cậu Abraham kể chuyện rất hấp dẫn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Với vóc người cao lớn, khỏe mạnh lại siêng năng, cậu Abraham rất dễ kiếm được việc làm gần nhà : cậu rất giỏi về bửa củi, chặt cây làm hàng rào, cày ruộng, đập lúa. Dòng sông Ohio cách nhà 24 cây số là nơi hấp dẫn trí tìm hiểu của cậu. Abraham thường chở đò cho khách tới con tầu thủy bỏ neo giữa dòng sông. Năm 1828, Abraham cùng với bạn chở nông phẩm trên một cái bè, xuôi dòng sông tới tận New Orleans. Lần viễn du này đã khiến cho Abraham Lincoln ra khỏi được nơi làng mạc nhỏ bé, nhìn thấy thế giới bên ngoài. Cũng tại New Orleans, Abraham Lincoln được chứng kiến cảnh chợ mua bán người nô lệ. Vào thời kỳ đó, chế độ nô lệ được coi là hợp pháp tại các miền đất phía nam của dòng sông Ohio. Abraham đã thấy từng đoàn người da đen bị xiềng xích và dẫn tới các đồn điền.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1830, ông Thomas Lincoln lại quyết định di chuyển vì công việc khẩn hoang tại Indiana không khả quan, ngoài ra “bệnh sữa” đã làm cho một số dân định cư sợ hãi. Các người bà con tại Illinois đã rủ gia đình Lincoln về miền đồng cỏ phía tây vì thế ông Lincoln cùng với một vài gia đình khác đã dọn nhà và định cư tại 16 cây số phía tây của Decatur, trên bờ phía bắc của dòng sông Sangamon. Vào thời gian này, Abraham Lincoln đã 21 tuổi, cậu giúp cha làm nhà, dựng hàng rào, trồng vụ hoa màu đầu tiên. Cậu cũng làm công cho các người định cư khác trong vùng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mùa xuân năm 1831, một người lái buôn tên là Denton Offutt đã mướn Abraham Lincoln cùng 2 thanh niên trẻ tuổi khác chèo một cái bè chở hàng xuống New Orleans. Sau đó nhờ tin cẩn, ông Offutt đã mướn Abraham làm thư ký riêng trông coi cửa hàng mới tại New Salem, thuộc Illinois, cách Springfield 32 cây số về phía tây bắc. Cũng vào thời gian này, ông bà Thomas Lincoln đã dọn nhà qua hạt Coles.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;New Salem là một ngôi làng nhỏ gồm nhiều căn nhà gỗ xây dựng chung quanh một nhà máy xay lúa. Trong làng có vài cửa hàng, một tiệm làm thùng gỗ, một tiệm chải và dệt len . . . Chính tại nơi này Abraham Lincoln đã sống trong 6 năm, từ tháng 7-1831 tới mùa xuân năm 1837 và đã học hỏi được nhiều hiểu biết nhờ ông Jack Kelso đã dạy cho Abraham về các tác phẩm của đại kịch gia William Shakespeare và về thơ phú của Robert Burns, một thi sĩ Tô Cách Lan. Abraham Lincoln cũng tìm học về Thánh Kinh nhờ vậy, sau này khi đã trở thành Tổng Thống, ông Lincoln đã dẫn chứng các câu Thánh Thư trong các bài diễn văn và bài viết khác nhau.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1831, chính quyền Liên Bang đã ra lệnh dời các nhóm dân da đỏ Sauk và Fox từ Illinois sang Iowa. Mùa xuân năm 1832, tù trưởng da đỏ Black Hawk đã dẫn hàng trăm quân da đỏ, vượt sông Mississippi, cố chiếm miền đất gần Rock Island. Trước tình trạng khẩn trương này, chính phủ Hoa Kỳ phải tuyển mộ dân quân và Abraham Lincoln đã tình nguyện nhập ngũ. Đại đội của Abraham gồm các thanh niên từ vùng New Salem. Họ đồng thanh bầu Abraham làm cấp chỉ huy vì các đức tính thật thà, thân mật và tài kể chuyện. Họ cũng kính phục trước sức mạnh của Abraham trong các cuộc đấu vật và đọ sức khác. Đây là cơ hội chứng tỏ Abraham Lincoln có tài về chỉ huy và dẫn đạo.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau thời gian đầu quân 30 ngày chấm dứt, Abraham Lincoln phục vụ quân đội trong 90 ngày nữa với cấp bậc binh nhì và dù không tham gia trận chiến nào nhưng Abraham đã nhìn thấy các tử thi của dân chúng bị bọn da đỏ giết chết. Chính nhờ thời gian này mà Abraham Lincoln hiểu rõ các cực khổ của người lính trên chiến trường để về sau, khi đã trở thành vị Tổng Tư Lệnh Quân Đội, ông Lincoln đã đối xử với tất cả binh sĩ bằng tấm lòng thông cảm.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;3- Tham gia ngành Lập Pháp và nghề Luật Sư.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Abraham là con người ham học hỏi và thích tự học. Ông rất quan tâm đến ngành luật pháp và thường mượn các sách Luật của miền Indiana để đọc trong nhiều đêm trường. Ông cũng đã đi bộ nhiều dậm đường, tới các tòa án địa phương để nghe các luật sư biện hộ trong các vụ tranh tụng. Những kinh nghiệm này đã dạy cho Abraham Lincoln biết các phương thức làm việc của luật sư, hiểu rõ nhiều câu chuyện tranh tụng và cách giải quyết các vấn đề pháp lý.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trước thời kỳ quân dịch, nhiều người đã khuyên Abraham nên ra tranh cử trong ngành lập pháp địa phương vì thế ông đã ghi danh vào tháng 3-1832 nhưng cuộc chiến tranh Black Hawk đã khiến ông vắng nhà. Lúc trở về vào tháng 7 năm đó, Abraham Lincoln bị thất cử dù rằng người dân quanh vùng đã dồn cho ông 277 phiếu trong tổng số 300 phiếu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lúc bấy giờ, một người bạn tên là William F. Berry rủ Abraham Lincoln mua chung bằng tín khoản một cửa tiệm tại New Salem. Việc kinh doanh thất bại sau vài tháng khiến cho cả hai người mắc nợ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tháng 5-1833, Abraham Lincoln được đề cử làm trạm trưởng bưu điện tại New Salem rồi viên trưởng ngành đo đạc địa phương lại đề nghị Lincoln làm phó ban. Abraham đã cố gắng học hỏi môn học mới và nhờ 2 công việc, ông đã kiếm đủ sống. Năm 1835, người bạn Berry qua đời, dồn tất cả các món nợ chung vào khoảng 1,100 mỹ kim cho Abraham lãnh. Trong nhiều năm, ông Lincoln đã cố gắng thanh toán dần các nợ cũ và nhờ thế, mọi người đã gọi ông là “Abe lương thiện” (Honest Abe). Cũng tại New Salem, Abraham đã làm quen được với cô Anne Rutledge nhưng cô Anne này chẳng may qua đời vào mùa hè năm 1834, để lại nỗi buồn sâu đậm cho Abraham Lincoln. 18 tháng sau, Abraham lại quen với cô Mary Owens, người miền Kentucky và đã đề nghị hôn nhân nhưng đã bị cô này cự tuyệt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào năm 1834, Abraham Lincoln lại ra tranh cử ngành lập pháp, lần này ông được nhiều người biết tiếng nên đã thắng cử. Ông đã phục vụ 4 nhiệm kỳ 2 năm liên tiếp tại Hạ Viện Illinois (the Illinois General Assembly). Trong nhiệm kỳ đầu tiên, ông Lincoln đã gặp một nhà lập pháp trẻ tuổi thuộc đảng Dân Chủ tên là Stephen A. Douglas. Ông Lincoln đã sớm trở nên người lãnh đạo nhóm Whig. Ông cũng đứng đầu các công trình thiết lập ngân hàng Illinois, chương trình xây dựng các đường xe lửa, các sông đào và các công cuộc vận động dời thủ phủ của tiểu bang từ Vandalia tới Springfield.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cũng vào năm 1834, khi ông Lincoln vận động tranh cử chức vụ lập pháp lần thứ hai, ông John T. Stuart đã đốc thúc ông Lincoln theo học Luật Khoa. Ông Stuart là một luật sư tại Springfield và là nhân vật dẫn đầu về lập pháp. Vào thời kỳ đó, chỉ có vài trường Luật trên toàn Bắc Mỹ. Các sinh viên luật chỉ "đọc Luật" tại văn phòng một luật sư và được một luật sư thực thụ dạy bảo bằng các lời khuyên, các chỉ dẫn cần thiết. Để vượt qua sự yếu kém về giáo dục, ông Abraham Lincoln đã mượn các sách Luật để tự học. Đối với phương pháp học hành, ông Lincoln đã nói rằng :”ta nên luôn luôn nhớ trong đầu óc rằng quyết định thành công của chính mình thì quan trọng hơn tất cả các yếu tố khác”. Vì thế, nhiều khi ông Lincoln đã phải đi bộ 32 cây số từ New Salem tới Springfield để mượn sách về học. Một luật sư cộng tác với ông Stuart là ông Henry E. Dummer đã nhớ lại như sau :”Đôi khi ông ta đi bộ, nhưng thường thì cưỡi ngựa. Ông Lincoln là một thanh niên trông quê mùa nhất mà tôi đã từng gặp. Ông ta có vẻ ít nói, e thẹn, với vẻ hơi buồn rầu nhưng khi ông ta nói năng thì tất cả những điều kể trên đã tan biến đi và ông Lincoln đã chứng tỏ cả về sức mạnh lẫn sự chính xác. Ông Lincoln làm chúng tôi ngạc nhiên thêm sau mỗi lần thăm viếng”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày 9-9-1836, ông Abraham Lincoln nhận được giấy phép hành nghề luật sư nhưng tới ngày 1-3-1837, tên của ông mới xuất hiện trên danh sách luật sư đoàn. Do dân số của thị trấn New Salem giảm bớt, ông Lincoln đã dọn văn phòng tới Springfield vào ngày 15-4-1837 và tham gia vào Văn Phòng Luật Sư Stuart &amp;amp; Lincoln. Cuộc hợp tác này kéo dài tới mùa Xuân năm 1841. Sau đó, ông Lincoln lại cộng tác với luật sư Stephen T. Logan, là một trong các luật sư tài giỏi nhất đã từng làm việc tại Illinois. Công việc mở văn phòng chung thứ hai này chấm dứt vào mùa thu năm 1844. Sau đó, ông Abraham Lincoln đã mời ông William H. Herndon, một luật sư trẻ hơn 9 tuổi, cộng tác tại một văn phòng do ông Lincoln đứng đầu. Hai nhân vật này đã không giải tán văn phòng ngay cả 16 năm sau khi ông Lincoln rời Springfield để tới Washington D.C. nhậm chức vụ Tổng Thống. Vào thời kỳ của ông Lincoln, các luật sư chưa được phân chia thành các ngành chuyên môn nên ông Lincoln đã cãi tại các tòa án địa phương của hạt Sangamon, tại Tòa Liên Bang của Illinois và Tòa Tối Cao của tiểu bang. Ông cũng biện hộ cho các thân chủ tại các tòa án hòa giải và chỉ tính lệ phí nhẹ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1837, các ông Abraham Lincoln và Dan Stone, một nhà lập pháp khác, đã vận động và phản đối chế độ nô lệ. Cả hai ông đã tuyên bố rằng “căn bản của chế độ nô lệ được đặt trên sự bất công và chính sách xấu xa” (the institution of slavery is founded on both injustice and bad policy). Vấn đề nô lệ này 23 năm về sau đã trở thành một đề tài gây sóng gió khi ông Abraham Lincoln đắc cử chức vụ Tổng Thống.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một thời gian ngắn sau khi dọn tới Springfield, ông Abraham Lincoln đã gặp cô Mary Todd (1818-82), một cô gái Kentucky sống với người chị đã có gia đình. Hai người quen nhau và đã có lần hủy bỏ ước hẹn hôn nhân nhưng cuối cùng, họ đã làm đám cưới vào ngày 4-11-1842, khi đó ông Lincoln 32 tuổi còn cô Todd 23.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bà Mary Todd Lincoln là một người tính khí bất thường lại nhiều tham vọng. Bản tính tương khắc của 2 vợ chồng này đã gây nên nhiều vụ va chạm. 18 tháng sau ngày cưới, ông Lincoln đã mua một căn nhà gỗ và dọn gia đình tới đây cho tới khi trở nên Tổng Thống. Họ đã có 4 người con : Robert Todd, Edward Baker sinh năm 1846 nhưng đã chết 4 năm sau, William Wallace sinh năm 1850 nhưng rồi qua đời tại Tòa Bạch Cung năm 11 tuổi và Thomas, thường được gọi là Tad, chết năm 1871 ở tuổi 18 vì bị bệnh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;4- Chính khách quốc gia.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau 4 nhiệm kỳ lập pháp tại miền Illinois, ông Abraham Lincoln ước muốn được bầu vào Quốc Hội. Năm 1840, ông Lincoln đi tới nhiều tiểu bang để vận động tranh cử Tổng Thống cho ông William Henry Harrison. Ông đã dùng đề tài “Hệ Thống Ngân Hàng” và ủng hộ giải pháp Ngân Hàng Hoa Kỳ (the Bank of the U.S.). Các vận động tranh cử của ông vào Hạ Viện vào các năm 1843 và 1844 đã không giúp ông thành công.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1844, ông Abraham Lincoln lại ủng hộ ông Henry Clay, một ứng viên Tổng Thống thuộc đảng Wig. Trong kỳ vận động này, ông Lincoln đã chọn đề tài thuế vụ (tariff) theo đó một loại thuế cần được áp đặt vào các hàng hóa nhập cảng để giúp đỡ kỹ nghệ Hoa Kỳ phát triển. Hai năm sau, ông Lincoln đã thắng cử vào Viện Dân Biểu. Đối thủ của ông là ông Peter Cartwright, một nhân vật Methodist rất danh tiếng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ông Abraham Lincoln vào ngồi trong Quốc Hội từ ngày 6-12-1847, lúc mà Hoa Kỳ đã thắng cuộc chiến tranh Mễ Tây Cơ nhưng hiệp ước hòa bình giữa Hoa Kỳ và Mễ Tây Cơ chưa được ký kết. Vào thời gian này, ông Lincoln đã cùng các bạn Whig đồng viện trách cứ Tổng Thống James K. Polk về chiến tranh và ông đã bỏ phiếu cần phải cung cấp cho quân đội Hoa Kỳ đầy đủ phương tiện. Ông Lincoln cũng ủng hộ chương trình Wilmot Proviso theo đó chế độ nô lệ phải bị tiêu hủy tại các miền đất mà Hoa Kỳ chiếm được của Mễ Tây Cơ. Ông cũng vận động tranh cử chức vụ Tổng Thống năm 1848 cho ông Zachary Taylor.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tới ngày 4-3-1849, nhiệm kỳ dân biểu của ông Lincoln chấm dứt. Ong Lincoln đã không thành công trong việc vận động để đạt chức vụ Bộ Trưởng Đất Dai (Commissioner of the General Land Office) trong khi lại từ chối chức vụ Thống Đốc tiểu bang Oregon. Ông Abraham Lincoln trở về Springfield, Illinois, với nghề luật sư. Vào thời kỳ này, các công ty lớn đang phát triển tại miền Illinois và các tiểu bang lân cận. Ông Lincoln đã tranh cãi trong nhiều vụ kiện nhờ đó lợi tức của ông rất khả quan. Thù lao cao nhất của ông là 5,000 mỹ kim khi ông biện hộ cho Công Ty Đường Sắt Trung Ương Illinois (the Illinois Central Railroad) trong một vụ kiện liên quan tới thuế vụ. Sau vụ này, nhờ danh tiếng vang lừng, ông Abraham Lincoln trở nên một trong các luật sư hàng đầu của miền Illinois.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào năm 1820 về trước, đạo luật hòa giải Missouri (the Missouri Compromise) đã cấm chỉ chế độ nô lệ tại các miền đất mới phía bắc của con đường đông tây, là đường kéo dài của biên giới phía nam của tiểu bang Missouri. Nhưng rồi tới đầu năm 1854, Thượng Nghị Sĩ Stephen A. Douglas của tiểu bang Illinois lại đề ra một đạo luật tổ chức các miền đất Kansas và Nebraska. Đạo luật Kansas-Nebraska này đã xét lại đạo luật hòa giải Missouri và cho phép các người định cư tại các tiểu bang mới được quyền quyết định duy trì hay không duy trì chế độ nô lệ. Ông Abraham Lincoln và một số người khác đã tin tưởng rằng chế độ nô lệ đã bị giới hạn để rồi suy tàn trong tương lai. Chính sách mới kể trên như thế có thể làm sống lại chế độ tàn nhẫn đó và điều này đã khiến ông Abraham Lincoln bất bình.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ông Abraham Lincoln đã tin tưởng vào các vị lập quốc khi viết ra “Bản Tuyên Ngôn Độc Lập” theo đó Tự Do và Bình Đẳng đã được hứa hẹn. Có lần ông Lincoln đã nói :”Tôi không có một tư tưởng chính trị nào không bắt nguồn từ Bản Tuyên Ngôn Độc Lập” và ông hướng về ông Thomas Jefferson vì các nguyên tắc chính trị dân chủ và về ông Alexander Hamilton do các nguyên tắc kinh tế. Ông Lincoln cũng tin rằng Hiến Pháp Hoa Kỳ đã bảo vệ việc chống lại chế độ nô lệ vì chế độ này là điều xấu xa, đang dần dần bị hủy diệt. Cũng vì thế, ông Lincoln đã quyết định vận động triệt tiêu Đạo Luật Kansas-Nebraska.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Từ năm 1854, ông Abraham Lincoln đã diễn thuyết hùng hồn tại Springfield, Peoria và Chicago, và là nhà lãnh đạo phong trào chống đối đạo luật kể trên. Ông được bầu vào Viện Lập Pháp Illinois nhưng sau đó từ chức để tranh cử chức vụ Thượng Nghị Sĩ. Trong cuộc bầu cử lần đầu, ông Lincoln bị thiếu 5 phiếu và để không cho ông Douglas đắc cử, ông đã quay sang ủng hộ ông Lyman Trumbull và ông Trumbull này đã thắng lợi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong thập niên 1850, đảng Whig bị phân hóa vì các đảng viên tại các miền đất khác nhau đã bất đồng ý kiến về chế độ nô lệ. Năm 1856, ông Lincoln tham gia đảng Cộng Hòa chủ trương chống nô lệ, lúc đó đảng này mới được 2 tuổi. Ông Lincoln đã vận động giúp ông John C. Fremont, một đảng viên Cộng Hòa, bằng hơn một trăm bài diễn thuyết giá trị nhưng rồi ông này đã bị thua trước ông James Buchanan, thuộc đảng Dân Chủ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1858, ông Lincoln được đề cử ra tranh chức Thượng Nghị Sĩ với ứng viên Douglas. Trong bài diễn văn nhận lãnh trách nhiệm, ông Lincoln đã nói “một căn nhà bị chia rẽ không thể đứng vững được. Tôi tin rằng chính phủ này không thể tồn tại mãi với một nửa nô lệ, một nửa tự do. Tôi không mong đợi Liên Bang bị giải thể. Tôi không mong đợi căn nhà sụp đổ, tôi chỉ mong đợi không còn bị chia rẽ nữa". Cũng nhân dịp này, ông Lincoln đã thách đố ông Douglas tranh luận và ông Douglas đã nhận lời, nêu ra 7 nơi tụ họp. Nơi đầu tiên vào ngày 21-8-1858 tại Ottawa, Illinois, và nơi sau cùng tại Alton, Illinois, vào ngày 25-10. Mỗi ứng viên nói trong một giờ rưỡi. Thính giả rất đông. Các tranh luận tập trung vào việc nới rộng chế độ nô lệ tại các tiểu bang mới. Ông Douglas đã bênh vực đạo luật Kansas-Nebraska và cho rằng người dân của bất cứ miền đất nào có thể chối bỏ chế độ nô lệ bằng cách không chấp nhận các đạo luật địa phương bênh vực chế độ đó. Luận điệu này được gọi là Chủ Thuyết Freeport (the Freeport Doctrine). Trong khi đó, ông Abraham Lincoln lại nhấn mạnh rằng chế độ nô lệ là một điều xấu xa về luân lý, xã hội và chính trị (a moral, social and political evil).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong các cuộc tranh luận, ông Lincoln đã vượt trội hơn ông Douglas nhưng vì tiểu bang được chia thành các khu vực nên các đại biểu của ông Stephen Douglas đã đoạt được đa số phiếu và ông Douglas đã thắng cử. Dù sao, cuộc tranh luận đã khiến cho ông Lincoln trở nên một nhân vật có danh tiếng, thuộc tầm vóc quốc gia.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào ngày 16-5-1860 đã diễn ra Đại Hội Toàn Quốc Đảng Cộng Hòa họp tại Chicago. Các nhân vật ứng cử gồm Thượng Nghị Sĩ William H. Seward của thành phố New York, ông này được sự ủng hộ mạnh nhất nhưng cũng có nhiều kẻ thù, Thượng Nghị Sĩ Salmon P. Chase thuộc tiểu bang Ohio, nhân vật chưa từng giữ một chức vụ quốc gia cao cấp nào. Quá trình bình dân của ông Lincoln đã được dùng để vận động các cử tri. Sau 3 lần bỏ phiếu, ông Abraham Lincoln đã thắng và được đề cử làm ứng viên Tổng Thống. Ứng viên Phó Tổng Thống là Thượng Nghị Sĩ Hannibal Hamlin, thuộc tiểu bang Maine.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Về phía đảng Dân Chủ, đã có sự chia rẽ. Các đảng viên miền Bắc đề cử Thượng Nghị Sĩ Stephen Douglas làm ứng viên Tổng Thống còn miền Nam chọn lựa ông John C. Breckinridge. Ngoài ra còn có một đảng thứ tư gọi là Đảng Hiến Pháp Liên Bang (the Constitutional Union Party), họ đã đề cử cựu Thượng Nghị Sĩ John Bell của tiểu bang Tennessee. Sau khi kiểm phiếu, ông Lincoln được 1,865,593 phiếu; ông Douglas được 1,382,713 phiếu còn ông Breckinridge được 848,356 phiếu. Như vậy ông Abraham Lincoln là đảng viên Cộng Hòa đầu tiên đắc cử chức vụ Tổng Thống Hoa Kỳ và là vị Tổng Thống thứ 16.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;5- Vị Tổng Thống kiên nhẫn và cương quyết.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi nghe tin ông Abraham Lincoln thắng cử chức vụ Tổng Thống, các tiểu bang Miền Nam của Hoa Kỳ đã báo động. Họ nghĩ rằng một Tổng Thống Cộng Hòa sẽ không tôn trọng các tài sản và quyền lợi của họ, như vậy đối với họ, chỉ còn một cách cứu vãn là ly khai khỏi Liên Bang Hoa Kỳ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày 20 tháng 12 năm 1860, tiểu bang South Carolina thông qua đạo luật ly khai (an Ordinance of Secession) và vào lúc ông Abraham Lincoln tuyên thệ nhậm chức, 6 tiểu bang Miền Nam tuyên bố ly khai khỏi Liên Bang Thống Nhất (the Union) rồi sau đó còn có 4 tiểu bang nữa tham gia. Các tiểu bang ly khai đã tạo nên các Tiểu Bang Liên Minh Hoa Kỳ (the Confederate States of America).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày 11-2-1861, khi từ biệt các người quen biết tại Springfield, Illinois, để lên đường đi nhậm chức, ông Abraham Lincoln đã nói “Tôi đã sống ở đây một phần tư thế kỷ và đã trải qua thời kỳ từ trẻ tới già. Các con của tôi đã sinh ra tại nơi này và có đứa đã chôn tại nơi này. Bây giờ tôi phải ra đi, không biết bao giờ mới có thể trở lại, ra đi với một nhiệm vụ trước mặt còn lớn lao hơn thứ của ông Washington”. Rồi hành trình của chuyến xe lửa chở ông Lincoln tới Washington D.C. đã được trù liệu cẩn thận để ngừng lại tại các thành phố lớn miền Đông, làm sao cho hàng ngàn dân chúng có cơ hội nhìn thấy mặt vị Tổng Thống tương lai của họ. Tại thành phố Philadelphia, ông Lincoln nghe tin có một âm mưu ám sát, vì vậy chuyến đi đã được thay đổi tại Harrisburg, Pa., và ông Abraham Lincoln đã tới Thủ Đô vào sáng sớm ngày 23-2.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày 4-3-1861, ông Abraham Lincoln đã tuyên thệ nhậm chức Tổng Thống Hoa Kỳ thứ 16. Trong bài diễn văn khai mạc, ông Lincoln đã nói : “Tôi không có chủ đích nào can thiệp vào bản chất của vấn đề nô lệ của các tiểu bang mà thứ đó đang tồn tại. Hỡi các đồng bào bất mãn của tôi, trong tay các bạn và không phải là trong tay tôi, là vấn đề trầm trọng vì nội chiến. Chúng ta không phải là kẻ thù.”. Ông Abraham Lincoln đã xác định không có ý muốn can thiệp vào các tiểu bang khác, bởi vì vấn đề “nô lệ” hay “tự do” đã được Hiến Pháp quy định và bảo vệ. Ông chỉ muốn sự thống nhất Liên Bang.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Non 6 tuần lễ sau ngày nhậm chức hay vào ngày 12-4-1861, khi mà cuộc nội chiến đã bắt đầu và khi ông phải đảm nhiệm trọng trách đưa các tiểu bang ly khai trở về với đại gia đình quốc gia và duy trì sự thống nhất, ông Abraham Lincoln đã viết : “Mục tiêu chính của tôi trong cuộc tranh đấu này là duy trì Liên Bang, không phải là duy trì hay tiêu hủy chế độ nô lệ. Nếu tôi có thể duy trì Liên Bang mà không giải phóng một người nô lệ nào, tôi sẽ làm điều đó, và nếu tôi có thể duy trì Liên Bang mà lại giải phóng tất cả các nô lệ, tôi cũng sẽ làm điều đó”, và ông Lincoln đã xác nhận điều ước muốn của ông là “mọi người ở mọi nơi phải được Tự Do”. Ông Lincoln đã cảnh cáo rằng ông sẽ dùng tất cả sức mạnh của quốc gia để chiếm giữ các “tài sản và địa điểm” thuộc về chính quyền Liên Bang. Danh từ này ám chỉ các pháo đài, công xưởng, tòa nhà quan thuế.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một ngày sau lễ tuyên thệ nhậm chức, Tổng Thống Abraham Lincoln đã công bố danh sách các nhân vật nội các, gồm cả hai đối thủ chính trị của ông trong cuộc tranh cử Tổng Thống là ông William H. Seward, Bộ Trưởng Ngoại Giao và ông Salmon P. Chase, Bộ Trưởng Ngân Khố. Như vậy Nội Các của đảng Cộng Hòa đã gồm nhiều sắc thái chính trị khác nhau, đây là một nhóm nhân vật có các khả năng đặc biệt để phục vụ quốc gia và ông Lincoln đã khéo léo duy trì Nội Các một cách lịch duyệt. Ông cần tới sự giúp đỡ của họ, không phải các lời khen ngợi của họ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhờ các kinh nghiệm của một luật sư, Tổng Thống Lincoln đã cứu xét mọi vấn đề theo mọi khía cạnh trước khi đi tới một quyết định. Ông đã nói với một người bạn : "đầu óc tôi làm việc chậm chạp nhưng khi nó đã tiến hành, nó đi về phía trước", và khi ông đã quyết định xong một điều quan trọng nào, không ai có thể khiến ông đổi ý.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngay khi các tiểu bang Miền Nam ly khai, họ đã chiếm giữ các đồn lũy nằm trong biên giới của họ khiến cho ông Lincoln phải quyết định hoặc là củng cố các đồn lũy còn lại hay giành chiếm các địa điểm đã lọt vào vòng kiểm soát của phe Miền Nam. Tại hải cảng Charleston, đồn Sumter (Fort Sumter) là một biểu tượng của Liên Bang Thống Nhất (the Union). Người chỉ huy đồn này là thiếu tá Robert Anderson. Nếu Tổng Thống Abraham Lincoln ra lệnh rút quân đội ra khỏi đồn này, sẽ có một làn sóng phản đối tại Miền Bắc, còn nếu ông tăng cường đồn lũy đó, phe Miền Nam sẽ coi đây là một hành động chiến tranh. Để dung hòa cả hai, ông Lincoln đã quyết định chỉ gửi lương thực tới đồn Sumter là thứ mà nơi đây đang cần. Tổng Thống Lincoln đã thông báo việc làm này cho tiểu bang South Carolina biết, nhưng phe Miền Nam vẫn coi đó là một hành động thù nghịch và ra lệnh cho thiếu tá Anderson phải đầu hàng. Viên thiếu tá này từ chối nên vào ngày 12-4, Tướng Pierre G.T. Beauregard đã ra lệnh cho pháo binh Liên Minh oanh tạc đồn Sumter. Ngày hôm sau, Anderson phải quy hàng và từ nay bắt đầu cuộc Nội Chiến Nam Bắc Mỹ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trước cuộc khủng hoảng này, Tổng Thống Abraham Lincoln đã hành động một cách cương quyết. Ông tuyên bố sẽ phong tỏa các hải cảng miền Nam, bành trướng quân đội ra khỏi giới hạn quy định bởi Luật Pháp, dùng các ngân khoản của Liên Bang mà không chờ đợi sự chấp thuận của Quốc Hội, và các người miền Bắc nhưng có cảm tình với phe Miền Nam bị tước đi “quyền bảo thân” (habeas corpus). Ông Lincoln tin tưởng rằng các hành động này nằm trong quyền hạn mà Hiến Pháp đã dành cho Tổng Thống lúc chiến tranh, và ông đã chứng tỏ các hành động đó là đúng khi Quốc Hội họp lần đầu tiên vào tháng 7 năm 1861. Bản văn gửi Quốc Hội của ông Lincoln được coi là một trong các văn thư quan trọng nhất. Khi vị Chánh Án Tòa Tối Cao Roger B. Taney phản đối ông Lincoln về vấn đề tước đoạt “quyền bảo thân”, Tổng Thống Lincoln đã đặt câu hỏi mà cho tới ngày nay, việc trả lời hợp lý vẫn còn là một vấn đề khó khăn : “Nếu chỉ có một luật lệ trong tất cả các luật lệ khác không được thi hành và chính quyền bị phân hóa ra từng mảnh, thì có nên tránh vi phạm luật lệ đó không ?”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tổng Thống Abraham Lincoln cho rằng sẽ là một thảm cảnh nếu quốc gia Hoa Kỳ bị tan vỡ, khi đó không phải chỉ có người Mỹ là bị tổn hại mà về sau này, mọi người đều bị thiệt thòi bởi vì đối với ông Lincoln, Hoa Kỳ tượng trưng cho một kinh nghiệm theo đó người dân có thể quản trị lấy chính mình. Nếu loại chính quyền này thất bại thì các vua chúa, các kẻ độc tài và những người ủng hộ họ sẽ nói rằng người dân không thể tự quản trị được và cần phải có một loại người nào đó đứng ra điều khiển dân chúng. Và ông Abraham Lincoln đã coi trung tâm của vấn đề Nội Chiến là Số Phận của nền Dân Chủ trên Thế Giới.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;6- Điều hành chiến tranh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hai ngày sau khi đồn Sumter thất thủ, Tổng Thống Lincoln đã gọi nhập ngũ 75,000 người. Các người tình nguyện vào Quân Đội đã đông hơn số quân sĩ mà chính quyền có thể trang bị. Tháng 7-1861, một đạo quân được tập họp quanh thủ đô Washington. Một lực lượng quân sự tương đương của phe Miền Nam cũng được huy động tại phía bên kia dòng sông Potomac, thuộc tiểu bang Virginia.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào thời kỳ đó, nhiều người Miền Bắc tin rằng các lực lượng quân sự của họ có thể đánh bại phe Miền Nam trong một trận chiến. Các báo chí hô hào “tiến tới Richmond”. Tổng Thống Lincoln bèn ra lệnh xung trận. Đạo quân Miền Bắc ở dưới quyền Tướng Irvin McDowel. Trận đánh Bull Run đầu tiên diễn ra vào ngày 21-7 với phe Miền Bắc bị thất bại. Tới lúc này các người Miền Bắc mới nhận thức được rằng đây là một cuộc chiến lâu dài.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vì là vị Tổng Tư Lệnh Quân Đội, Tổng Thống Lincoln phải chọn lựa vị tướng lãnh nào có khả năng tổ chức các người tình nguyện thành những đạo quân mang về chiến thắng. Tướng George B. McClellan là một nhà tổ chức quân đội tài giỏi nhưng chiến dịch Peninsular năm 1862 của ông đã gặp thất bại. Đây là kế hoạch đánh chiếm Richmond, Va., thủ đô của phe Miền Nam. Tống Thống Lincoln sau đó đã chỉ định Tướng John Pope làm chỉ huy trưởng các đạo quân nhưng Tướng Pope cũng bị thua trong trận đánh Bull Run thứ hai, diễn ra vào ngày 29 tới 30 tháng 8 năm 1862, khiến cho Tổng Thống Lincoln phải gọi tới Tướng McClellan bảo vệ thủ đô Washington. Khi Tướng McClellan không chịu tiến quân vào đầu tháng 11, Tổng Thống Lincoln đành phải cất chức Tướng McClellan và đặt Tướng Ambrose E. Burnside vào chức vụ chỉ huy. Nhưng vào ngày 13-12, Tướng Burnside cũng thua trận Fredericksburg và người kế tiếp là Tướng Joseph Hooker cũng thất bại vào ngày 1 tới ngày 4 tháng 5 năm 1863 trong trận đánh Chancellorsville.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong phần lớn thời kỳ Nội Chiến này, các báo chí và dân chúng đã chỉ trích các chính sách của Tổng Thống Lincoln một cách cay đắng, nhưng ông Lincoln đã không biện hộ vì tin rằng ông đang thi hành các công việc có lợi cho Liên Bang. Tại Tòa Bạch Cung, mỗi ngày các thư ký mang tới Tổng Thống Lincoln các bản tin chiến trường, và một cách cô đơn, Tổng Thống phải nghĩ ra các giải pháp. Ông Lincoln đã ngồi vào bàn giấy trước 7 giờ mỗi sáng, cố gắng tìm cách chiến thắng và duy trì sự thống nhất Liên Bang. Các giấy tờ tràn ngập văn phòng của ông. Nỗi khổ tâm nhất của ông Lincoln là phải đọc hay nghe các đơn xin ân xá của các binh lính bị kết tội “tử hình” vì đào ngũ hay vì không làm tròn nhiệm vụ, và mỗi khi tìm ra được một lý lẽ nào, ông Lincoln đều tha tội cho các người lính. Có một lần, ông Abraham Lincoln đã nói một cách buồn rầu : “Trong 4 năm, tôi gặp nhiều vụ phải giải quyết liên quan tới sống và chết hơn tổng số các vụ mà các vị khác ngồi vào chiếc ghế này gặp phải. Không ai hiểu nổi nỗi phiền muộn của tâm hồn tôi". Quả vậy, không ai cảm thấy được thảm cảnh của chiến tranh hơn ông Abraham Lincoln. Đã có lần ông nói với nhà văn Harriet Beecher Stowe một cách mệt mỏi rằng “không rõ cuộc xung đột này sẽ chấm dứt theo cách nào, nhưng tôi có cảm tưởng rằng tôi sẽ không tồn tại được lâu sau cuộc kết thúc”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong hoàn cảnh mệt nhọc vì suy tính của ông Lincoln, cậu Tad đã luôn luôn ở gần bên cha và là niềm vui cho ông. Cậu trai nhỏ nhất này thường xuyên thức khuya trong văn phòng làm việc của cha cho tới khi ngủ gục. Ông bà Lincoln lúc này có 3 con trai là William Wallace hay “Willie”, Thomas hay “Tad” nhưng Willie đã chết vào ngày 20-2-1862 khiến cho ông bà Lincoln buồn rầu vô hạn, còn cậu con trai lớn Robert Lincoln là một sinh viên Đại Học Harvard, sau đó phục vụ trong ban tham mưu của Tướng Grant với cấp bậc đại úy.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sống tại Tòa Bạch Cung, bà Mary Todd Lincoln cũng gặp nhiều bất mãn. Bản tính của bà hay ghen tị và nóng nẩy khiến cho bà Mary mất đi các bạn thân. Người em trai trẻ nhất của bà, 2 người anh em khác dòng và chồng của các em gái khác cha/mẹ đều phục vụ trong quân đội của phe Miền Nam, vì vậy bà Mary Lincoln thường bị nghi ngờ về lòng trung thành. Còn đối với ông Abraham Lincoln, chức vụ Tổng Thống là tham vọng cao nhất của mọi công dân Mỹ nhưng cuộc Nội Chiến đã làm cho đời sống trong Tòa Bạch Cung của ông thiếu hạnh phúc. Ông thường xuyên viếng thăm các bệnh viện quân đội và điều này đã khiến ông rất đau lòng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngoài nhiệm vụ điều hành Nội Các, điều khiển Lục Quân, Hải Quân và quản trị đất nước, Tổng Thống Abraham Lincoln còn phải lo việc bổ nhiệm hàng ngàn chức vụ chính trị và quân sự, chuẩn bị các bài diễn văn, tự viết các bức thư, tìm đọc các sách báo về khoa học quân sự và tìm kiếm các vị tướng lãnh có tài, có thể mang lại chiến thắng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau một thời gian dài thất bại, lực lượng quân sự Miền Bắc mới đạt được một số chiến thắng nhỏ tại thung lũng dòng sông Mississippi. Ngày 6-2-1862, Tướng Ulysse S. Grant chiếm được đồn Henry rồi đồn Donelson vào ngày 16-2. Tới tháng 4, đội quân Miền Nam đã phải rút lui sau trận Shiloh nhưng quân Miền Bắc cũng bị thiệt hại nặng nề.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tổng Thống Lincoln còn phải lo mặt đối ngoại. Từ năm 1861, Bộ Trưởng Ngoại Giao William Seward đã đề nghị gây chiến với vài quốc gia của châu Âu để đoàn kết trong nước nhưng Tổng Thống Lincoln đã làm ngơ trước ý kiến này. Tới tháng 11-1861, Đại Tá Charles Wilkes của Hải Quân Miền Bắc đã ngăn chặn chiếc tầu chiến Trent của nước Anh và bắt 2 vị bộ trưởng Miền Nam là James M. Mason và John Slidell. Nước Anh đã phản đối dữ dội sự việc này và muốn gây chiến. Để tránh chiến tranh tai hại, Tổng Thống Lincoln đã ra lệnh thả 2 ông Mason và Slidell.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào thời kỳ đầu của cuộc Nội Chiến, đã có một số người cực đoan tại Miền Bắc chống đối chế độ nô lệ. Nếu những người này thắng thế thì Miền Bắc sẽ mất đi sức ủng hộ của các tiểu bang biên giới như Kentucky, Missouri, Delaware và Maryland, và việc đánh bại phe Miền Nam không thể nào thực hiện được nếu không có sự yểm trợ của các tiểu bang này. Vì thế Tổng Thống Lincoln phải duy trì sự ôn hòa, cố gắng làm sao có được sự ủng hộ của đa số dân chúng, bảo vệ sự thống nhất của Liên Bang hơn là sớm giải phóng nô lệ. Tổng Thống Lincoln đã tuyên bố : “Mục tiêu chính của tôi là duy trì Liên Bang và không phải duy trì hay hủy bỏ chế độ nô lệ”. Nhưng tới cuối mùa hè năm 1862, Tổng Thống Lincoln nhận thấy đã tới thời cơ phải thay đổi chiến lược. Nhiều quốc gia bên ngoài có cảm tình với phe Miền Nam nhưng lại lên án chế độ nô lệ là xấu xa và như vậy, họ không thể ủng hộ phe ly khai trong khi đó nhiều người Miền Bắc trước kia dửng dưng với chế độ nô lệ thì nay lại tin rằng cần phải chấm dứt sự bất công đó. Ngoài ra, các người nô lệ được giải phóng có thể tham gia vào quân đội Miền Bắc. Tổng Thống Lincoln đã bàn ý kiến này với vài nhân vật nội các và theo lời khuyên của ông Seward, ông chưa công bố Bản Tuyên Bố Giải Phóng Nô Lệ cho tới khi quân đội Miền Bắc tạo được chiến thắng thích hợp.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày 17-9-1862 diễn ra trận đánh Antietam. Đây là chiến thắng đầu tiên của phe Miền Bắc. Ngày 22-9, Tổng Thống Lincoln ban ra một bản tuyên bố mà ông gọi là “hành động chính của chính quyền của tôi và cũng là biến cố lớn nhất trong thế kỷ 19”. Bản Tuyên Bố Giải Phóng sơ khởi hứa hẹn Tự Do dành cho các nô lệ bị giữ trong các tiểu bang Miền Nam nào không trở về với Liên Bang vào cuối năm đó. Bản Tuyên Bố này đã ảnh hưởng tới 3 triệu người nô lệ. Các tiểu bang Miền Nam và các chủ nhân sở hữu nô lệ đã không quan tâm tới Bản Tuyên Bố sơ khởi nên vào ngày 01-01-1863, Tổng Thống Lincoln lại công bố Bản Tuyên Bố Giải Phóng cuối cùng. Văn bản này không ảnh hưởng tới các tiểu bang biên giới là các nơi không nổi loạn chống Liên Bang. Từ khi đó, mỗi khi quân đội Miền Bắc chiếm được một miền đất nào, các nô lệ tại miền đất mới đó được giải thoát ngay và nhiều người trong bọn họ đã gia nhập vào quân đội Liên Bang.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bản Tuyên Bố Giải Phóng (the Emancipation Proclamation) của ông Abraham Lincoln đã tạo nên một ảnh hưởng dài hạn. Đối với các quốc gia bên ngoài, bản văn này đã cung cấp cho cuộc chiến tranh một lý tưởng mới và đã giúp công vào tinh thần chiến đấu của phe Miền Bắc. Bản Tuyên Bố cũng tạo nên một hướng đi cho Tu Chính Án thứ 13 của Hiến Pháp, được phê chuẩn vào ngày 18-12-1865 theo đó chế độ nô lệ bị chấm dứt theo Luật Pháp trên toàn lãnh thổ Hoa Kỳ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;7- Chiến thắng và thắng cử lần thứ hai.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau thắng lợi tại Chancellorsville vào tháng 5 năm 1863, Tướng Robert E. Lee nhận thấy phe Miền Bắc dần dần có lợi thế hơn nên ông đã quyết định đưa quân đánh sang tiểu bang Pennsylvania, gây ảnh hưởng tâm lý tới nhân dân Miền Bắc. Ngày 01-7-1863, đạo quân của tướng Lee đụng trận với quân đội Miền Bắc dưới quyền Tướng George G. Meade gần một thị trấn nhỏ tên là Gettysburg. Trong 3 ngày, trận tuyến giằng co tại các dải đất hẹp thuộc miền nam Pennsylvania rồi cao điểm giao tranh xẩy ra vào ngày mồng 3 khi 15,000 quân Miền Nam do Tướng George Pickett tấn công dữ dội vào các vị trí của quân đội Miền Bắc nhưng đã gặp thất bại. Sáng sớm ngày 5-7, Tướng Lee đành phải ra lệnh rút lui, không còn hy vọng đánh Miền Bắc nữa. Đạo quân của Tướng Lee tại phía bắc Virginia khi đó lên tới 75,000 người, gồm cả sĩ quan và binh lính trong khi Tướng Meade có 88,000 quân thuộc đạo quân Potomac. Phe Miền Nam thiệt hại tại Gettysburg vào khoảng 28,000 người trong khi tổn thất của phe Miền Bắc là 23,000, gồm cả các người chết, bị thương và mất tích.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày 19-11-1863 tại nghĩa trang Gettysburg trên ngọn đồi Cemetery thuộc tiểu bang Pennsylvania, đã diễn ra lễ truy điệu các tử sĩ. Diễn giả chính của buổi lễ là ông Edward Everett, một trong các nhà hùng biện danh tiếng nhất thời đó. Ông Everett đã nói liền trong 2 giờ, sau đó Tổng Thống Lincoln được mời nói vài lời. Ông Abraham Lincoln đứng lên, từ từ rút cặp kính ra và một mẫu giấy nhỏ rồi nói bằng một giọng rõ ràng. Trong 3 phút ngắn ngủi, Tổng Thống Lincoln đã hoàn tất Bài Diễn Văn Gettysburg lừng danh với câu mở đầu : “Cách đây 87 năm, ông cha của chúng ta đã thành lập trên lục địa này một quốc gia mới, thành hình trong Tự Do và với chủ đích rằng mọi người được sinh ra bình đẳng”. Và lời kết luận của Tổng Thống Abraham Lincoln đã trở thành một câu danh ngôn quen thuộc với tất cả mọi người: “Chính quyền của Dân, do Dân, vì Dân sẽ không bao giờ suy tàn trên mặt đất”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhiều nhà khảo cứu nói rằng Tổng Thống Lincoln đã phác thảo bài diễn văn bất hủ kể trên, trên chuyến xe lửa đi tới Gettysburg. Thực ra ông Lincoln đã suy nghĩ rất nhiều về buổi lễ, rồi do chuẩn bị cẩn thận, lại đúc kết trong một khung cảnh bi thương, Bài Diễn Văn Gettysburg đã trở nên một văn bản lừng danh của Lịch Sử và Văn Chương Hoa Kỳ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong khi Tướng Lee thua trận tại phía bắc thì tại phía tây vào ngày 4-7-1863, đạo quân của Tướng Grant đã chiếm được địa điểm Vicksburg khiến cho toàn thể khu vực dòng sông Mississippi, các tiểu bang Arkansas, Texas và Louisiana bị cắt ra khỏi quyền kiểm soát của phe Miền Nam. Hai chiến thắng Gettysburg và Vicksburg đã hứa hẹn việc kết thúc chiến tranh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào năm 1864, các đảng viên Cộng Hòa và đảng viên Dân Chủ ủng hộ chính sách quân sự của Tổng Thống Lincoln (War Democrats) đã lập ra đảng Thống Nhất Quốc Gia (the National Union Party). Tháng 6 năm đó, đảng này đề cử ông Abraham Lincoln ra tranh chức vụ Tổng Thống với ứng viên Phó Tổng Thống là Thượng Nghị Sĩ Andrew Johnson của tiểu bang Tennessee. Các đảng viên Dân Chủ chọn Tướng George B. McClellan làm ứng viên Tổng Thống và Dân Biểu Geoge H. Pendleton của tiểu bang Ohio làm ứng viên Phó Tổng Thống. Ngoài ra còn có một nhóm thứ ba tự gọi là các đảng viên Cộng Hòa Cấp Tiến (Radical Republicans) , họ đề nghị Tướng John C. Fremont, nhưng ông này đã rút lui một tháng trước cuộc bầu cử.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mùa hè năm đó, Tổng Thống Lincoln không đạt được nhiều ủng hộ. Ông Lincoln đã phải thú nhận nơi riêng tư vào tháng 8 rằng chính quyền của ông sẽ không được bầu lại. Nhưng các thắng lợi quân sự đã làm thay đổi niềm tin của dân chúng Hoa Kỳ thời bấy giờ. Ngày 5 tháng 8, Phó Đề Đốc David G. Farragut đã chiến thắng tại Vịnh Mobile trong khi tại phía nam, Tướng William T. Sherman đã chiếm được Chattanooga rồi tới ngày 2-9-1864, kéo quân tới Atlanta, Ga., và sau đó, băng qua tiểu bang Georgia, tới tận bờ biển là thành phố Savannah. Trên đường tiến quân, đạo quân Miền Bắc này đã đốt sạch các nhà máy, kho hàng, đã tàn phá các đường xe lửa và cầu cống. Sau khi tới được Savannah, đạo quân của Tướng Sherman lại quay lên mạn bắc, vượt qua các tiểu bang South Carolina và North Carolina, chủ đích phối hợp với đạo quân của Tướng Grant để đánh tới Richmond, Virginia.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi cuộc bầu cử Tổng Thống diễn ra, ông Lincoln đã đánh bại ông McClellan bằng 212/21 phiếu cử tri đoàn (electoral vote) và thắng hơn 400,000 phiếu bầu phổ thông (popular votes). Ngày 4 tháng 3 năm 1865, ông Abraham Lincoln ở tuổi 56, đã tuyên thệ nhậm chức Tổng Thống nhiệm kỳ 2 và nhiệm vụ của ông là đoàn kết lại quốc gia. Trong bài diễn văn kỳ này, Tổng Thống Lincoln đã trình bày rằng nhờ cuộc Nội Chiến, chế độ nô lệ mới được hủy bỏ và cả miền Bắc và miền Nam cùng nhau phải trả giá cho chế độ đó.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào mùa xuân năm 1865, đạo quân Miền Nam của Tướng Lee vừa thiếu người lại hết tiếp liệu trong khi các cánh quân của Tướng Grant và Tường Sherman đang đánh tới. Ngày 9 tháng 4 năm 1865, Tướng Robert E. Lee đã đầu hàng trước Tướng Ulysse S. Grant tại Tòa Án Appomattox của Virginia, rồi tới ngày 11-4, lá cờ Sao và Sọc của Hoa Kỳ đã được kéo lên tại Đồn Sumter, nơi mà cuộc Nội Chiến đã bắt đầu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cuộc Nội Chiến Nam-Bắc Mỹ là trận chiến tranh bi thảm và tàn phá nhất trong Lịch Sử Hoa Kỳ. Đã có vào khoảng 2.5 triệu người phục vụ trong lục quân và hải quân. Hơn 618,000 người Mỹ bị giết trên chiến trường hay bị chết vì thương tích. Nhưng mặc dù các tổn thất rất lớn lao về nhân mạng và tài sản, cuộc Nội Chiến đã giải quyết được hai vấn đề chính, đó là Liên Bang Hoa Kỳ được duy trì và chế độ Nô Lệ đã bị chấm dứt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;8- Tổng Thống Lincoln bị ám sát.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhân vì ăn mừng việc chấm dứt chiến tranh, Tổng Thống Lincoln cùng với vợ và 2 vị khách đã tới Rạp Hát Ford tại Thủ Đô Washington để tham dự buổi trình diễn vở hát “Người bà con Mỹ của chúng tôi” (Our American Cousin). Vài phút sau 10 giờ đêm, một tiếng súng đã nổ vang trong rạp hát đông người này. John Wilkes Booth là một trong các kịch sĩ danh tiếng nhất, đã dùng súng lục bắn từ phía sau vào đầu Tổng Thống Lincoln. Tên Booth đã ám hại Tổng Thống để trả thù cho phe Miền Nam. Tổng Thống Lincoln nằm bất tỉnh. Gia đình ông và một số nhân viên cao cấp vây quanh ông, tìm cách cứu chữa. Ông Abraham Lincoln qua đời lúc 7 giờ 22 sáng ngày 15-4-1865.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi còn sống, Tổng Thống Abraham Lincoln đã bị nhiều người chỉ trích cay đắng nhưng sau khi ông đã qua đời, mọi người kể cả các kẻ thù cũ của ông cũng phải ca ngợi tấm lòng tử tế và không vị kỷ của ông. Hàng triệu người đã gọi ông là “Người Cha Abraham” (Father Abraham). Chiếc xe lửa chở quan tài của ông Lincoln, khởi hành từ thủ đô Washington hướng về phía tây, đã làm đau lòng hàng trăm ngàn người đứng chờ đón tại hai bên đường. Ngày 4 tháng 5, thi hài của ông Abraham Lincoln được chôn cất tại Nghĩa Trang Oak Ridge ở Springfield, Illinois. Đài kỷ niệm trên ngôi mộ của ông Lincoln đã là nơi hành hương của dân chúng và nhiều người còn tưởng nhớ tới ông Abraham Lincoln tại các điểm kỷ niệm thuộc các tiểu bang Illinois, Kentucky, Indiana, và nhất là tại Gettysburg, Pa., và tại Thủ Đô Washington D.C.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chỉ sau khi đã qua đời, Thế Giới mới nhận ra ông Abraham Lincoln là một bậc vĩ nhân. Ông Lincoln đã là một chính khách siêu đẳng, một nhà lý tưởng cương quyết, một con người kiên nhẫn và giàu lòng thương kẻ khác.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày nay ở nhiều nơi trên thế giới, các học sinh, các sinh viên, các người tranh đấu cho Tự Do và Dân Chủ, tranh đấu chống lại các chế độ độc tài, đàn áp dân chúng, vẫn thường nhắc nhở tới câu nói bất hủ của ông Abraham Lincoln, vị Tổng Thống thứ 16 của Hoa Kỳ, đó là câu: “Chính quyền của Dân, do Dân, vì Dân sẽ không bao giờ suy tàn trên mặt đất”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4128474229374807245-5312464141587543420?l=thoisukynguyen2000.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</description><link>http://thoisukynguyen2000.blogspot.com/2009/07/abraham-lincoln-vi-nhan-giai-phong-no.html</link><author>noreply@blogger.com (Thoi Su Ky Nguyen 2000)</author><thr:total xmlns:thr='http://purl.org/syndication/thread/1.0'>0</thr:total></item><item><guid isPermaLink='false'>tag:blogger.com,1999:blog-4128474229374807245.post-987936882243619848</guid><pubDate>Fri, 03 Jul 2009 15:29:00 +0000</pubDate><atom:updated>2009-07-03T08:47:34.186-07:00</atom:updated><category domain='http://www.blogger.com/atom/ns#'>BENJAMIN FRANKLIN ( 1706 - 1790) NHÀ LẬP QUỐC HOA KỲ</category><title>BENJAMIN FRANKLIN ( 1706 - 1790) NHÀ LẬP QUỐC HOA KỲ</title><description>&lt;div&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;p class="MsoNormal" style="text-align: center;"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style=";font-size:13;color:red;"  &gt;BENJAMIN FRANKLIN ( 1706 - 1790) &lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;&lt;p class="MsoNormal" style="text-align: center;"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style=";font-size:13;color:red;"  &gt;NHÀ LẬP QUỐC HOA KỲ&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;b&gt;&lt;span style=";font-size:13;color:black;"  &gt; &lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;   &lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style=";font-size:13;color:black;"  &gt;  &lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span class="Apple-style-span"  style="font-size:180%;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span"  style="font-size:18;"&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span class="Apple-style-span"  style="font-size:180%;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span"  style="font-size:18;"&gt;&lt;b&gt;&lt;a href="http://images.google.com/imgres?imgurl=http://thealewife.typepad.com/weblog/images/benjamin_franklin_as_played_by_burdette__1.jpg&amp;amp;imgrefurl=http://thealewife.typepad.com/weblog/2006/01/index.html&amp;amp;usg=__26e7lagFLQrSveVeefHFMFuPfR4=&amp;amp;h=347&amp;amp;w=300&amp;amp;sz=102&amp;amp;hl=en&amp;amp;start=5&amp;amp;um=1&amp;amp;tbnid=8vSzrAVLdSswOM:&amp;amp;tbnh=120&amp;amp;tbnw=104&amp;amp;prev=/images%3Fq%3DBENJAMIN%2BFRANKLIN%26hl%3Den%26client%3Dfirefox-a%26rls%3Dorg.mozilla:en-US:official%26sa%3DN%26um%3D1"&gt;&lt;img style="border: 1px solid ;" src="http://tbn3.google.com/images?q=tbn:8vSzrAVLdSswOM:http://thealewife.typepad.com/weblog/images/benjamin_franklin_as_played_by_burdette__1.jpg" width="104" height="120" /&gt;&lt;/a&gt;   &lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;font-size:16;" &gt;&lt;a href="http://images.google.com/imgres?imgurl=http://www.familysecuritymatters.org/imgLib/20080725_franklin_ben.jpg&amp;amp;imgrefurl=http://www.familysecuritymatters.org/publications/id.716/pub_detail.asp&amp;amp;usg=__LAsoHlKe5fex5Olu-w2Ti43-HEs=&amp;amp;h=493&amp;amp;w=334&amp;amp;sz=30&amp;amp;hl=en&amp;amp;start=19&amp;amp;um=1&amp;amp;tbnid=zd-bh7Fywt0k9M:&amp;amp;tbnh=130&amp;amp;tbnw=88&amp;amp;prev=/images%3Fq%3DBENJAMIN%2BFRANKLIN%26hl%3Den%26client%3Dfirefox-a%26rls%3Dorg.mozilla:en-US:official%26sa%3DN%26um%3D1"&gt;&lt;img style="border: 1px solid ;" src="http://tbn3.google.com/images?q=tbn:zd-bh7Fywt0k9M:http://www.familysecuritymatters.org/imgLib/20080725_franklin_ben.jpg" width="88" height="130" /&gt;&lt;/a&gt;   &lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: bold;font-size:18;" &gt;&lt;img class="aligncenter size-medium wp-image-165" title="250px-usdollar100front" src="http://chinatownboardroom2.files.wordpress.com/2009/05/250px-usdollar100front.jpg?w=300&amp;amp;h=133" alt="250px-usdollar100front" width="300" height="133" /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span class="Apple-style-span"  style="font-size:180%;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span"  style="font-size:18;"&gt;&lt;b&gt;&lt;a href="http://images.google.com/imgres?imgurl=http://benjaminfranklinfans.com/files/2008/12/385px-benfranklin_waterspout_1806.jpg&amp;amp;imgrefurl=http://benjaminfranklinfans.com/&amp;amp;usg=__BzfXEOssPmQYS9YI-uEhLOxNBgs=&amp;amp;h=600&amp;amp;w=385&amp;amp;sz=76&amp;amp;hl=en&amp;amp;start=2&amp;amp;um=1&amp;amp;tbnid=gCREJXJve03MIM:&amp;amp;tbnh=135&amp;amp;tbnw=87&amp;amp;prev=/images%3Fq%3DBENJAMIN%2BFRANKLIN%2Binvention%26hl%3Den%26client%3Dfirefox-a%26rls%3Dorg.mozilla:en-US:official%26sa%3DN%26um%3D1"&gt;&lt;img style="border: 1px solid ;" src="http://tbn0.google.com/images?q=tbn:gCREJXJve03MIM:http://benjaminfranklinfans.com/files/2008/12/385px-benfranklin_waterspout_1806.jpg" width="87" height="135" /&gt;&lt;/a&gt;    &lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;font-size:16;" &gt;&lt;a href="http://images.google.com/imgres?imgurl=http://z.about.com/d/inventors/1/0/A/P/armonica.jpg&amp;amp;imgrefurl=http://inventors.about.com/od/fstartinventors/ss/Franklin_invent.htm&amp;amp;usg=__fMvFNF7un3B0yKIzQp3oYBhWfr8=&amp;amp;h=232&amp;amp;w=200&amp;amp;sz=8&amp;amp;hl=en&amp;amp;start=4&amp;amp;um=1&amp;amp;tbnid=6Ptfd-XhPy1sQM:&amp;amp;tbnh=109&amp;amp;tbnw=94&amp;amp;prev=/images%3Fq%3DBENJAMIN%2BFRANKLIN%2Binvention%26hl%3Den%26client%3Dfirefox-a%26rls%3Dorg.mozilla:en-US:official%26sa%3DN%26um%3D1"&gt;&lt;img style="border: 1px solid ;" src="http://tbn3.google.com/images?q=tbn:6Ptfd-XhPy1sQM:http://z.about.com/d/inventors/1/0/A/P/armonica.jpg" width="94" height="109" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span class="Apple-style-span"  style="font-size:7;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span"  style="font-size:48;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span class="Apple-style-span"  style="font-size:7;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span"  style="font-size:48;"&gt;&lt;a href="http://images.google.com/imgres?imgurl=http://www.librarycompany.org/artifacts/images/curiosities/elecmachine.jpg&amp;amp;imgrefurl=http://www.librarycompany.org/artifacts/curiosities.htm&amp;amp;usg=__xPEtFcE3RNdQEsDYohvI5owgaQs=&amp;amp;h=760&amp;amp;w=600&amp;amp;sz=191&amp;amp;hl=en&amp;amp;start=34&amp;amp;um=1&amp;amp;tbnid=HDTQjqwtO5laDM:&amp;amp;tbnh=142&amp;amp;tbnw=112&amp;amp;prev=/images%3Fq%3DBENJAMIN%2BFRANKLIN%2Binvention%26ndsp%3D20%26hl%3Den%26client%3Dfirefox-a%26rls%3Dorg.mozilla:en-US:official%26sa%3DN%26start%3D20%26um%3D1"&gt;&lt;img style="border: 1px solid ;" src="http://tbn0.google.com/images?q=tbn:HDTQjqwtO5laDM:http://www.librarycompany.org/artifacts/images/curiosities/elecmachine.jpg" width="112" height="142" /&gt;&lt;/a&gt;  &lt;span class="Apple-style-span"  style="font-size:16;"&gt;&lt;a href="http://images.google.com/imgres?imgurl=http://images.art.com/images/products/large/12379000/12379262.jpg&amp;amp;imgrefurl=http://www.oracle.net/posters.asp%3Fcat%3D12263%26id%3D12379262&amp;amp;usg=__GlzOokMPdJ-AiWRi5PFOdXbkjyA=&amp;amp;h=450&amp;amp;w=337&amp;amp;sz=48&amp;amp;hl=en&amp;amp;start=117&amp;amp;um=1&amp;amp;tbnid=7ZxDlIJsnpSz8M:&amp;amp;tbnh=127&amp;amp;tbnw=95&amp;amp;prev=/images%3Fq%3DBENJAMIN%2BFRANKLIN%2Binvention%26ndsp%3D20%26hl%3Den%26client%3Dfirefox-a%26rls%3Dorg.mozilla:en-US:official%26sa%3DN%26start%3D100%26um%3D1"&gt;&lt;img style="border: 1px solid ;" src="http://tbn3.google.com/images?q=tbn:7ZxDlIJsnpSz8M:http://images.art.com/images/products/large/12379000/12379262.jpg" width="95" height="127" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/p&gt;&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/p&gt;&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span class="Apple-style-span"  style="font-size:180%;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span"  style="font-size:18;"&gt;&lt;b&gt;   &lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;span style="color: rgb(255, 255, 255);"&gt;&lt;img src="http://www.geocities.com/ecm_grrl/Pictures/lightningrod.jpg" shapes="_x0000_s1028" align="left" width="288" height="217" hspace="12" /&gt;&lt;/span&gt;   &lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="color: rgb(0, 112, 192);"&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="color: rgb(0, 112, 192);"&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="color: rgb(0, 112, 192);"&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="color: rgb(0, 112, 192);"&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="color: rgb(0, 112, 192);"&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/p&gt;&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/p&gt;&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="color: rgb(0, 112, 192);"&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="color: rgb(0, 112, 192);"&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="color: rgb(0, 112, 192);"&gt;&lt;b&gt;&lt;img src="http://wwwdelivery.superstock.com/WI/223/2145/PreviewComp/SuperStock_2145-436599.jpg" alt="Original Benjamin Franklin Stove Design Artst Unknown (2145-436599 © Joseph Barnell)" border="0" /&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="color: rgb(0, 112, 192);"&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="color: rgb(0, 112, 192);"&gt;&lt;b&gt;&lt;img style="width: 337px; height: 315px;" alt="http://www.rexresearch.com/elstatix/jef_fig1.gif" src="http://www.rexresearch.com/elstatix/jef_fig1.gif" /&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/p&gt;&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="color: rgb(0, 112, 192);"&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="color: rgb(0, 112, 192);"&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 112, 192);"&gt;Phạm Văn Tuấn.&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;   &lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span style=";font-size:130%;color:black;"  &gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style=";font-size:130%;color:black;"  &gt;Benjamin Franklin là một trong các nhân vật hàng đầu đã xây dựng nên Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Ông là người duy nhất đã ký tên vào 4 văn kiện quan trọng trong Lịch Sử Mỹ Quốc, đó là Bản Tuyên Ngôn Độc Lập, Hiệp ước Đồng Minh với Pháp, Hiệp Ước Hòa Bình với Anh và Bản Hiến Pháp Hoa Kỳ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Benjamin Franklin là một nhân vật đa diện. Ông đã từng làm thợ nấu xà bông, nấu nến, thợ in, nhà văn, nhà xuất bản, nhà khoa học và phát minh, nhân vật tổ chức và lãnh đạo cộng đồng… và cũng là một nhà ngoại giao có tài. Các phục vụ của ông trong công tác ngoại giao tại nước Pháp đã giúp ích rất nhiều trong cuộc chiến tranh giành Độc Lập của Hoa Kỳ. Nhiều sử gia Hoa Kỳ đã coi ông là nhà ngoại giao có khả năng nhất và thành công nhất từ xưa tới nay.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style=";font-size:130%;color:black;"   lang="EN-US"&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;1- Thuở thiếu thời.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Benjanim Franklin sinh ngày 17 tháng 1 năm 1706 tại Boston, Massachusetts. Cậu là con trai thứ 15 và là út trong một gia đình 17 anh em. Tổ tiên của Benjanin sinh sống tại Anh Quốc và không thuộc một giòng họ danh tiếng. Các cụ làm nghề thợ rèn, song là những người thực thà, cần mẫn. Trong giòng họ này chỉ có cha của Benjamin, ông Josiah, sang lập nghiệp bên Mỹ Châu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ông Josiah có với người vợ trước 5 người con và người vợ sau 12. Ông cũng là con út trong gia đình và vì rất mến người anh ruột tên là Benjamin mà ông đặt cho con trai út của mình cái tên đó. Gia đình ông Josiah không được sung túc lắm nên các con của ông chỉ được theo đuổi việc học trong 2 hay 3 năm rồi kiếm một nghề tay chân. Ông cho các con làm các ngành nghề khác nhau, tùy theo sở thích và năng khiếu của từng đứa : thợ in, thợ nhuộm, thợ rèn . . .&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Benjamin Franklin biết đọc, biết viết rất sớm, vì vậy ông Josiah định cho cậu sau này làm mục sư. Ở trường tiểu học, Benjamin học rất thông minh, tiến dần tới đầu lớp nhưng khi lên bậc trung học, vì tốn kém quá, ông Josiah đành cho con đến học tư toán và văn chương tại nhà ông Brownell song cậu Benjamin lại khá về văn chương mà kém về môn Toán.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1716, vì nghề nhuộm ế ẩm, ông Josiah phải đổi sang nghề làm nến và nấu xà bông. Benjamin phải thôi học, ở nhà giúp cha. Công việc của cậu là cắt bấc, đổ sáp vào khuôn, mua bán lặt vặt hay trông coi cửa hàng thay cha khi người bận việc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngoài thời giờ giúp việc tại nhà, Benjamin thường hay chơi đùa cùng các bạn : nào bơi lội, nào chèo thuyền. Cậu không thích nghề nghiệp của cha mà mơ mộng trở thành thủy thủ song ông Josiah không bằng lòng cho con theo đuổi ngành này. Thấy con đã lớn mà còn lông bông, nên ông có ý tìm cho con một nghề kiếm ăn thích hợp. Ông đưa con đi thăm các cơ xưởng trong tỉnh để xem con ưa thích ngành nghề nào nhất.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngay từ thuở nhỏ, Benjamin đã thích đọc sách. Hễ gặp quyển sách nào là cậu nghiềm ngẫm say sưa, hễ được đồng tiền nào là cậu để dành rồi mua sách về đọc. Thấy con ưa thích sách như vậy, ông Josiah cho con theo hoc nghề in tuy rằng trong nhà đã có người con lớn, anh James, theo đuổi nghề này.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 12 tuổi, Benjamin ký giao kèo với anh James nhận làm thợ in cho tới năm 21 tuổi mà không lãnh lương thực thụ. Một người tinh nhanh, chăm chỉ như Benjamin thì chẳng bao lâu đã thạo việc. Thực vậy, cậu đã giúp anh một cách đắc lực. Cũng nhờ theo nghề in này mà Benjamin đọc được nhiều sách hơn: các sách đưa đến in, đến đóng lại, cậu đều đọc qua, có khi cậu thức suốt đêm để đọc nốtù vì sáng ngày mai đã phải trả sách lại cho khách hàng. Cậu đã tự học được nhiều môn như đại số, hình học, văn phạm, luận lý, các môn vật lý và khoa học tự nhiên.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một hôm, có một nhà buôn trong tỉnh lại thăm nhà in. Ông này thấy Benjamin ham mê đọc sách mà mình có sách thường để không, nên đã dẫn Benjamin về nhà mình và cho phép cậu mượn bất cứ quyển nào cậu muốn. Nhờ nghề in mà Benjamin đọc thông viết thạo hơn, song cậu còn kém về cách hành văn và từ ngữ không được dồi dào. Để sửa chữa, cậu nghĩ tới việc làm thơ. Anh James cũng khuyến khích em vì anh ta nghĩ có thể in thơ rồi đem bán được. Vì vậy vài ba quyển thơ cũng ra đời song cha cậu đã chế nhạo cậu vì ông biết rằng nghề làm thơ chỉ mang lại nghèo túng mà thôi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Benjamin thường cùng với một người bạn cũng ham đọc sách, tranh luận về bất cứ đề tài nào. Lúc đầu, họ còn dùng lời, sau dùng chữ viết, nhờ vậy cậu thấy mình còn kém về phương pháp và lý luận còn thiếu minh bạch.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1721, anh James bắt đầu ra một tờ báo lấy tên là The New England Courant (Bản Tin Tân Anh Cát Lợi). Đây là tờ báo thứ nhì phát hành tại châu Mỹ. Vào thời đó, các nhà trí thức thường viết các bài báo song ký tên khác đi vì sợ chính quyền làm khó dễ. Nhiều người có tài đã gửi các bài viết rất hay, làm tăng gía trị cho tờ báo.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Benjamin cũng muốn viết báo song e ngại rằng nếu ký tên thật, anh James sẽ vứt ngay bài vào sọt rác, cậu bèn viết với tên hiệu là "Silence Dogood" rồi đợi đến đêm, ném bài qua khe cửa sổ nhà in. Sáng hôm sau, anh James nhận được bài, đọc thấy cũng khá đặc sắc nên cho in. Nhiều khi Benjamin còn được nghe anh và các bạn ca tụng các bài viết đó trước mặt mình. Họ tin chắc rằng các bài viết đó phải do một người học rộng, tài ba, mới viết nổi. Benjamin vẫn phải bấm bụng nhịn cười. Sau cùng, vì không giữ bí mật được nữa, cậu đành phải thú nhận mình là tác giả của các bài viết trên. Kể từ khi đó, các bạn của cậu trọng nể cậu hơn trước song anh James lại lấy làm khó chịu. Anh thường bắt em làm việc quá nhiều, có khi còn đánh đập em nữa. Vì vậy giữa anh em thường xẩy ra các vụ bất hòa. Anh James quả là một người anh bắt nạt em, một người chủ áp bức thợ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 16 tuổi, Benjamin được đọc một cuốn sách nói về sự ăn chay. Cậu liền quyết định theo đuổi cách dinh dưỡng này rồi đề nghị với anh xin một số tiền để nấu ăn lấy. &lt;/span&gt;&lt;span style=";font-size:130%;color:black;"  &gt;Nhờ chỉ ăn rau, Benjamin đã để dành được phân nửa món tiền, đỡ mất thời giờ về ăn uống mà trí óc lại sáng suốt hơn trước. Thực vậy, trong khi anh James và các bạn ra quán ăn thì ở nhà, cậu thổi nấu ăn uống theo ý muốn và đọc được mấy chục trang sách rồi bọn kia mới bắt đầu ra về.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1723, tờ báo của anh James có đăng một bài xã luận xúc phạm đến chính quyền nên anh James bị bắt giam một tháng. Benjamin thay anh làm quản lý nhà in. Khi được tha về và vì bị cấm không được ra báo nữa, anh James đành phải nhờ em làm chủ nhiệm tờ báo. Vì luật pháp thời đó không cho phép một người làm công chịu trách nhiệm một công việc to tát như vậy nên anh James đành phải hủy bỏ tờ giao kèo bắt buộc Benjamin làm công với mình khi trước.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ít lâu sau, một cuộc xung đột xẩy ra và Benjamin đã bỏ nhà ra đi. Về sau cậu hối hận mãi về điều này. Anh James liền thông báo cho các in trong tỉnh đừng mướn Benjamin. Vì vậy cậu phải đi New York là nơi có nhiều nhà in mà lại ở gần Boston nhất. Cậu Benjamin phải bán bớt sách để lấy tiền đi đường, lúc đó cậu mới 17 tuổi. Tới New York, Benjamin không tìm ra việc nhưng nhờ có người giới thiệu, cậu lại đi Philadelphia cách New York 160 cây số. Đây là thành phố lớn nhất của thuộc địa châu Mỹ thời bấy giờ. Đến nơi, cậu Benjamin vào ngay một hiệu bánh mì trên đường Market mua ba ổ bánh, mỗi ổ kẹp ở một nách rồi ăn ngấu nghiến ổ thứ ba. Một cô gái ở ngôi nhà đối cửa khi trông thấy cảnh đó, đã ôm bụng cười. Cô này tên là Deborah Read, vợ của Benjamin sau này.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tại Philadelphia, Benjamin tìm được việc làm nơi nhà in của ông Samuel Keimer. Ít lâu sau, cậu quen được ông thống đốc Keith. Thấy cậu là người học rộng, ông Keith muốn giúp Benjamin làm chủ một nhà in. Ông ta bảo cậu kê khai các thứ cần mua rồi ông ta sẽ bỏ tiền và Benjamin sang Anh Quốc mua sắm các dụng cụ đó. Song ông Keith chỉ là người hứa suông, nên khi đã sang tới nước Anh rồi, cậu chẳng nhận được sự giúp đỡ nào cả, ngay cả bức thư giới thiệu. Benjamin đành phải làm công cho các nhà in Palmer và Watt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;2- Thời thanh niên.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 21 tuổi, Benjamin trở về Philadelphia và lại giúp việc cho ông Keimer. Từ đây, Franklin đã trở nên một chàng thanh niên khôn ngoan, tháo vát. Việc đọc sách vẫn là sở thích của chàng. Franklin nghĩ rằng nếu riêng rẽ thì một người chỉ có thể đọc được một số sách. Vậy nếu một số người hiếu học họp lại với nhau, trao đổi sách báo và thảo luận cùng nhau thì sẽ có lợi biết bao. Chàng liền lập ra Câu Lạc Bộ Junto để các hội viên thay nhau thuyết trình về các vấn đề luân lý, chính trị và khoa học. Lúc đầu câu lạc bộ gồm 7 hay 8 hội viên hay đọc sách, họp với nhau vào chiều thứ sáu để thảo luận về các vấn đề đã nêu ra từ tuần lễ trước. Nhờ việc thảo luận này mà các hội viên đều tiến bộ về cách nói năng và sự nghiên cứu. Hơn nữa, cứ ba tháng mỗi hội viên lại phải sáng tác một luận án về bất cứ vấn đề gì. Câu Lạc Bộ Junto này đã nổi tiếng trong thành phố thời bấy giờ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 22 tuổi Franklin thôi không làm cho ông Keimer nữa mà mở một nhà in riêng với Hugh Meridith. Lúc đầu công việc còn ít song chàng cố gắng làm việc và yêu nghề, thức khuya dậy sớm, không bao giờ la cà tại các tửu quán nhờ vậy dân chúng tín nhiệm và các công việc thương mại càng tăng hơn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hồi đó giấy bạc khan hiếm, người ta e ngại nếu in thêm, đồng tiền sẽ mất gía còn nếu không in thì tình trạng kinh tế không được phát triển. Franklin liền mang việc này ra bàn với các hội viên Junto rồi chàng cho in một cuốn sách nhan đề là "Tính chất và sự cần thiết của giấy bạc". Việc làm này đã khiến cho Nghị Viện thành phố quyết định in thêm tiền và họ giao cho Franklin công việc đó vì chàng đã có công đóng góp. Nhờ thế mà nhà in của chàng có thêm việc làm.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 24 tuổi, Franklin cưới cô Deborah Read, người đã cười chàng khi trông thấy chàng gặm ổ bánh mì lúc bắt đầu đặt chân tới Philadelphia. Deborah là người ít học song cặp vợ chồng Franklin là những người tận tụy làm việc. Họ có 3 con, 2 trai và 1 gái. Một người con trai tên là William, sau này trở nên Thống Đốc của tiểu bang New Jersey.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Franklin thấy rằng khi tra cứu thì cần phải có nhiều sách mà mỗi người chỉ có một số nhỏ. Vậy nếu các hội viên Hội Junto cùng mang sách đặt tại một nơi thì người nọ có thể đọc được sách của người kia và sự tra cứu sẽ dễ dàng hơn. Các hội viên đều nghe lời đề nghị này của Franklin. Việc này rất có lợi song cũng có điều bất tiện, chẳng hạn như ai cũng đòi hỏi người khác giữ gìn sách của mình cho cẩn thận nên một năm sau, Hội Junto phải giải tán tủ sách.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Franklin lại nghĩ đến việc lập một thư viện công cộng cho mượn sách. Chàng nhờ một viên chưởng khế thảo điều lệ. Hội viên có tới 100 người. Số tiền đóng góp của các hội viên dùng để mua sách bên nước Anh. Đây là thư viện đầu tiên tại Bắc Mỹ, nó đã mở đầu cho phong trào thư viện sau này. Chính nhờ có thư viện mà dân xứ Philadelphia thời đó có một trình độ văn hóa cao hơn dân của các vùng kế cận. Vì thế các miền chung quanh chẳng bao lâu cũng bắt chước làm công việc ích lợi kể trên.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Franklin tin rằng chăm chỉ bao giờ cũng vẫn là phương thuốc để trở nên giàu sang. Chàng cho rằng một người muốn thành công phải làm việc chăm chỉ hơn những kẻ đang cạnh tranh với mình. Chàng lại có ước vọng muốn trở nên một nhà đạo đức, muốn khắc phục mọi thói xấu để sống một cuộc đời trong sạch. Chàng thấy rằng tin tưởng suông vào đạo lý chưa đủ để giữ cho khỏi sa ngã, cần phải luyện tập các đức tính, xếp chúng theo thứ tự rồi thêm vào đó các định nghĩa để làm sáng tỏ các quan niệm về các đức tính đó:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;1- Điều độ:&lt;/span&gt; không ăn đến chán, không uống đến say.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;2- Yên lặng&lt;/span&gt;: không nói nếu lời nói không hữu ích cho người khác hoặc cho bản thân. Không nói dỡn cợt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;3- Thứ tự:&lt;/span&gt; xếp đặt mọi vật vào một chỗ riêng, các việc làm vào những thời giờ nhất định.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;4- Quyết tâm:&lt;/span&gt; phải quyết tâm làm những việc cần. Việc gì đã quyết tâm rồi thì phải làm cho kỳ được.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;5- Tiết kiệm:&lt;/span&gt; chỉ tiêu tiền về những việc có ích cho mình và cho người khác.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;6- Chuyên cần:&lt;/span&gt; không bỏ phí thời giờ, lúc nào cũng làm việc hữu ích.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;7- Thật thà:&lt;/span&gt; phải nói cho đúng, không nói xấu người, có những ý nghĩ lành mạnh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;8- Công bằng&lt;/span&gt;: không làm hại người khác và nhớ hưởng những gì mình đáng được hưởng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;9- Dung hòa:&lt;/span&gt; tránh mọi thái cực, chịu đựng những điều trách mắng nếu mình có lỗi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;10- Sạch sẽ:&lt;/span&gt; thân thể, quần áo và nhà cửa phải sạch sẽ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;11- Yên tĩnh:&lt;/span&gt; tránh ưu phiền về các việc thường xẩy ra hay không thể tránh được.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;12- Trong sạch: &lt;/span&gt;tránh trác táng, hại sức khỏe, hại thanh danh của mình và của người khác.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;13- Khiêm tốn:&lt;/span&gt; noi gương Chúa Jesus và Socrates.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chính nhờ cách sửa mình này mà về sau, Benjamin Franklin đã trở nên một người khôn ngoan và đạo đức của Hoa Kỳ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 26 tuổi, Franklin thấy rằng cần phải phổ biến các tư tưởng hướng thiện, chàng liền soạn rồi cho xuất bản cuốn Niên Lịch lấy tên là "Niên Lịch của Richard nghèo khó" (Poor Richard's Almanach). Trong cuốn này, chàng đặt những tư tưởng cao thượng và ích lợi thành các châm ngôn để người đọc dễ nhớ hơn. Ngày nay các câu châm ngôn này còn được phổ thông chẳng hạn như câu "ngủ sớm, dậy sớm làm cho con người khỏe mạnh, giàu có và khôn ngoan" (Early to bed and early to rise makes a man healthy, wealthy and wise). Mọi người đã tán thưởng cuốn niên lịch đến nỗi 10 ngàn cuốn được xuất bản trong một năm và cứ thế kéo dài trong 25 năm liền, quả là một sự việc hi hữu tại một nơi và vào một thời kỳ mà tình trạng dân chúng còn kém mở mang.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cũng vào năm 26 tuổi, chàng Franklin lập ra tờ báo lấy tên là Nhật Báo Philadelphia (the Philadelphia Gazette). Chàng đã làm phát triển tờ báo thành một trong các báo thành công nhất tại thuộc địa châu Mỹ. Chàng luôn luôn chú ý đến tư tưởng mới. Các sử gia Hoa Kỳ cho rằng Franklin là viên chủ nhiệm đầu tiên tại châu Mỹ đã cho phổ biến trên các trang báo những mẩu tranh hí họa và hướng dẫn các tin tức bằng bản đồ. Nhờ tờ báo của mình, Franklin đã trình bày cho dân chúng biết rõ nhiều dự án cải tiến công ích. Tờ báo Philadelphia đã sống được từ năm 1729 tới năm 1766. Franklin lại còn soạn thêm cuốn sách "Con đường dẫn tới giàu sang" (the Way to Wealth). Cuốn sách này cũng có một giá trị đặc biệt về kinh tế.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 27 tuổi, Franklin cảm thấy cần phải biết thêm ngoại ngữ để dễ thông cảm với các dân tộc khác. Chàng liền bắt đầu học tiếng Pháp và chẳng bao lâu đã nói thạo và đọc sách tiếng Pháp một cách dễ dàng. Học xong tiếng Pháp rồi, chàng quay sang học tiếng Ý. Ít lâu sau, Franklin lại học tiếng Tây Ban Nha và rồi cũng thông thạo thứ ngôn ngữ này.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 30 tuổi, nhờ sự hiểu biết của bản thân, nhờ sự tín nhiệm của mọi người, Franklin được bầu làm thư ký Nghị Viện Pennsylvania (the Pennsylvania Assembly). Thành phố Philadelphia càng ngày càng được mở mang mà chưa có một đội lính cứu hỏa, Franklin liền đứng ra thành lập đội quân tình nguyện này. Ông còn có công trong việc cải tiến cách tuần phòng trong thành phố.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cũng vào năm 30 tuổi, Franklin được đề cử làm Giám Đốc Bưu Điện của Philadelphia. Cách làm việc hữu hiệu của ông đã khiến cho chính quyền Anh Quốc phải chú ý nên về sau, vào năm 1753, ông đã trở nên Phó Tổng Giám Đốc Bưu Điện của tất cả các miền đất thuộc địa Bắc Mỹ. Ông đã làm việc rất tận tâm, cải tiến rất nhiều dịch vụ Bưu Điện, làm tăng tốc độ chuyển thư bằng cách dùng tới các tầu biển chạy nhanh nhất qua Đại Tây Dương. Đối với các thư từ trong vùng, ông đã thuê mướn các người đưa thư đi ngựa chuyển thư cả ngày lẫn đêm. Ông cũng giúp cho xứ Canada thiết lập ra các dịch vụ bưu điện đầu tiên. Ông đã cho mở các trạm bưu điện tại Quebec, Montreal và Trois Rivière vào năm 1763 và rồi xếp đặt việc chuyển thư giữa Montreal và New York.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Benjamin Franklin cũng để ý tới sự cải tiến các dụng cụ thường dùng. Năm 36 tuổi, ông đã phát minh ra được một thứ lò sưởi không có khói, cho sức nóng gấp hai lần mà lại dùng 1/4 số lượng củi đốt. Phát minh của ông được phổ biến trong thành phố vì nó rất hợp với khoa học lại tiện lợi. Chính quyền định cấp cho ông bằng phát minh song ông từ chối và nói : "Tôi được dùng các phát minh của người khác thì tôi cũng sung sướng khi thấy phát minh của tôi đã giúp ích cho các người chung quanh".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 37 tuổi, vì Hội Junto kém phát triển nên Franklin đề nghị lập ra "Hội Triết Học Mỹ Quốc" (the American Philosophical Society) gồm các người đạo đức, có kiến thức rộng, ở các thuộc địa khác nhau tại Bắc Mỹ. Hội Triết Học này được tổ chức theo lề lối của Hội Khoa Học Hoàng Gia Anh Quốc (the Royal Society). Nhiều người đã ghi tên tham dự và Franklin được bầu làm thư ký của Hội. Các hội viên thường trao đổi thư từ cùng nhau. Trụ sở của Hội đặt tại Philadelphia là thành phố trung tâm lại có thư viện đầy đủ và nhiều tương lai về kiến thiết.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;3- Nhà Khoa Học.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào năm 40 tuổi, vì kinh tế gia đình đã khá đầy đủ nên Benjamin Franklin có thời giờ để tâm đến Khoa Học. Thời đó châu Mỹ nhận được các sách báo cùng các dụng cụ thí nghiệm về điện học từ nước Anh gửi sang. Hội Triết Học nhờ Franklin làm các thí nghiệm như đã mô tả sẵn, song không những ông đã làm lại được hoàn toàn các thí nghiệm đó mà còn khám phá ra được nhiều điều mới lạ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 42 tuổi, Franklin cắt nghĩa được sự phân phối điện tích ở chai Leyde. Sang năm sau, ông lập bảng nhận xét về các đặc điểm chung giữa điện và sét. Ngày nay người ta còn nhắc lại thí nghiệm về sét bằng chiếc diều của ông. Franklin vẫn quan niệm rằng sự phát điện từ chai Leyde cũng giống như sét đánh, song với một cường độ nhỏ hơn nhiều. Oâng tìm cách chứng minh. Nhân một ngày có bão, Franklin cùng con trai là William mang một chiếc diều ra thả. Cuối sợi dây diều, ông buộc một chiếc chìa khóa bằng các dải lụa. Bỗng nhiên ông nhận thấy các sợi của dải lụa tách ra như có một sức đẩy chúng xa nhau. Khi để ngón tay gần đầu nhọn của chiếc chìa khóa, một tia lửa bật ra và ông cảm thấy bị điện giật. Thí nghiệm này đã khiến ông kết luận rằng sét thường bị hút bởi các đầu nhọn bằng kim loại và ông tìm ra rằng các đám mây thường chứa điện âm. Khi thử lại với chai Leyde, Franklin thấy cùng kết quả. Ông lại có thể tiếp điện cho chai Leyde bằng điện của bầu trời. Thật là may mắn cho Franklin đã không bị sét đánh trong cuộc thí nghiệm táo bạo đó mà ông không biết, bởi vì về sau, Giáo Sư Richman thuộc Đại Học St. Petersbourg khi làm lại thí nghiệm của ông đã bị thiệt mạng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 44 tuổi, sau khi đã hiểu rõ về sấm sét, Franklin đã phát minh ra cột thu lôi. Ông dựng ngay trên nóc nhà của mình một cột rồi sau lại cải tiến thêm. Franklin phổ biến phát minh này bằng một bài đăng trong quyển niên lịch của mình. Cũng năm này, Franklin được bầu vào Nghị Viện Pennsylvania.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Franklin luôn luôn nghĩ tới việc khai hóa dân chúng. Đối với ông, Hội Triết Học không đủ. Ông cho xuất bản cuốn sách mỏng : "Các đề nghị liên quan tới vấn đề giáo dục các thanh niên ở Pennsylvania", nhờ vậy chương trình học đã được sửa đổi và nhà trường đã bắt đầu dạy tiếng La Tinh, Hy Lạp và Toán Học. Franklin được bầu làm chủ tịch Hội Đồng Quản Trị các trường Trung Học Pennsylvania. Philadelphia khi đó không có cơ sở đào tạo nền giáo dục cao cấp vì thế ông đã giúp tay vào việc thành lập Viện Hàn Lâm (the Academy) mà sau này là trường Đại Học Pennsylvania. Kết quả của các chương trình giáo dục và thư viện của Franklin đã giúp cho Pennsylvania trở nên một địa phương tiến bộ nhất trong 13 xứ thuộc địa thời bấy giờ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào năm 1751, một người trong thành phố nghĩ đến việc lập ra một bệnh viện công cộng và một nhà tế bần, Franklin liền bắt tay ngay vào công tác thực hiện hai chương trình này.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tháng 8 năm 1752, Franklin gửi cho ông Collison, nhân viên Hội Khoa Học Hoàng Gia Anh Quốc những kết quả về các phát minh của mình. Tài liệu đó được đọc trước Hội Khoa Học vào tháng 12. Mọi nhà khoa học đều trầm trồ khen ngợi ông. Cuốn sách "Thí nghiệm và nhận xét về điện học" của ông được xuất bản tại London và năm sau, được dịch sang tiếng Pháp và in tại Paris.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Franklin cũng phát minh ra loại kính đeo mắt hai tròng (bifocal eyeglasses) nhờ đó kính đọc sách và kính nhìn xa được ghép chung vào một gọng kính. Ông cũng nhận thấy bệnh tật phát sinh nhiều tại các căn phòng kém thoáng khí và ông cũng chỉ dẫn cho dân chúng cách cải thiện đất đai có acít bằng vôi bột (lime).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 47 tuổi, Franklin được Hội Khoa Học Hoàng Gia Anh Quốc trao tặng huy chương vàng Copley và Vua Louis 15 đích thân khen ngợi ông về các phát minh điện học. Các trường đại học Harvard và Yale tặng ông bằng cấp Cử Nhân Danh Dự. Ông lại được đề cử làm Tổng Giám Đốc Bưu điện và đã giữ chức vụ này trong 21 năm liền.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mùa xuân năm 1754, khi đó Franklin 48 tuổi, đã xẩy ra cuộc chiến tranh giữa người Anh và người Pháp tại châu Mỹ. Franklin cho rằng các thuộc địa Bắc Mỹ nên đoàn kết lại để tự bảo vệ chống lại người Pháp và sự quấy nhiễu của thổ dân da đỏ. Ông đã cho in tấm hình hài hước nổi tiếng có tên là "Tham gia hay là chết" (Join or Die) trên báo của minh. Tấm hình này vẽ một con rắn bị chặt ra thành nhiều khúc, tượng trưng cho các thuộc địa Bắc Mỹ. Ông đã đề nghị Chương Trình Liên Bang (Plan of Union) tại hội nghị 7 xứ thuộc địa họp tại Albany, New York. Theo chương trình này, 13 xứ thuộc địa nên cùng nhau họp lại thành "một chính phủ tổng quát" (one general government). Chương trình liên bang đó đã chứa đựng các ý tưởng mà sau này có trong Bản Hiến Pháp Hoa Kỳ. Các đại biểu tại Hội Nghị Albany đã đồng ý với chương trình của Franklin nhưng các thuộc địa đã không đồng lòng phê chuẩn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Rồi chiến tranh đã khiến Franklin phải chú ý đến phạm vi quân sự. Đầu năm 1755, Tướng Edward Braddock và hai trung đoàn quân Anh tới Bắc Mỹ với lệnh chiếm lại căn cứ của người Pháp tại Fort Duquesne, là nơi hội tụ của hai giòng sông Allegheny và Monogahela. Đội quân Anh đã gặp khó khăn trong việc tìm mua ngựa và các toa xe. Franklin đã giúp công vào việc trang bị này. Nhưng rồi quân Pháp và dân da đỏ đã phục kích đoàn quân Anh tại các bờ sông Monogahela và tướng Braddock tử trận, đoàn quân Anh hầu như bị tiêu diệt. Lúc này, Franklin đã lo việc thành lập đội quân tình nguyện địa phương để bảo vệ các thành phố biên giới, ông được đề cử làm Đại Tá quân đội để chống nhau với người Pháp và dân da đỏ. Ông cũng là người đã trông coi xây dựng một pháo đài tại Weissport thuộc Carbon County, Pennsylvania.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 50 tuổi, Franklin đựơc đề cử làm ủy viên quân sự của địa hạt Northampton. Ngoài ra, ông còn được bầu làm Hội Viên Danh Dự của Hội Triết Học Edinburg và nhân viên Hội Khoa Học Hoàng Gia Anh Quốc, một danh dự ít khi dành cho một người sống tại xứ thuộc địa. Chính khách nổi tiếng người Anh thời đó là William Pitt đã nói trước Viện Quý Tộc Anh (the House of Lords) rằng Benjamin Franklin là một nhà khoa học đáng được xếp ngang hàng với Isaac Newton. Oâng ta đã ca tụng Franklin là "một Danh Dự không chỉ dành cho nước Anh mà còn cho bản chất của con người" (an honor not to the English nation only but to human nature).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;4- Nhà Ngoại Giao.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cuộc chiến tranh với nước Pháp đã khiến cho Anh Quốc phải chi tiêu quá nhiều. Anh Quốc liền bắt các xứ thuộc địa phải gánh thêm phí tổn. Tất cả các đất đai đều phải chịu thuế. Vì vậy Nghị Viện Philadelphia liền cử Franklin sang nước Anh năm 1757. Tới London, khi xin bãi bỏ thuế không được, Franklin liền đưa ra một đề nghị theo đó các đất đai chưa đo đạc được miễn thuế. Đề nghị căn cứ trên sự công bằng của ông đã được phê chuẩn. Đây là thắng lợi đầu tiên của ông tại nước ngoài. Franklin đã ở Anh Quốc và hoạt động như một đại sứ không chính thức và cũng là người phát biểu các quan điểm của lục địa châu Mỹ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đầu năm 1760, sau khi cuộc chiến tranh với người Pháp và dân da đỏ chấm dứt, đã có một cuộc tranh luận lớn lao tại nước Anh. Người Pháp bị thất trận nên đã bằng lòng nhường lại cho nước Anh hoặc là một tỉnh thuộc Canada, hoặc là hòn đảo Guadeloupe trong quần đảo Tây Aán (West Indies). Vào lúc cao điểm của cuộc tranh luận, Franklin đã cho phổ biến một tập sách mỏng so sánh một cách sáng suốt tương lai vô bờ của xứ Canada so với sự không quan trọng của hòn đảo Guadeloupe. Việc làm này đã khiến cho tại châu Aâu và châu Mỹ, nhiều người đã đọc kỹ tập sách của Franklin. Vài sử gia tin rằng do ảnh hưởng của tập sách này mà nước Anh đã chọn Canada.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mùa hè năm 1762, Franklin trở về Bắc Mỹ. Ông được hoan hô nhiệt liệt và được bầu vào Nghị Viện Philadelphia. Vài năm sau Franklin lại sang nước Anh để tranh đấu cho việc ký kết văn kiện về Bưu Điện. Vào ngày 13 tháng 2 năm 1766, Franklin ra trước Hạ Viện Anh (the House of Commons) để trả lời 174 câu hỏi liên quan tới việc "đánh thuế mà không có đại diện". Các nghị viên Hạ Viện Anh đã chất vấn ông trong gần hai giờ và ông đã trả lời vừa vắn tắt, vừa rõ ràng. Kiến thức về các vấn đề đánh thuế của ông đã làm cho mọi người phải ngạc nhiên và danh tiếng của ông vì thế đã vang lừng khắp châu Aâu. Đạo luật về Tem Thuế (the Stamp Act) đã bị hủy bỏ sau đó và phần lớn công lao là của ông. Franklin đã là một người không những chỉ tranh đấu cho riêng miền Pennsylvania mà còn cho cả châu Mỹ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào năm 60 tuổi, Franklin được bầu làm hội viên ngoại quốc của Hội Khoa Học Đức Quốc tại Gottingen, và Hàn Lâm Viện Pháp Quốc chọn ông làm một trong 8 hội viên nước ngoài, lúc đó ông 66 tuổi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi các liên lạc chính trị giữa Anh Quốc và các thuộc địa trở nên xấu đi, Franklin vẫn muốn các thuộc địa châu Mỹ nằm trong đế quốc Anh nếu các quyền lợi của người dân thuộc địa được tôn trọng và bảo vệ. Ông sẵn sàng dùng tài sản của mình để bồi thường cho số trà bị phá hủy tại Boston (the Boston Tea Party) nếu chính quyền Anh hủy bỏ các thuế trà không công bằng. Nhưng người Anh đã làm ngơ trước đề nghị của ông, vì thế ông thấy mình không còn hữu ích nữa và ngày 21 tháng 3 năm 1775, Franklin buồn bã xuống tầu trở về châu Mỹ. Ông đã làm đủ mọi cách để giữ cho các thuộc địa châu Mỹ nằm trong đế quốc Anh trên căn bản thiện chí và tôn trọng lẫn nhau.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Franklin về tới Philadelphia vào ngày 5 tháng 5 năm 1775, vào khoảng hai tuần lễ sau khi cuộc chiến tranh Cách Mạng bắt đầu. Ngày hôm sau, dân chúng Philadelphia đã chọn ông làm đại biểu phục vụ trong Quốc Hội Lục Địa Kỳ II (the Second Continental Congress). Ông Franklin ít khi tuyên bố tại Quốc Hội song ông là một trong các nhân vật tích cực và có ảnh hưởng nhất. Ông đã đề nghị Chương Trình Liên Bang (Plan of Union) trong đó có chứa đựng các ý tưởng căn bản dùng cho các điều khoản của Liên Bang Bắc Mỹ (Confederation) . Franklin cũng giúp việc trong một ủy ban đi qua Canada để thuyết phục người Pháp tại đó tham gia vào cuộc chiến tranh Cách Mạng nhưng cuộc vận động này không thành.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1776, Benjamin Franklin được đề cử cùng với Thomas Jefferson và John Adams thảo ra Bản Tuyên Ngôn Độc Lập và ông cũng là một trong các nhân vật ký tên vào bản văn quan trọng này. Lúc bấy giờ, cuộc chiến tranh với người Anh chưa mang lại các thành quả tốt đẹp và vì Quốc Hội cho rằng việc đồng minh với nước Pháp có thể đưa tới thắng lợi nên Quốc Hội đã đề cử Franklin làm một trong ba ủy viên đại diện cho Hoa Kỳ tại nước Pháp. Cuối năm 1776, ở tuổi 70, Benjamin Franklin đã lãnh một nhiệm vụ quan trọng nhất trong đời ông. Oâng đã tới đất Pháp và được chào đón nồng nhiệt. Dân chúng Pháp đã mến phục ông vì lòng tử tế, cách phục sức đơn giản, cử chỉ bình dị, trí óc khôn ngoan và các lời nói sáng suốt cũng như cách đối xử lịch thiệp với cả giới quý tộc lẫn giai cấp bình dân. Các đám đông đã đi theo ông trên đường phố. Các nhà thơ đã làm các bài ca tụng ông. Chân dung và tượng của ông được đặt tại nhiều nơi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mặc dù có tình cảm với ông Benjamin Franklin nhưng chính quyền Pháp thời đó còn rất do dự trong việc ký hiệp ước đồng minh với các thuộc địa Bắc Mỹ, vì một việc làm như vậy sẽ dẫn đến cuộc chiến tranh giữa nước Pháp và nước Anh. Tuy nhiên, với sự lịch thiệp, tài khôn khéo và tính kiên nhẫn, Franklin đã lấy dần được lòng tin tưởng của nước Pháp. Và cuối cùng vận may của ông đã tới khi đội quân Anh của Tướng John Burgoyne đầu hàng tại Saratoga. Thắng lợi của người Mỹ đã khiến cho nước Pháp ký kết hiệp ước đồng minh vào ngày 6 tháng 2 năm 1778. Sau đó, Franklin đã xếp đặt việc chuyên chở các sĩ quan, binh lính Pháp và súng đạn qua Bắc Mỹ. Franklin cũng mượn được tiền vay và xin được tiền tặng chuyển về cho Hoa Kỳ. Nhiều sử gia cho rằng nếu không có Benjamin Franklin, người Mỹ chưa chắc đã giành được độc lập.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1778, Benjamin Franklin được chỉ định làm bộ trưởng tại Pháp. Ông đã giúp công vào việc soạn thảo Hiệp Ước Paris là thứ đã làm chấm dứt cuộc chiến tranh Cách Mạng. Hiệp ước này đã hứa dành cho quốc gia non trẻ Hoa Kỳ mọi thứ cần thiết và Franklin đã là một trong các nhân vật ký nhận Hiệp Ước Paris vào năm 1783, và từ hiệp ước này, nền độc lập của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ được công nhận.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Từ năm 1776 tới năm 1785, Franklin sống ở ngoại quốc và luôn luôn mang thắng lợi về cho đất nước. Ngoài ra, các vinh dự vẫn tới tấp đến với ông. Hàn Lâm Viện Y Học Paris mời ông làm hội viên. Ông cũng là nhân viên của Hàn Lâm Viện Mỹ Thuật và Khoa Học Boston, là một trong 24 nhân viên ngoại quốc của Hàn Lâm Viện Khoa Học, Văn Chương và Mỹ Thuật Padoue, hội viên Hàn Lâm Viện Lịch Sử Madrid, hội viên danh dự Hội Văn Chương và Triết Học Manchester cũng như tại Hội Vật Lý, Vạn Vật và Mỹ Thuật Orleans, tại Hàn Lâm Viện Khoa Học, Mỹ Tự và Mỹ Thuật Lyons. Hơn nữa, các tác phẩm của ông in tại các nước Anh, Đức, Pháp, Ý đã mang lại cho ông các danh vọng vô bờ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;5- Nhà Lập Quốc.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1785, Benjamin Franklin trở lại Philadelphia và được cử làm chủ tịch của Hội Đồng thành phố này, rồi lại được bầu làm Thống Đốc Tiểu Bang Pennsylvania. Ông được bầu lại vào chức vụ sau này vào những năm 1786 và 1787. Ngoài ra, Franklin còn có công trong việc phản kháng chế độ nô lệ tại châu Mỹ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 80 tuổi, Franklin vẫn còn hoạt động. Hồi đó các tầu biển chạy từ Falmouth ở nước Anh tới New York mất hai tuần lễ lâu hơn nếu không theo con đường London-Rhode Island. Các chủ tầu không biết tại sao như vậy, và đã đề nghị chỉ cho tầu đến Rhode Island mà không tới New York trong khi 2 nơi này chỉ cách nhau một ngày đường. Nhiều người đã cầu cứu đến Franklin. Ông liền tìm gặp các thuyền trưởng nên được biết rằng có một dòng nước chảy từ mạn dưới lên mà người ta chưa được biết rõ lắm, đó là dòng Gulf Stream. Franklin liền nghiên cứu dòng nước này : nào đo bề rộng, chiều sâu, đo nhiệt độ, sức chảy… Franklin khuyên các tầu bè nên lợi dụng dòng nước để cuộc hành trình được nhanh chóng hơn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1787, xứ Pennsylvania đã đề cử Benjamin Franklin, 81 tuổi, tới họp Hội Nghị Lập Hiến (Constitutional Convention). Các đại biểu đã gặp nhau tại Sảnh Đường Độc Lập và thảo ra Bản Hiến Pháp Hoa Kỳ. Vào lúc này, Franklin là đại biểu cao tuổi nhất của Hội Nghị. Sức khỏe yếu kém và tuổi cao đã không cho phép ông tích cực tham gia vào các hoạt động nhưng sự khôn ngoan, hiểu biết của ông đã giúp cho Hội Nghị tiến hành. Franklin đã dàn xếp được các cuộc tranh luận về quyền đại biểu tại Quốc Hội của các tiểu bang lớn và nhỏ. Sự dung hòa của ông đã là nguyên do thành lập một quốc hội lưỡng viện.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Dịp tham dự Hội Nghị Lập Hiến là lần phục vụ công ích cuối cùng của ông, song tuy cao tuổi, ông vẫn quan tâm tới các công việc quốc gia. Ông rất sung sướng khi thấy ông George Washington nhậm chức Tổng Thống đầu tiên của Hoa Kỳ. Ông đã hi vọng rằng gương mẫu của Hiệp Chủng Quốc Bắc Mỹ có thể dẫn tới một hiệp chủng quốc khác tại châu Aâu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Benjamin Franklin qua đời tại Philadelphia vào đêm 17 tháng 4 năm 1790 vì bị sưng phổi, thọ 84 tuổi. Vào khoảng 20 ngàn người đã tôn kính ông trong buổi tang lễ. Ông được chôn trong nghĩa địa của nhà thờ Christ Church tại Philadelphia, bên cạnh vợ ông chết năm 1774.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Benjamin Franklin được kể là một trong 6 công dân hàng đầu của nước Mỹ. Chân dung của ông xuất hiện trên các tem thư, tiền đồng và tiền giấy của Hoa Kỳ. Hai tổng thống Hoa Kỳ đã hãnh diện mang tên của ông: Franklin Pierce và Franklin D. Roosevelt. Thành phố Philadelphia cũng tưởng nhớ người Công Dân lừng danh nhất. Một sân vận động của Đại Học Pennsylvania đã được đặt bằng tên của ông, ngoài ra còn có Công Viên Franklin, Viện Franklin với bức tượng tạc ra do nhà điêu khắc James Earl Frase.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào năm 1790, khi được tin ông Benjamin Franklin qua đời, Quốc Hội nước Pháp quyết định để tang ba ngày và Bá Tước Honoré de Mirabeau đã ca tụng "Nhà Hiền Triết mà cả hai lục địa đều cho là của mình" (the sage whom two worlds claims as their owns). Còn Quốc Hội Hoa Kỳ chịu tang một tháng để tỏ lòng kính cẩn một Công Dân đã có công lớn đối với Quốc Gia, với Khoa Học, với Tự Do và với Nhân Loại.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/p&gt;&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/p&gt;&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span style=";font-size:130%;color:black;"  &gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4128474229374807245-987936882243619848?l=thoisukynguyen2000.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</description><link>http://thoisukynguyen2000.blogspot.com/2009/07/benjamin-franklin-1706-1790-nha-lap.html</link><author>noreply@blogger.com (Thoi Su Ky Nguyen 2000)</author><thr:total xmlns:thr='http://purl.org/syndication/thread/1.0'>0</thr:total></item><item><guid isPermaLink='false'>tag:blogger.com,1999:blog-4128474229374807245.post-6229683515563196267</guid><pubDate>Fri, 03 Jul 2009 15:22:00 +0000</pubDate><atom:updated>2009-07-03T08:26:52.423-07:00</atom:updated><category domain='http://www.blogger.com/atom/ns#'>THƯ VIỆN QUỐC HỘI HOA KỲ-Phạm Văn Tuấn.</category><title>THƯ VIỆN QUỐC HỘI HOA KỲ-Phạm Văn Tuấn.</title><description>&lt;div&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;p class="MsoNormal" style="text-align: center;"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="color: red; "&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: x-large;"&gt;THƯ VIỆN QUỐC HỘI HOA KỲ &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;   &lt;p class="MsoNormal" style="text-align: left;"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-size: 13.5pt; color: red;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="color: rgb(0, 0, 0); font-size: 16px; font-weight: normal; "&gt;&lt;a href="http://images.google.com/imgres?imgurl=http://www.washington.org/movies/images/photo-tour2.jpg&amp;amp;imgrefurl=http://www.washington.org/movies/tourlocations02.html&amp;amp;usg=__oO4zjnY8ObPi1lWNBzx1FB6yDn8=&amp;amp;h=281&amp;amp;w=510&amp;amp;sz=48&amp;amp;hl=en&amp;amp;start=5&amp;amp;um=1&amp;amp;tbnid=9QplFZ47sDi_HM:&amp;amp;tbnh=72&amp;amp;tbnw=131&amp;amp;prev=/images%3Fq%3Dlibary%2Bof%2Bcongress%26hl%3Den%26client%3Dfirefox-a%26rls%3Dorg.mozilla:en-US:official%26sa%3DN%26um%3D1"&gt;&lt;img style="border: 1px solid ;" src="http://tbn1.google.com/images?q=tbn:9QplFZ47sDi_HM:http://www.washington.org/movies/images/photo-tour2.jpg" width="131" height="72" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/span&gt; &lt;span class="Apple-style-span" style="color: rgb(0, 0, 0); font-size: 16px; font-weight: normal; "&gt;&lt;a href="http://images.google.com/imgres?imgurl=http://catholicbiblestudent.com/uploaded_images/loc1-792415.jpg&amp;amp;imgrefurl=http://catholicbiblestudent.com/2007/10/bible-quotes-in-library-of-congress-i.html&amp;amp;usg=__44bxG5NXi1HrnLQcgT06tPu2CWM=&amp;amp;h=600&amp;amp;w=800&amp;amp;sz=107&amp;amp;hl=en&amp;amp;start=9&amp;amp;um=1&amp;amp;tbnid=83WdXVpnCLU9-M:&amp;amp;tbnh=107&amp;amp;tbnw=143&amp;amp;prev=/images%3Fq%3Dlibary%2Bof%2Bcongress%26hl%3Den%26client%3Dfirefox-a%26rls%3Dorg.mozilla:en-US:official%26sa%3DN%26um%3D1"&gt;&lt;img style="border: 1px solid ;" src="http://tbn1.google.com/images?q=tbn:83WdXVpnCLU9-M:http://catholicbiblestudent.com/uploaded_images/loc1-792415.jpg" width="143" height="107" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;&lt;p class="MsoNormal" style="text-align: left;"&gt;&lt;a href="http://images.google.com/imgres?imgurl=http://www.dnsfr.com/library_of_congress.jpg&amp;amp;imgrefurl=http://www.dnsfr.com/&amp;amp;usg=__MqwTTrI8LQun9nChzO6zt9mUD7U=&amp;amp;h=293&amp;amp;w=440&amp;amp;sz=56&amp;amp;hl=en&amp;amp;start=18&amp;amp;um=1&amp;amp;tbnid=8SrghpHTfsn_tM:&amp;amp;tbnh=85&amp;amp;tbnw=127&amp;amp;prev=/images%3Fq%3Dlibary%2Bof%2Bcongress%26hl%3Den%26client%3Dfirefox-a%26rls%3Dorg.mozilla:en-US:official%26sa%3DN%26um%3D1"&gt;&lt;img style="border: 1px solid ;" src="http://tbn0.google.com/images?q=tbn:8SrghpHTfsn_tM:http://www.dnsfr.com/library_of_congress.jpg" width="127" height="85" /&gt;&lt;/a&gt;    &lt;a href="http://images.google.com/imgres?imgurl=http://lcweb.loc.gov/exhibits/treasures/images/vc4.6.jpg&amp;amp;imgrefurl=http://memory.loc.gov/ammem/pihtml/pi021.html&amp;amp;usg=__G1ixP68sEp-VillJhfrX_xUBHGk=&amp;amp;h=520&amp;amp;w=640&amp;amp;sz=50&amp;amp;hl=en&amp;amp;start=29&amp;amp;um=1&amp;amp;tbnid=22FbliOGHBO-YM:&amp;amp;tbnh=111&amp;amp;tbnw=137&amp;amp;prev=/images%3Fq%3Dlibary%2Bof%2Bcongress%26ndsp%3D20%26hl%3Den%26client%3Dfirefox-a%26rls%3Dorg.mozilla:en-US:official%26sa%3DN%26start%3D20%26um%3D1"&gt;&lt;img style="border: 1px solid ;" src="http://tbn3.google.com/images?q=tbn:22FbliOGHBO-YM:http://lcweb.loc.gov/exhibits/treasures/images/vc4.6.jpg" width="137" height="111" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p class="MsoNormal" style="text-align: left;"&gt;&lt;a href="http://images.google.com/imgres?imgurl=http://www.constitutioncenter.org/constitutionday/download/attachments/2939/Lib%2520Congress_Image.doc.jpg&amp;amp;imgrefurl=http://blog.library.temple.edu/devoek/archives/2007/05/library-of-congress-launches-b.html&amp;amp;usg=__muHCqijdaeDH0iPi4zCeeubO3Bo=&amp;amp;h=551&amp;amp;w=505&amp;amp;sz=36&amp;amp;hl=en&amp;amp;start=119&amp;amp;um=1&amp;amp;tbnid=x0iqhnP5Iic9EM:&amp;amp;tbnh=133&amp;amp;tbnw=122&amp;amp;prev=/images%3Fq%3Dlibary%2Bof%2Bcongress%26ndsp%3D20%26hl%3Den%26client%3Dfirefox-a%26rls%3Dorg.mozilla:en-US:official%26sa%3DN%26start%3D100%26um%3D1"&gt;&lt;img style="border: 1px solid ;" src="http://tbn2.google.com/images?q=tbn:x0iqhnP5Iic9EM:http://www.constitutioncenter.org/constitutionday/download/attachments/2939/Lib%2520Congress_Image.doc.jpg" width="122" height="133" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p class="MsoNormal" style="text-align: left;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="color: rgb(0, 112, 192); font-weight: bold; "&gt;Phạm Văn Tuấn.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;   &lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; color: black;"&gt;Thư Viện Quốc Hội của Hoa Kỳ là thư viện lớn nhất và có nhiều sách nhất thế giới. Thư viện này chứa khoảng 100 triệu đơn vị thư tịch, gồm 29 triệu cuốn sách mỏng và dày, hàng triệu bản thảo, biểu đồ, bản khắc, bản đồ, hình chụp, bản nhạc, bản ghi âm, bản ghi hình… Thư Viện Quốc Hội cũng sở hữu một bộ sưu tập lớn nhất về các sách cổ bản (incunabula) , hay 5,600 các sách được in trước năm 1501 của vùng Tây Bán Cầu, kể cả ấn bản Thánh Kinh do Gutenberg thực hiện và đây là cuốn sách quan trọng đầu tiên được in ấn tại thế giới tây phương.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; color: black;" lang="EN-US"&gt;Vào năm 2000, Thư Viện Quốc Hội (The Library of Congress) hưởng tròn 200 tuổi. Thư viện này là cơ sở văn hóa quốc gia lâu đời nhất của Hoa Kỳ, là nơi lưu trữ kiến thức rộng lớn nhất trên thế giới và là biểu hiện của sự kết nối thiết yếu giữa kiến thức và nền dân chủ. Nhà sáng lập ra Thư Viện Quốc Hội là ông Thomas Jefferson. Các sách thuộc thư viện riêng của ông Jefferson cùng với sự quan tâm rộng lớn về nhiều bộ môn học thuật, cùng với lý tưởng dân chủ của ông, đã là nền móng cho bản chất và các hoạt động của Thư viện Quốc Hội. Ông Thomas Jefferson đã tin tưởng rằng một chính quyền tự quản lệ thuộc vào các công dân có kiến thức, có tự do theo đuổi sự thật, biết tham dự vào các hoạt động của chính quyền, và chính sự hiểu biết cùngø các quyết định thực tế của mọi công dân đã làm hoạt động nền dân chủ. Lý tưởng về tự do, về cách theo đuổi sự thật mà không bị kiềm chế trong một xã hội được xây dựng trên kiến thức, đã là một phần di sản của ông Thomas Jefferson.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thư Viện Quốc Hội chiếm 3 tòa kiến trúc trên đồi Capitol, gần Quốc Hội của Thủ Đô Hoa Kỳ. Tòa nhà Jefferson mở cửa vào năm 1897, là một dấu tích của nền văn hóa, văn minh của Hoa Kỳ. Tòa nhà John Adams bằng đá hoa trắng, được khánh thành vào năm 1939, là kiến trúc thứ hai rồi vào năm 1980, hoàn thành tòa nhà James Madison, một công trình xây dựng rộng lớn nhất. Ba kiến trúc này có diện tích mặt bằng tổng cộng là 29 mẫu (hectares). Mỗi năm có vào khoảng 2 triệu nhà khảo cứu, học giả và du khách tới thăm hoặc tìm kiếm tài liệu tại Thư Viện Quốc Hội, và còn có hàng triệu người khác ở xa xử dụng các dịch vụ mà thư viện này cung cấp.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt; 1/ Thời kỳ ban đầu.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngay từ khởi đầu, Thư Viện Quốc Hội được thành lập để phục vụ cho Quốc Hội Hoa Kỳ, tức là ngành lập pháp của chính quyền. Vào ngày 24 tháng 4 năm 1800, Tổng Thống John Adams đã phê chuẩn một quyết định dành 5,000 mỹ kim để mua “các quyển sách có thể cần thiết cho Quốc Hội” và khi đó Thủ Đô Hoa Kỳ được dọn từ thành phố Philadelphia về thành phố Washington, là một địa điểm mới, đang được xây dựng. Các cuốn sách đầu tiên được đặt mua từ London đã tới nơi vào năm 1801 và được cất giữ tại Điện Capitol. Bộ sưu tập đầu tiên của Thư Viện gồm 740 cuốn và 3 bản đồ. Tới ngày 26-1-1802, Tổng Thống Thomas Jefferson đã phê chuẩn đạo luật đầu tiên xác định các vai trò và chức năng của Thư Viện Quốc Hội, đã ấn định chức vụ của vị quản thủ thư viện và cho Quốc Hội, qua Uûy Ban Liên Hợp về Thư Viện (Joint Committee on the Library) thẩm quyền xác định ngân quỹ, các quy luật và luật lệ. Như vậy ngay từ khởi đầu, Thư Viện Quốc Hội đã là một thư viện của ngành lập pháp với vị quản thủ do Tổng Thống bổ nhiệm, và Tổng Thống, Phó Tổng Thống có quyền mượn các sách từ thư viện này.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tổng Thống Thomas Jefferson là môt nhân vật tin tưởng mãnh liệt rằng sức mạnh của trí tuệ có thể tạo nên một xã hội dân chủ và tự do. Là một nhân vật không thể sống mà thiếu sách, ông Thomas Jefferson rất quan tâm tới các bộ sách của Thư Viện Quốc Hội và trong nhiệm kỳ từ năm 1801 tới năm 1809, chính Tổng Thống Thomas Jefferson đã từng đề nghị mua các sách cho thư viện và đã bổ nhiệm 2 vị quản thủ thư viện. Năm 1814, quân đội Anh đã đánh chiếm Thủ Đô Washington, đốt cháy Điện Capitol kể cả 3,000 cuốn sách của Thư Viện Quốc Hội. Vì lý do này, ông Jefferson khi đó đã hồi hưu, đề nghị bán lại thư viện riêng của mình cho Quốc Hội Hoa Kỳ để bắt đầu lại Thư Viện Quốc Hội. Vào thời bấy giờ, thư viện của cựu Tổng Thống Jefferson có các sách quý nhất với số lượng nhiều nhất. Quốc Hội Hoa Kỳ đã chi ra 23,940 mỹ kim để mua lại 6,487 cuốn sách vào năm 1815.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Số sách mà cựu Tổng Thống Jefferson bán lại cho Quốc Hội Hoa Kỳ không những lớn gấp hai lần những sách đã bị thiêu hủy vì chiến tranh mà còn thuộc về các phạm vi học thuật vượt ra ngoài những bộ môn luật pháp, kinh tế và lịch sử mà thư viện lập pháp đó đã từng chủ trương. Ông Thomas Jefferson là một nhân vật có tầm hiểu biết bách khoa nên thư viện riêng của ông đã sưu tầm các tác phẩm về nghệ thuật, kiến trúc, văn chương, khoa học, địa dư, ngoài ra còn các sách viết bằng các ngoại ngữ La Tinh, Hy Lạp, Pháp, Đức, Tây Ban Nha và một bộ sách gồm 3 quyển viết về thống kê bằng tiếng Nga. &lt;/span&gt;&lt;span style="font-size: 12pt; color: black;"&gt;Sở dĩ ông Thomas Jefferson quan tâm về nhiều ngoại ngữ vì ông tin tưởng rằng để có thể quản trị đất nước theo tinh thần dân chủ, ngành lập pháp rất cần tới nhiều tư tưởng và thông tin về mọi môn học, viết bằng nhiều ngoại ngữ. Ông Thomas Jefferson đã từng nói : “không có môn học nào mà một thành viên của Quốc Hội sẽ không có dịp cần tới”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Việc Thư Viện Quốc Hội mua lại thư viện riêng của cựu Tổng Thống Thomas Jefferson đã là căn bản cho việc bành trướng các chức năng của thư viện. Quan niệm toàn diện, lòng tin tưởng vào sức mạnh của kiến thức, vào sự liên hệ trực tiếp giữa kiến thức và nền dân chủ của ông Thomas Jefferson đã là nền móng triết học của Thư Viện Quốc Hội, chỉ hướng cho thư viện trong việc sưu tập các sách vở và tài liệu cũng như thực hiện các dịch vụ. Ngoài ra, vào thời kỳ bấy giờ, nhiều người Mỹ đã nhận thức được sự lệ thuộc văn hóa của Hoa Kỳ vào nước Anh và châu Âu nên đã lo ngại và muốn thiết lập nên các truyền thống và định chế riêng cho vùng Bắc Mỹ. Bài xã luận phổ biến vào ngày 15-7-1815 trên tờ nhật báo “Thông tin quốc gia” (National Intelligencer) đã viết : “mọi quốc gia văn minh của châu Âu đều có các thư viện quốc gia. Tại quốc gia có trình độ thông minh phổ biến như Hoa Kỳ thì Thư Viện Quốc Hội phải trở nên một kho lưu trữ lớn lao nền văn chương của thế giới”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong 3 thập niên kể từ 1802, Thư Viện Quốc Hội đã phục vụ cho cả ngành Tư Pháp và các cơ quan khác của chính quyền. Tới năm 1832, một phân khoa Luật (law department) của thư viện được chấp thuận với số tiền dành riêng để mua các sách Luật học, đặt dưới sự chỉ huy của vị chánh án tối cao.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong khi Thư Viện Quốc Hội bắt đầu hoạt động thì Viện Smithsonian lại mong trở thành một thư viện quốc gia của Hoa Kỳ. Vào đầu thập niên năm 1850, vị quản thủ thư viện vừa đa tài,vừa hăng hái là ông Charles Coffin Jewett, đang cố gắng hướng Viện Smithsonian thành một trung tâm thư tịch có tầm vóc quốc gia (national bibliographic center). Tuy nhiên, các cố gắng của ông Jewett đã bị vị Giám Đốc Viện là ông Joseph Henry phản đối, vì cho rằng Viện Smithsonian phải chuyên chú vào khảo cứu khoa học và xuất bản. Thực ra, ông Joseph Henry đã tin rằng Thư Viện Quốc Hội nên là nền móng thích hợp để phát triển thành một thư viện quốc gia, để sưu tập các bộ sách giá trị, xứng đáng với một chính quyền lệ thuộc vào sự khôn ngoan của nhân dân. Ngày 10-7-1854, ông Joseph Henry đã bãi chức ông Jewett, chấm dứt mọi hy vọng Viện Smithsonian có thể trở nên một thư viện quốc gia và hơn nữa, 12 năm sau, ông Henry còn đồng ý chuyển toàn bộ 40,000 cuốn sách của Viện Smithsonian cho Thư Viện Quốc Hội.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong các thập niên 1830 và 1840, Thư Viện Quốc Hội bắt đầu phân phối các tài liệu công (public documents) cho các cơ quan trên khắp đất nước Hoa Kỳ và trao đổi sách báo và tài liệu với các cơ quan nước ngoài để có các thông tin dùng cho chính phủ Mỹ. Thập niên 1850 là thời kỳ bất lợi cho Thư Viện Quốc Hội. Sự phân chia Nam-Bắc đã làm yếu đi mọi cơ sở của quốc gia và vào năm 1851, trận hỏa hoạn tai hại nhất trong lịch sử của thư viện đã đốt cháy 2 phần 3 tổng số 55,000 cuốn sách, gồm cả các sách của Thư Viện Jefferson. Nhưng rồi Quốc Hội Hoa Kỳ đã đáp ứng vào năm 1852 một cách nhanh chóng và rộng lượng bằng cách cấp cho Thư Viện Quốc Hội 168,700 Mỹ kim để tu sửa các căn phòng trong Điện Capitol và mua lại các sách đã bị thiệt hại. Nhưng vào thời kỳ này, chính sách bảo thủ do vị quản thủ thư viện là ông John Silva Meehan và Thượng Nghị Sĩ James A. Pearce thuộc tiểu bang Maryland đã giới hạn các hoạt động bành trướng của Thư Viện Quốc Hội.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào năm 1857, một quyết định của Quốc Hội đã chuyển trách nhiệm phân phối tài liệu công cho Bộ Nội Vụ và giao trách nhiệm trao đổi sách báo và tài liệu ngoại quốc cho Bộ Ngoại Giao. Ngoài ra, kể từ năm 1859, mọi hoạt động tác quyền đều phải tập trung về Cơ Quan Đăng Kiểm Sáng Chế (the Patent Office), có nghĩa là Thư Viện Quốc Hội và Viện Smithsonian không còn nhận được nạp bản xin tác quyền của các sách in và tập sách mỏng, một việc làm thuộc Thư Viện này kể từ năm 1846.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt; 2/ Thời kỳ phát triển.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi ông Abraham Lincoln lên làm Tổng Thống năm 1861, ông đã thay thế vị quản thủ thư viện cũ Meehan bằng ông John G. Stephenson, một bác sĩ gốc tiểu bang Indiana. Nhiệm kỳ 4 năm tại Thư viện Quốc Hội của ông Stephenson không có gì đặc biệt và Thư Viện Quốc Hội vào thời kỳ này chỉ có 7 nhân viên với 80,000 cuốn sách. Thế nhưng tinh thần Jefferson về phát triển văn hóa đã được vị quản thủ thư viện kế tiếp thực hiện, đó là ông Ainsworth Rand Spofford, trước kia đã từng là một nhà báo và cũng là một chủ tiệm sách tại thành phố Cincinnati.Trong 2 năm từ 1865 tới 1867, ông Spofford đã hoàn tất được nhiệm vụ liên kết các chức năng lập pháp và quốc gia của Thư Viện Quốc Hội bằng 4 công trình phát triển : (1) cả 2 đảng Cộng Hòa và Dân chủ đều yểm trợ Thư Viện Quốc Hội vì đây là thư viện mang tính lập pháp và có tầm vóc quốc gia, (2) công cuộc sưu tầm về châu Mỹ (Americana) được bắt đầu, (3) xây dựng kiến trúc thư viện giống như đài kỷ niệm quốc gia, (4) văn phòng của vị quản thủ thư viện có đủ tính cách độc lập và quyền lực. Nhờ sự kiên nhẫn, tài khéo léo và mối quan tâm của ông Spofford, Thư Viện Quốc Hội đã nắm giữ một vai trò có tầm vóc quốc gia rồi từ đó, các vị quản thủ kế tiếp đã làm phát triển tinh thần văn hóa căn bản theo đúng niềm tin tưởng của ông Thomas Jefferson, tức là một hình thức chính quyền dân chủ lệ thuộc vào căn bản thông tin và hiểu biết của người dân.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngay sau khi cuộc Nội Chiến Nam Bắc Mỹ chấm dứt, xã hội Hoa Kỳ bắt đầu thay đổi với sự bành trướng của chính quyền liên bang. Ông Spofford đã lợi dụng thời điểm thuận lợi về chính trị và văn hóa này để phát triển Thư Viện Quốc Hội. Ông luôn luôn tin tưởng rằng Thư Viện Quốc Hội phải là một thư viện quốc gia và ông đã thuyết phục được Uûy Ban Liên Hợp về Thư Viện (the Joint Committee on the Library) và các vị nghị viên Quốc Hội, chấp thuận 6 nghị định mang tính lập pháp : (1) một ngân khoản phát triển thư viện trong Điện Capitol được chấp thuận vào đầu năm 1865, (2) tu chính án về tác quyền (the copyright amendment) của năm 1865 đã xác định các nạp bản phải gửi tới Thư Viện Quốc Hội, (3) văn khố (deposit) của Viện Smithsonian gồm rất nhiều tài liệu khoa học phải được chuyển qua Thư Viện Quốc Hội vào năm 1866, (4) Thư Viện Quốc Hội đã bỏ ra số tiền 100,000 mỹ kim để mua lại thư viện tư của nhà sử học và lưu trữ văn khố Peter Force (archivist), nhờ đó thiết lập nên nền móng của công cuộc sưu tầm về châu Mỹ (Americana) và các sưu tập cổ bản (incunabula collections) , (5) nghị định trao đổi tài liệu quốc tế đã cho phép Thư Viện Quốc Hội sưu tập các tài liệu công ngoại quốc, (6) đạo luật về tác quyền năm 1870 (the copyright act of 1870) đã cho Thư Viện Quốc Hội quyền nhận đăng ký tác quyền và mọi hoạt động lưu trữ văn khố.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tại Hoa Kỳ, tác quyền được chấp thuận từ năm 1790 nhưng sự bảo vệ tác quyền chỉ được thi hành nghiêm chỉnh kể từ năm 1846 khi Viện Smithsonian và Thư Viện Quốc Hội có được đặc quyền này. Thư Viện Quốc Hội do đó đã nhận được một ấn bản để lưu trữ từ năm 1846 tới năm 1859, rồi nhờ ông Spofford, mọi công tác đăng ký và lưu trữ văn khố đều tập trung về Thư Viện Quốc Hội, không còn thuộc chức năng của Cơ Quan Đăng Kiểm Sáng Chế (the Patent Office) và các tòa án địa phương. Sau đó, đạo luật 1870 đã cho phép Thư Viện Quốc Hội tiếp tục phát triển các bộ sưu tập về châu Mỹ và quy định rằng Thư Viện này nhận 2 nạp bản để đăng kiểm về các loại sách dày, sách mỏng, bản đồ, bản in (print), hình chụp, bản nhạc. Sau đó vào năm 1891, đạo luật quốc tế về tác quyền (the international copyright law of 1891) càng làm cho Thư Viện Quốc Hội thêm quyền lực.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo thống kê của Bộ Giáo Dục Hoa Kỳ vào năm 1876, tại Hoa Kỳ chỉ có 2 thư viện lớn nhất là Thư Viện Quốc Hội và Thư Viện Công Lập Boston (the Boston Public Library), có vào khoảng 300,000 cuốn sách. Tới năm 1897, Thư Viện Quốc Hội đã dọn qua một tòa nhà mới nhờ đó đứng đầu về số lượng sách và các đơn vị thư tịch khác. Thư Viện này đã có số sách lên tới 840,000 cuốn với 40 phần trăm nhờ vào công tác nạp bản, còn về các bản đồ, bản nhạc, đồ họa (graphic arts), 90 phần trăm tài liệu do việc nạp lưu trữ. Thư Viện Quốc Hội còn có bộ sưu tập Nhiếp Aûnh do Mathew Brady thực hiện cùng với toán nhiếp ảnh gia của ông suốt trong thời kỳ Nội Chiến.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong các năm từ 1865 tới 1897, công tác nạp bản đã không những là nguồn cung cấp các sách in và tài liệu cho Thư Viện Quốc Hội mà còn ảnh hưởng đến việc xây dựng các tòa nhà lưu trữ. Năm 1871, ông Spofford trong bản báo cáo hàng năm, đã đề cập tới một tòa nhà lớn biệt lập khác. Ông đã vận động rất nhiềù chính khách và các nhân vật có thế lực : thượng nghị sĩ, dân biểu, các nhà lãnh đạo văn hóa, các nhà báo và ngay cả Tổng Thống. Hai vị thượng nghị sĩ và cũng là bạn thân của ông Spofford là các ông Justin S. Morrill, thuộc tiểu bang Vermont và Daniel W. Voorhees, thuộc tiểu bang Inidana, đã hết lòng yểm trợ ông Spofford. Tháng 3 năm 1879, ông Morrill đã đọc một bài diễn văn, cổ động cho quan niệm về thư viện quốc gia của ông Spofford và đề cập tới sự cần thiết của một tòa nhà thật lớn. Thượng nghị sĩ Voorhees, chủ tịch của Uûy Ban Liên Hợp về Thư Viện (the Joint Committee on the Library) còn mô tả niềm tin của Tổng Thống Thomas Jefferson về giá trị tinh thần rất cần thiết của các sách vở và các hoạt động trí tuệ : “Kiến thức là sức mạnh, sức mạnh để duy trì một chính quyền tự do và để bảo vệ Tự Do theo Hiến Pháp”. Nhờ công sức của các ông Morrill, Voorhees và Spofford, một tòa dinh thư mới được khởi công xây cất năm 1889 và mở cửa cho dân chúng xử dụng vào năm 1897, đó là Tòa Nhà Thomas Jefferson, một đài kỷ niệm quốc gia có kiến trúc theo kiểu Phục Hưng Y,Ù với Phòng Đọc Sách Chính ở trung tâm, với các trang trí rực rỡ tại khắp nơi, là biểu tượng của tính phổ cập về kiến thức.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ông Spofford còn bắt đầu một truyền thống của thư viện, đó là mở rộng công tác phục vụ dân chúng. Từ năm 1865, ông đã tăng thêm giờ hoạt động nhờ đó Thư Viện Quốc Hội đã mở cửa vào mọi ngày trong suốt năm. Ông còn cổ võ cho việc phục vụ thư viện vào ban đêm nhưng không được Quốc Hội chấp thuận, cho tới năm 1898. Năm 1870, ông Spofford khởi đầu chính sách cho mượn các sách đọc nếu người đọc sách chịu đặt cọc một số tiền và phương cách này được duy trì tới năm 1894. Có vài sự việc mà ông Spofford đã không tiên liệu, là Thư Viện Quốc Hội sẽ trở nên trung tâm của mạng lưới các thư viện của Hoa Kỳ và là tụ điểm, cung cấp cho các thư viện khác các dịch vụ về tổng kê (cataloging) và thư tịch (bibliographic) .&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1896, trước khi dọn qua địa điểm mới, Ủy Ban Liên Hợp Thư Viện (the Joint Library Committee) đã nghe điều tràân về các tình trạng và cách tổ chức lại Thư Viện Quốc Hội. Cuộc điều trần này đã cung cấp cho Quốc Hội từng chi tiết về lịch sử và các chức năng hiện tại của Thư Viện Quốc Hội cùng các nhiệm vụ mới mà Thư Viện này sẽ thực hiện khi có cơ sở mới. Lúc bấy giờ, Tổng Hội Thư Viện Hoa Kỳ (the American Library Association) đã cử đi họp 6 vị, gồm cả các ông Herbert Putnam thuộc Thư Viện Công Lập Boston và về sau là nhà quản thủ Thư Viện Quốc Hội, và ông Melvil Dewey thuộc Thư Viện New York. Các nghị viên Quốc Hội đã nghe 2 ông Putnam và Dewey trình bày rằng dịch vụ có tầm vóc quốc gia của Thư Viện Quốc Hội cần phải được bành trướng. Ông Dewey nhận định rằng Thư Viện Quốc Hội phải là một trung tâm mang tầm vóc quốc gia thực sự, là trung tâm để các thư viện rải rác trên đất nước Hoa Kỳ hướng về, xin chỉ dẫn, giúp đỡ và đây là cách tiết kiệm nhất và hữu hiệu nhất.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cuộc điều trần về thư viện năm 1896 đã ảnh hưởng lớn lao tới việc tổ chức lại Thư Viện Quốc Hội. Do Đạo Luật Ngân Khoản Hành Pháp (the Legislative Appropriations Act) được chấp thuận vào ngày 19-2-1897 và có hiệu lực từ ngày 1-7-1897, Thư Viện Quốc Hội có từ 42 người được tăng lên 108 nhân viên, và các đơn vị quản trị mới được thiết lập tại các phòng đọc sách cũng như tại các phân khoa ấn loát, bản đồ và biểu đồ, tổng kê, tác quyền, thủ bản (manuscript) , âm nhạc và ấn phẩm định kỳ (periodicals) .&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trách nhiệm điều hành các công tác quan trọng của Thư Viện Quốc Hội, theo đúng các quy luật và luật lệ về thư viện, đã khiến cho chức vụ của vị quản thủ Thư Viện Quốc Hội phải được chỉ định do Tổng Thống và được Quốc Hội phê chuẩn. Năm 1897, Tổng Thống William McKinley đã chỉ định một vị quản thủ thư viện mới, để lo dọn thư viện qua Tòa Nhà Thomas Jefferson và lo việc tổ chức, sắp xếp lại. Vì vậy, ông John Russell Young đã nhậm chức từ ngày 1-7-1897 cho tới khi ông qua đời vào tháng 1 năm 1899. Nguyên là nhà báo và nhà ngoại giao, ông Young là một quản trị gia khéo léo, đã bành trướng tầm hoạt động của Thư Viện Quốc Hội, mở rộng các bộ sưu tập của thư viện. Tháng 2 năm 1898, ông Young đã gửi tới các tòa đại sứ và lãnh sự Hoa Kỳ trên khắp thế giới, lời yêu cầu họ cung cấp cho “thư viện quốc gia” các nhật báo, tạp chí, tập sách, tài liệu của các quốc gia khác nhau, cùng “tất cả những gì đóng góp vào kiến thức của nhân loại”, nhờ thế vào cuối năm 1898, đã có nhiều sách báo và tài liệu gửi về từ 11 tòa đại sứ và 7 tòa tổng lãnh sự.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ông John Russell Young còn sáng suốt bổ nhiệm các ông Thorvald Solberg, nhân viên đăng kiểm đầu tiên về tác quyền và các ông J.C.M.Hanson và Charles Martel, các tổng kê viên, các vị này bắt đầu một công tác mới là xếp loại các bộ sưu tập mà trong gần một thế kỷ, đã theo hệ thống phân loại của cựu Tổng Thống Thomas Jefferson. Là một nhân vật không có đầu óc đảng phái, ông John Russell Young đã thành công trong việc đưa Thư Viện Quốc Hội ra khỏi thế giới chính trị của nước Mỹ. Và việc làm nổi tiếng nhất của ông Young là khánh thành dịch vụ thư viện dành cho người mù và người tàn tật. Vào tháng 11 năm 1897, Thư Viện Quốc Hội bắt đầu một chương trình đọc sách tại “khu dành cho người khiếm thị” cùng với phần thư viện riêng dành cho những người thiệt thòi này, rồi tới năm 1913, Quốc Hội Hoa Kỳ đã điều hành nhà in các ấn bản chữ nổi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt; 3/ Thư Viện Quốc Hội qua Thế Kỷ 20. &lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Người kế nghiệp ông Young là ông Herbert Putnam, được Tổng Thống William McKinley bổ nhiệm vào mùa xuân năm 1899. Trong suốt 40 năm trường, ông Putnam đã làm bành trướng dịch vụ thư viện tới mọi người dân Mỹ. Ông đã nói về đặc tính của Thư Viện Quốc Hội là “Tầm vóc quốc tế, Dịch vụ quốc gia” (Universal in Scope, National in Service). Nhờ ông Putnam, Thư viện Quốc Hội đã phục vụ tích cực các học giả, công chúng và các thư viện khác.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Từ thập niên 1870, các trường chuyên nghiệp và đại học tại Hoa Kỳ đã phát triển, cung cấp nhiều trình độ học vấn cao cấp, đồng thời đã xuất hiện các hiệp hội chuyên môn. Chính quyền liên bang từ thời kỳ này phải yểm trợ các hoạt động về giáo dục, khoa học, nghiên cứu, cho nên năm 1900 là năm bắt đầu của thời đại các thư viện cỡ lớn, với các giá sách khổng lồ, các phương pháp tổng kê và phân loại theo khoa hoc cùng với nhóm chuyên viên toàn thời gian.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào cuối năm 1901, Thư Viện Quốc Hội là thư viện đầu tiên của Hoa Kỳ có một triệu cuốn sách cùng với các bộ sưu tập giá trị, đã trở nên thư viện dẫn đầu các thư viện Mỹ. Ong Putnam cũng cho thiết lập vào năm 1901 hệ thống lưu hành sách giữa các thư viện (the inter-library loan system), và các phiếu thư mục được in sẵn (printed catalog cards) bắt đầu được Thư Viện Quốc Hội bán ra và phân phối. Kể từ nay, các sách không còn bị giữ trong phạm vi thư viện nữa, mà còn được gửi ra bên ngoài để mọi người xử dụng. Để biện hộ cho công việc này, vị quản thủ Thư Viện Quốc Hội đã nói : “một cuốn sách được xử dụng, là đã làm tròn nhiệm vụ cao cả của nó, còn hơn là một cuốn sách chỉ được để dành vì sẽ dùng trong tương lai”. Các việc làm của ông Putnam đã khuyến khích sự cộng tác giưã các học giả và các thư viện, thiết lập nên các tiêu chuẩn thư tịch (bibliographic standards), giúp công vào các hoạt động trí tuệ tại Hoa Kỳ, làm “dân chủ hóa” kiến thức trên bình diện quốc gia và quốc tế và nhờ đó, đã khiến cho Thư Viện Quốc Hội có một địa vị lãnh đạo trong các viện nghiên cứu của thế giới.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các tài liệu hữu ích của Hoa Kỳ dùng vào nhiều công trình nghiên cứu lịch sử, được ông Putnam làm phát triển qua cách cung cấp các văn bản gốc. Năm 1903, ông Putnam đã đề nghị với Tổng Thống Theodore Roosevelt, nguyên là một người bạn và cũng là một vị yểm trợ cho Thư Viện Quốc Hội, ban hành một sắc lệnh di chuyển từ Văn Khố của Bộ Ngoại Giao nhiều tư liệu của các vị lập quốc Hoa Kỳ, kể cả của các cựu tổng thống George Washington, Thomas Jefferson và James Madison, qua phân bộ thủ bản (manuscript division) của Thư Viện Quốc Hội. Từ năm 1904, thư viện này cũng bắt đầu phổ biến các bản văn lịch sử quan trọng, chẳng hạn như các Tập San của Quốc Hội Lục Địa (the Journals of the Continental Congress) và ông Putnam cho rằng vai trò của thư viện là bảo vệ các nguồn tài liệu gốc của lịch sử.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo đúng chủ trương của ông Thomas Jefferson là không một bộ môn học thuật nào ở bên ngoài sự quan tâm của Quốc Hội hay dân chúng Hoa Kỳ, ông Putnam còn đặc biệt nhìn xa trông rộng trong việc thu lượm các tài liệu nghiên cứu về các quốc gia và các nền văn hóa khác. Ông đã không bỏ lỡ một cơ hội nào mà không mua sắm các bộ tài liệu cần thiết cho việc khảo cứu quan trọng về sau. Năm 1906, bộ sách nổi danh gồm 8,000 cuốn về văn chương Nga của ông G.V.Yudin ở Siberia đã được mua cho Thư Viện Quốc Hội và ông Putnam còn cử một nhân viên qua nước Nga để trông coi việc đóng thùng và chuyên chở. Tới năm 1908, bộ sưu tập Schatz về nhạc kịch thuở ban đầu (opera librettos) được mua từ nước Đức. Ngoài ra còn bộ Hebraica và các sách quý của Trung Hoa, Nhật Bản. . .&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Để yểm trợ cho ngành Lập Pháp, Sở Dịch Vụ Tham Khảo Lập Pháp (the Legislative Reference Service) được thành lập vào năm 1914 như là một đơn vị hành chính riêng biệt của Thư viện Quốc Hội, bởi vì vào giai đoạn này, nhiều nhà trí thức đã vận động việc dùng các thông tin một cách khoa học để giải quyết nhiều vấn đề. Trong bản điều trần trước Thượng Viện Hoa Kỳ vào năm 1913, ông Putnam đã trình bày về chức năng của Sở Dịch Vụ Tham Khảo là chọn lựa ra trong số 2 triệu cuốn sách mỏng và dày, các tài liệu mà Quốc Hội có thể cần tới. Nói một cách khác, Thư Viện Quốc Hội sẽ cung cấp cho Quốc Hội một dịch vụ về khảo cứu với các đề tài như hệ thống ngân quỹ quốc gia, các đóng góp quỹ tranh cử, chính quyền Phi Luật Tân, trợ cấp của liên bang trong việc làm đường lộ, vấn đề di dân, vấn đề hàng hải thương thuyền . . .&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ông Herbert Putnam còn hướng Thư Viện Quốc Hội về các định hướng khác. Nhờ các vận dộng của ông, đạo luật về Uûy Ban Ngân Khoản Uûy Tặng năm 1925 (the Trust Fund Board of 1925) được ban hành, cho phép Thư Viện Quốc Hội nhận vào các quà tặng và di sản từ các tư nhân, tạo nên một vai trò văn hóa mới của Thư Viện. Khởi đầu, một tư nhân là bà Elizabeth Sprague Coolidge đề nghị ủy tặng cho Thư Viện Quốc Hội một món tiền lớn để làm phát triển kiến thức và trình độ thưởng thức âm nhạc. Bà Coolidge cũng tặng tiền để thiết lập nên một sảnh đường hòa nhạc (concert hall) bên trong tòa nhà của Thư Viện Quốc Hội, trợ cấp cho các công trình mới về âm nhạc và trả thù lao trọng hậu cho vị trưởng khoa âm nhạc của Thư Viện. Từ thời gian này, các nhân vật lỗi lạc cũng theo bước của bà Coolidge, trở nên ân nhân của Thư Viện Quốc Hội, như các vị James B. Wilbur, Archer Huntington, John D. Rockefeller, Gertrude Clarke Whittall. Đăc biệt bà Gertrude Clarke Whittall còn tặng cho Thư Viện 5 cây vĩ cầm Stradivari vô giá và một ngân khoản về hòa nhạc, giúp cho Thư Viện Quốc Hội trở thành một nơi bảo trợ các nghệ thuật, làm đúng theo ước nguyện của ông Thomas Jefferson, một chính trị gia xuất sắc và cũng là một nhạc sĩ vĩ cầm và hồ cầm (cello).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cũng nhờ có Ngân Quỹ Uûy Tặng (the Trust Fund), Thư Viện Quốc Hội có thể lập nên cơ sở cho các học giả và các nhà tham vấn về thơ phú. Ông Putnam còn cẩn thận xác định cách xử dụng ngân khoản để bổ túc, mà không thay thế số tiền từ chính quyền dành cho Thư Viện. Ông Putnam đã tiên liệu vai trò văn hóa và giáo dục của Thư Viện và lập nên một bộ phận riêng, thuộc tư nhân để yểm trợ cho Thư Viện.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Do lòng mong muốn Thư Viện Quốc Hội trở thành chiếc nôi của nền dân chủ theo lý tưởng của ông Thomas Jefferson, năm 1921, ông Putnam còn ra lệnh cho 2 văn bản quý giá nhất của Hoa Kỳ là “Bản Tuyên Ngôn Độc Lập” và “Bản Hiến Pháp Hoa Kỳ” chuyển về lưu giữ và trưng bày tại Đại Sảnh (Great Hall) của Thư Viện. Trong buổi lễ chuyển giao này, có tham dự Tổng Thống Calvin Coolidge và các nhân vật cao cấp khác. Thư Viện Quốc Hội đã bảo quản 2 tài liệu lịch sử đó cho tới năm 1952 mới chuyển lại cho Cơ Quan Văn Khố Quốc Gia (the National Archives), tuy nhiên vẫn còn sở hữu bản nháp viết tay “Tuyên Ngôn Độc Lập” của ông Thomas Jefferson. Nhà sử học James Truslow Adams trong cuốn sách “Thiên Anh Hùng Ca của Hoa Kỳ” (the Epic of America) xuất bản năm 1931, đã biết rằng Thư Viện Quốc Hội là một biểu tượng của nền dân chủ, đã được tạo lập do người dân và hoạt động vì người dân.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong 40 năm giữ trọng trách quản thủ thư viện, ông Putnam đã làm phát triển các bộ sưu tập cùng các dịch vụ thư viện khiến cho các tòa nhà đọc sách và chứa sách cần tới thêm diện tích. Nghị định cho phép mua thêm đất đai để xây dựng nên một kiến trúc mới được chấp thuận năm 1928 và Tòa Nhà John Adams được khởi công vào năm 1930, nhưng vì các năm suy thoái kinh tế, công trình xây cất bị đình hõan và chỉ hoàn thành vào năm 1938 rồi năm sau, 1939, mới mở cửa tiếp đón dân chúng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Người kế nghiệp ông Putnam là nhà văn kiêm nhà thơ Archibal MacLeish, được Tổng Thống Franklin Roosevelt bổ nhiệm năm 1939. Ông MacLeish đã làm quản thủ thư viện cho tới cuối năm 1944, khi ông trở nên Thứ Trưởng Ngoại Giao. Là một nhân vật biện hộ cho việc tham dự của Hoa Kỳ vào Thế Chiến II, ông MacLeish đã dùng văn phòng Thư Viện Quốc Hội để nói về nền dân chủ, hô hào các nhà trí thức phải bảo vệ nền văn hóa Mỹ trước sự đe dọa của chế độ độc tài. Ông MacLeish là vị quản thủ nổi rõ nhất trong lịch sử của thư viện này.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ông MacLeish cũng yêu cầu nghệ sĩ Ezra Winter trang hoàng 4 bức tường của Phòng Đọc Sách Jefferson theo các chủ đề là Tự Do, Lao Động, Giáo Dục, “thế hệ đang sống” và chính quyền Dân Chủ. Tại “phần kiến trúc dân chủ” (the democracy alcove) của Phòng Đọc Sách chính, các nhà khảo cứu thấy có trưng bày các văn bản cổ điển của truyền thống Mỹ, gồm Bản Tuyên Ngôn Độc Lập, Bản Hiến Pháp, Các Luận Văn Liên Bang và các bài viết của nhiều chính khách Hoa Kỳ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1943, Thư Viện Quốc Hội tổ chức lễ tưởng niệm 200 năm sinh của ông Thomas Jefferson. Một thư mục chú giải liệt kê các sách của thư viện riêng của ông Jefferson đã được nhà thư tịch học E.Millicent Sowerby biên soạn và phổ biến bằng 5 cuốn, xuất bản từ năm 1952 tới năm 1959, đồng thời Thư Viện Quốc Hội cũng bắt đầu thực hiện vi phim (microfilming) bộ sưu tập các văn bản của ông Thomas Jefferson. Vị quản thủ thư viện MacLeish còn tổ chức lại cách quản trị hành chánh, một việc làm hữu hiệu trong 3 thập niên, thiết lập các liên lạc giữa các văn sĩ và học giả Mỹ, tạo nên ngành tham vấn về thơ phú (consultantship in poetry) và các chương trình học bổng cho các học giả trẻ. Thư Viện Quốc Hội vào lúc này đã xác định chủ trương “sưu tập mọi hồ sơ được ghi chép của các tổ chức và nhân vật nào có các công trình mà nhân dân Hoa Kỳ quan tâm tới nhất”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt; 4/ Thư Viện Quốc Hội sau Thế Chiến II. &lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Do ông MacLeish từ chức vào năm 1944 nên năm sau, Tổng Thống Harry Truman đã bổ nhiệm vị phụ tá quản thủ là ông Luther H. Evans, một nhà khoa học chính trị. Ông Evans đã phục vụ Thư Viện Quốc Hội tới năm 1953. Vào giai đoạn này, ảnh hưởng của Thế Chiến II đã cho thấy mọi nơi trên trái đất không còn xa lạ đối với người Mỹ. Ông Evans đã diễn tả sự cần thiết của thật nhiều tài liệu nghiên cứu về các quốc gia khác, cho nên trong các năm này, đã phát triển các dịch vụ thu mua, tổng kê và thư tịch. Ông Evans cũng chủ trương rằng Thư Viện Quốc Hội phải phục vụ đắc lực các thư viện khác và các kế hoạch hợp tác để thu mua và tổng kê các tài liệu đã được thực hiện trên bình diện vùng và toàn quốc. Thư Viện Quốc Hội cũng tăng cường các hoạt động về tác quyền và tự do trí tuệ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong các đóng góp của ông Evans vào Thư Viện Quôc Hội còn có kế hoạch thư viện quốc tế và cộng tác văn hóa quốc tế. Năm 1945, cùng với giám đốc thu mua Verner W. Clapp, ông Evans tổ chức Đoàn Công Tác Thư Viện Quốc Hội tại châu Au (the Library of Congress Mission in Europe) để tìm mua các sách báo xuất bản tại châu Âu cho Thư Viện Quốc Hội và các thư viện khác, và từ đây ra đời các hợp đồng mua sách tự động (automatic book purchase agreements) cùng các giao ước trao đổi các tài liệu chính thức. Năm 1945, khi Liên Hợp Quốc bàn thảo tại San Francisco, Thư Viện Quốc Hội cũng lập nên tại thành phố đó một thư viện tham khảo để giúp đỡ các vị tham dự hội nghị. Năm 1947, Đoàn Công Tác Thư Viện Quốc Hội tại Nhật Bản đã giúp đỡ nước này thiết lập nên Thư Viện Quốc Hội Nhật (the National Diet Library). Ngoài ra ông Evans còn chủ trương hoàn trả nhiều thủ bản quan trọng về các quốc gia gốc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Người kế nghiệp ông Luther H. Evans là vị giám đốc Thư Viện Công Lập của thành phố Cleveland, ông L.Quincy Mumford, được Tổng Thống Dwight D.Eisenhower bổ nhiệm năm 1954. Ông Mumford khởi đầu kế hoạch xây dựng Tòa Nhà James Madison năm 1957 và làm phát triển thư viện trên các bình diện quốc gia và quốc tế. Năm 1958, do đạo luật Trợ Giúp và Phát Triển Mậu Dịch Nông Nghiệp năm 1954 (the Agriculture Trade Development and Assistance Act of 1954), Quốc Hội Hoa Kỳ đã cho phép Thư Viện dùng tiền của chính phủ Mỹ tại nước ngoài để mua các sách báo, nhờ đó các trung tâm thu mua được đặt đầu tiên tại 2 thành phố New Delhi và Cairo. Đạo luật giáo dục cao cấp được Tổng Thống Lyndon B.Johnson phê chuẩn năm 1965, đã giúp cho Thư Viện Quốc Hội có được các tài liệu giá trị xuất bản trên khắp thế giới, lập nên các thông tin tổng kê (cataloging information) dùng cho mọi tài liệu, và cố gắng mới của Thư Viện Quốc Hội là chương trình quốc gia thu mua và tổng kê NPAC (the National Program for Acquisitions and Cataloging). Văn phòng NPAC đầu tiên được mở của tại thành phố London năm 1966 rồi từ đó, Thư Viện Quốc Hội đã có 6 văn phòng hải ngoại, liên lạc với các nhà sách lớn và các thư viện trên toàn thế giới.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Do việc thiết lập tổng kê cho một số lượng khổng lồ các sách báo, cần phải có các tiêu chuẩn thư tịch (bibliographic standards) nên vào giữa thập niên 1960, Thư Viện Quốc Hội đã tạo ra được một hình thức đọc các dữ kiện bằng máy, gọi là hệ thống MARC ( Machine Readable Cataloging = đọc tổng kê bằng máy). Cấu trúc về khuôn thức MARC đã trở nên một tiêu chuẩn quốc gia chính thức vào năm 1971 và một tiêu chuẩn quốc tế vào năm 1973. Năm 1967, Thư Viện Quốc Hội còn khởi đầu một công trình nghiên cứu kỹ thuật, bảo quản sách báo in trên loại giấy có acít. Ngày nay, Sở Bảo Dụng (Preservation Office) của Thư Viện Quốc Hội đang thực hiện công trình nghiên cứu lớn lao nhất về cách bảo quản các tài liệu quý giá.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Kể từ năm 1901, Thư Viện Quốc Hội đã giữ vai trò lãnh đạo trong cộng đồng thư viện Hoa Kỳ, ngoài công việc yểm trợ các nhu cầu tham khảo và nghiên cứu của ngành Lập Pháp Mỹ. Cả hai chức năng vừa đóng góp cho Lập Pháp, vừa mang tính quốc gia của Thư Viện Quốc Hội đã bị tranh luận vào thời kỳ nhậm chức của ông Mumford, và vị quản thủ thư viện này đã bảo vệ mạnh mẽ vị trí của Thư Viện Quốc Hội trong ngành Lập Pháp. Đạo luật Tái Tổ Chức Lập Pháp năm 1970 (the Legislative Reorganization Act of 1970) đã đổi tên Sở Dịch Vụ Tham Khảo Lập Pháp (the Legislative Reference Service) thành Sở Dịch Vụ nghiên Cứu thuộc Quốc Hội (the Congressional Research Service), làm bành trướng các chức năng của cơ quan này, chú trọng vào việc nghiên cứu và phân tích các chính sách, phục vụ các cá nhân nghị viên Quốc Hội cũng như các ủy ban thuộc Quốc Hội Hoa Kỳ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1974, ông L. Quincy Mumford về hưu, thay thế là nhà sử học Daniel J. Boorstin, được Tổng Thống Gerald R. Ford chỉ định. Ông Boorstin đã từng làm giám đốc của Viện Bảo Tàng Lịch Sử Hoa Kỳ (the National Museum of American History), được Thượng Viện chấp thuận,ø đã tuyên thệ nhậm chức tại Đại Sảnh của Thư Viện Quốc Hội vào ngày 12-11-1975 và trở nên vị quản thủ thư viện thứ 12. Ngay sau khi nhận chức vụ, ông Boorstin đã phải giải quyết hai vấn đề lớn lao, đó là nhu cầu xét lại cách tổ chức và các chức năng của thư viện và việc bành trướng diện tích cho các nhân viên và các bộ sưu tập. Rồi việc di chuyển vào Tòa Nhà James Madison được bắt đầu năm 1980 và hoàn tất năm 1982, đã giúp cho ông Boorstin thảnh thơi, củng cố các liên lạc với Quốc Hội và phát triển các liên hệ mới với các thư viện khác, các học giả, tác giả, nhà xuất bản, các vị lãnh đạo văn hóa và cộng đồng thương mại. Cũng trong thời kỳ quản trị của ông Boorstin, ngân khoản hàng năm của Thư Viện Quốc Hội từ 116 triệu Mỹ kim vào năm 1975, đã tăng lên thành 250 triệu Mỹ kim vào năm 1987, mặc dù bị nhiều giới hạn nặng nề vào các năm 1985 và 1986. Vào giai đoạn này, ông Boorstin đã dùng tới một đội ngũ các chuyên viên về các phạm vi kỹ thuật như tổng kê (cataloging) , tự động hóa và bảo dụng (preservation) , ngoài ra ông còn chú tâm tới việc phát triển sưu tập (collection) , tác quyền, vai trò của Thư Viện Quốc Hội trong đời sống Mỹ và cố gắng chuyển biến Thư Viện Quốc Hội thành “Bộ Bách Khoa Từ Điển đa phương tiện lớn nhất Thế Giới” (the world’s greatest Multi-Media Encyclopedia) .&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Người kế nghiệp ông Daniel J. Boorstin là nhà sử học James H. Billington, được Tổng Thống Ronald Reagan bổ nhiệm và đã tuyên thệ nhậm chức vào ngày 14-9-1987, trở thành vị quản thủ thư viện thứ 13. Ông Billington bắt đầu ngay việc thành lập Uûy Bản Quản Trị và Kế Hoạch MAP (the Management and Planning Committee) với các diễn đàn địa phương thuộc 9 thành phố. Kết quả là Thư Viện Quốc Hội đã chia xẻ các nguồn tài liệu trong khắp đất nước, thiết lập nhiều dự án liên quan tới các kỹ thuật mới để nới rộng cách truy cập (accesss) trực tiếp từ các thư viện khác và từ các cơ sở giáo dục. Dự án truy cập tại tuyến (on-line access) dẫn từ Thư Viện Quốc Hội tới các thư viện thuộc 50 tiểu bang đã được bắt đầu năm 1991. Ông Billington còn thiết lập nên Sở Giáo Dục đầu tiên (the first Educational Office) của Thư Viện Quốc Hội để tăng cường các chương trình văn hóa, và các chương trình quảng bá dịch vụ thư viện đã dẫn tới việc thành lập Sở Phát Triển (the Development Office) vào năm 1988.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1990, Hội Đồng James Madison được thành lập. Đây là một ủy ban yểm trợ thuộc khu vực tư, gồm các thương gia và quản trị gia uy tín. Ông Billington cũng vận động cho ngân quỹ của Thư Viện Quốc Hội được tăng 12 phần trăm và thư viện này cũng giúp đỡ các thư viện của các nước mới dân chủ thuộc khối Đông Âu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong báo cáo về tài khóa năm 1993, ông Billington đã trình bày rằng Thư Viện Quốc Hội đang trở nên một chất xúc tác quan trọng cho các nhu cầu về giáo dục, cạnh tranh và sáng tạo của quốc gia. Cuộc thảo luận cũng đề cập tới thời đại thông tin và nhu cầu dùng kỹ thuật điện tử mới. Theo ông Billington, kỹ thuật mới này đã giúp cho Thư Viện Quốc Hội có thể cung cấp kiến thức dễ dàng cho mọi người dân Hoa Kỳ qua các trường học, đại học, thư viện và các tổ chức nghiên cứu tư nhân, và Thư Viện Quốc Hội đang cố gắng trở thành một “Đại Học Quốc Gia Điện Tử mới lạ” (a new Electronic National University).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thư Viện Quốc Hội đang theo đuổi một tham vọng, đó là đặc tính toàn cầu, thu thập mọi ấn bản thuộc mọi phương tiện, đáp ứng niềm tin của ông Thomas Jefferson, đó là “Nền Dân Chủ lệ thuộc vào Kiến Thức”.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/p&gt;&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/p&gt;&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/p&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4128474229374807245-6229683515563196267?l=thoisukynguyen2000.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</description><link>http://thoisukynguyen2000.blogspot.com/2009/07/thu-vien-quoc-hoi-hoa-ky-pham-van-tuan.html</link><author>noreply@blogger.com (Thoi Su Ky Nguyen 2000)</author><thr:total xmlns:thr='http://purl.org/syndication/thread/1.0'>0</thr:total></item><item><guid isPermaLink='false'>tag:blogger.com,1999:blog-4128474229374807245.post-2352507366049558061</guid><pubDate>Fri, 03 Jul 2009 14:58:00 +0000</pubDate><atom:updated>2009-07-03T08:19:36.746-07:00</atom:updated><category domain='http://www.blogger.com/atom/ns#'>Vài Nơi Danh Tiếng của Thủ Đô Washington-Phạm Văn Tuấn</category><title>Vài Nơi Danh Tiếng của Thủ Đô Washington-Phạm Văn Tuấn</title><description>&lt;div&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style=" ;color:red;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span"  style="font-size:x-large;"&gt;Vài Nơi Danh Tiếng của Thủ Đô Washington&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;span class="Apple-style-span"  style="color:#FF0000;"&gt;&lt;b&gt;&lt;span class="Apple-style-span"  style="font-size:large;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;b&gt;&lt;span style=" color: rgb(0, 112, 192);"&gt;&lt;span class="Apple-style-span"  style="font-size:large;"&gt;Phạm Văn Tuấn.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;span class="Apple-style-span"   style="font-size:180%;color:#0070C0;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span"  style="font-size:18px;"&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;span&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style=" ;font-size:13.5pt;color:red;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span"   style="font-size:180%;color:#0070C0;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span"  style="font-size:18px;"&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style=" ;font-size:13.5pt;color:red;"&gt;&lt;a href="http://images.google.com/imgres?imgurl=http://www.papertoys.com/images/capitol-3.gif&amp;amp;imgrefurl=http://www.papertoys.com/capitol.htm&amp;amp;usg=__l2279mTpuVRXnYsdIRITQz43XLU=&amp;amp;h=612&amp;amp;w=792&amp;amp;sz=52&amp;amp;hl=en&amp;amp;start=9&amp;amp;um=1&amp;amp;tbnid=ZB5hflDN3GuIxM:&amp;amp;tbnh=111&amp;amp;tbnw=143&amp;amp;prev=/images%3Fq%3DCapitol%26hl%3Den%26client%3Dfirefox-a%26rls%3Dorg.mozilla:en-US:official%26sa%3DN%26um%3D1"&gt;&lt;img style="border: 1px solid ;" src="http://tbn1.google.com/images?q=tbn:ZB5hflDN3GuIxM:http://www.papertoys.com/images/capitol-3.gif" width="143" height="111" /&gt;&lt;/a&gt;  &lt;a href="http://images.google.com/imgres?imgurl=http://library.thinkquest.org/CR0212420/capitol.gif&amp;amp;imgrefurl=http://library.thinkquest.org/CR0212420/capit.htm&amp;amp;usg=__Le2BxtL9cTmc9jRoLEDKVfpbD2s=&amp;amp;h=300&amp;amp;w=480&amp;amp;sz=43&amp;amp;hl=en&amp;amp;start=21&amp;amp;um=1&amp;amp;tbnid=tV77f7xaOhbJbM:&amp;amp;tbnh=81&amp;amp;tbnw=129&amp;amp;prev=/images%3Fq%3DCapitol%26ndsp%3D20%26hl%3Den%26client%3Dfirefox-a%26rls%3Dorg.mozilla:en-US:official%26sa%3DN%26start%3D20%26um%3D1"&gt;&lt;img style="border: 1px solid ;" src="http://tbn3.google.com/images?q=tbn:tV77f7xaOhbJbM:http://library.thinkquest.org/CR0212420/capitol.gif" width="129" height="81" /&gt;&lt;/a&gt; &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;span style=" ;font-size:13.5pt;color:red;"&gt; &lt;a href="http://images.google.com/imgres?imgurl=http://illuminatimatrix.files.wordpress.com/2007/01/owl-capitol-close.gif&amp;amp;imgrefurl=http://illuminatimatrix.wordpress.com/6-origin-of-number-systems/&amp;amp;usg=__aOhD5Lu-t2B2sN9-CjgU6EsqXxk=&amp;amp;h=699&amp;amp;w=504&amp;amp;sz=204&amp;amp;hl=en&amp;amp;start=60&amp;amp;um=1&amp;amp;tbnid=EElCrTbAb_cK0M:&amp;amp;tbnh=139&amp;amp;tbnw=100&amp;amp;prev=/images%3Fq%3DCapitol%26ndsp%3D20%26hl%3Den%26client%3Dfirefox-a%26rls%3Dorg.mozilla:en-US:official%26sa%3DN%26start%3D40%26um%3D1"&gt;&lt;img style="border: 1px solid ;" src="http://tbn2.google.com/images?q=tbn:EElCrTbAb_cK0M:http://illuminatimatrix.files.wordpress.com/2007/01/owl-capitol-close.gif" width="100" height="139" /&gt;&lt;/a&gt;   &lt;a href="http://images.google.com/imgres?imgurl=http://www.visitingdc.com/images/capitol-building-address.jpg&amp;amp;imgrefurl=http://www.visitingdc.com/capitol/capitol-building-address.htm&amp;amp;usg=__WEaIXUTvvGWv2oxJYICvMKjuL6I=&amp;amp;h=432&amp;amp;w=625&amp;amp;sz=191&amp;amp;hl=en&amp;amp;start=5&amp;amp;um=1&amp;amp;tbnid=QCvzatsWvr7X6M:&amp;amp;tbnh=94&amp;amp;tbnw=136&amp;amp;prev=/images%3Fq%3DCapitol%26hl%3Den%26client%3Dfirefox-a%26rls%3Dorg.mozilla:en-US:official%26sa%3DN%26um%3D1"&gt;&lt;img style="border: 1px solid ;" src="http://tbn3.google.com/images?q=tbn:QCvzatsWvr7X6M:http://www.visitingdc.com/images/capitol-building-address.jpg" width="136" height="94" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;span class="Apple-style-span"   style="font-size:7;color:#FF0000;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span"  style="font-size:48px;"&gt;&lt;a href="http://images.google.com/imgres?imgurl=http://www.flykending.dk/tema/museer/nasm/capitol1.JPG&amp;amp;imgrefurl=http://mesopotamianmarine.blogspot.com/2007_06_01_archive.html&amp;amp;usg=__yt4jhzDtSv37s0l-9WRVt2C7DjU=&amp;amp;h=600&amp;amp;w=800&amp;amp;sz=82&amp;amp;hl=en&amp;amp;start=1&amp;amp;um=1&amp;amp;tbnid=KZJBTN-WIqWU7M:&amp;amp;tbnh=107&amp;amp;tbnw=143&amp;amp;prev=/images%3Fq%3DCapitol%26hl%3Den%26client%3Dfirefox-a%26rls%3Dorg.mozilla:en-US:official%26sa%3DN%26um%3D1"&gt;&lt;img style="border: 1px solid ;" src="http://tbn1.google.com/images?q=tbn:KZJBTN-WIqWU7M:http://www.flykending.dk/tema/museer/nasm/capitol1.JPG" width="143" height="107" /&gt;&lt;/a&gt;  &lt;span class="Apple-style-span"  style="color: rgb(0, 0, 0);  font-size:16px;"&gt;&lt;a href="http://images.google.com/imgres?imgurl=http://www.doa.state.wi.us/dsf/images/capitol_cleaned_w450.jpg&amp;amp;imgrefurl=http://www.doa.state.wi.us/subcategory_print.asp%3Flinksubcatid%3D326%26linkcatid%3D%26linkid%3D%26locid%3D4&amp;amp;usg=__QNjJ054uiLL2MLB4_rS0Y3ZyE7Q=&amp;amp;h=323&amp;amp;w=430&amp;amp;sz=43&amp;amp;hl=en&amp;amp;start=2&amp;amp;um=1&amp;amp;tbnid=cu7OPoPSOk8ETM:&amp;amp;tbnh=95&amp;amp;tbnw=126&amp;amp;prev=/images%3Fq%3DCapitol%26hl%3Den%26client%3Dfirefox-a%26rls%3Dorg.mozilla:en-US:official%26sa%3DN%26um%3D1"&gt;&lt;img style="border: 1px solid ;" src="http://tbn2.google.com/images?q=tbn:cu7OPoPSOk8ETM:http://www.doa.state.wi.us/dsf/images/capitol_cleaned_w450.jpg" width="126" height="95" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;span style=" ;font-size:13.5pt;color:black;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span"  style="color:#FF0000;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="color:black;"&gt;1/ Địa điểm Thủ Đô và Điện Capitol.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="color:black;"&gt;Sau khi 13 xứ thuộc địa tại miền Tân Anh Cát Lợi tuyên bố độc lập khỏi Đế Quốc Anh vào năm 1776, các nhà lập quốc Hoa Kỳ đã đồng ý về một bản Hiến Pháp và đã nghĩ tới một thủ đô cố định. Vào thời kỳ ban đầu, thủ đô của Hoa Kỳ đã phải di chuyển tùy theo tình hình chiến sự, từ thành phố Philadelphia tới các thành phố Baltimore, trở lại Philadelphia, tới Lancaster, York, trở lại Philadelphia, rồi Princeton, Annapolis, Trenton và New York trước khi quay trở về Philadelphia vào năm 1790.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Việc tìm kiếm một địa điểm xây dựng thủ đô mới đã nằm trong đầu óc của viên kiến trúc sư trẻ gốc Pháp Pierre L’Enfant và ông này đã chọn lựa một miền đất hình vuông, rộng mỗi chiều 10 dặm. Vào năm 1791, khu vực thuộc quyền liên bang này còn là một vùng định cư thưa thớt, được cắt ra từ hai tiểu bang Maryland và Virgina. Ông Pierre L’Enfant đã ấn định rằng trên ngọn đồi Jenkin, một địa điểm cao nhất, sẽ là nơi đặt Tòa Nhà Quốc Hội Capitol của quốc gia trẻ Hoa Kỳ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khu vực thủ đô được chọn lựa thuộc vùng đất của con sông Potomac, không xa với ngọn đồi Vernon là nơi cư ngụ của vị Thổng Thống đầu tiên Washington. Ông Washington thường tới các khu định cư Alexandria và Georgetown thuộc vùng đất này và đã coi giòng sông Potomac là cửa ngõ của một quốc gia lục địa, mở ra để phát triển về hướng tây.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Quốc Hội Hoa Kỳ khi đó đã đồng ý về địa điểm xây dựng với tên gọi là Thành Phố Washington trong Khu Vực Columbia (the City of Washington in the District of Columbia) để ghi nhớ công lao của vị Tổng Thống đầu tiên trong việc tạo dựng ra một quốc gia mới. Sau đó Tổng Thống Washington đã chỉ định 3 vị giám đốc công trình (commissioners) và các vị này vào năm 1792 đã phổ biến một kỳ thi vẽ kiểu Tòa Nhà Quốc Hội nằm trên ngọn đồi Jenkin. Người trúng giải trong dịp này là Bác Sĩ William Thornton, một y sĩ trước kia phục vụ tại vùng Tây Ấn thuộc Anh (the British West Indies). Bác Sĩ Thornton đã tìm cách thực hiện ý tưởng của ông Washington, đó là “Lớn Lao, Đơn Giản và Tiện Lợi”, áp dụng vào công trình xây dựng với tòa nhà có mái vòm (domed design). Chính Tổng Thống Washington đã đặt viên đá đầu tiên vào ngày 18 tháng 9 năm 1793 nhưng ông đã rời chức vụ Tổng Thống vào năm 1797 và qua đời 2 năm sau.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau 7 năm xây dựng cực nhọc, phần phía bắc (north wing) được làm xong để Quốc Hội dọn vô vào tháng 11 năm 1800. Nhân vật đầu tiên đọc bài diễn văn trước Lưỡng Viện Quốc Hội vào ngày 22/11/1800 là Tổng Thống John Adams. Sau đó 7 năm, Hạ Viện chiếm phần phía nam (south wing) của tòa nhà trước khi Điện Capitol này bị quân đội Anh phóng hỏa vào ngày 24/8/1814. Nhờ một trận bão lớn, tòa nhà này không bị tiêu hủy hoàn toàn và sau đó, công trình được sửa chữa và xây dựng trong hơn 5 năm do vị kiến trúc sư thứ hai là ông Benjamin Henry Latrobe.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong thập niên 1820, trong khi kiến trúc sư thứ ba Charles Bulfinch làm xong tòa nhà Quốc Hội với mái vòm bọc đồng bên ngoài thì quốc gia Hoa Kỳ từ 13 tiểu bang đã tăng lên 24 tiểu bang vào năm 1829. Trong 2 thập niên kế tiếp, 7 tiểu bang được sát nhập thêm. Vào năm 1800, Hạ Viện Hoa Kỳ có 106 dân biểu nhưng qua năm 1850, số dân biểu lên tới 230 vị. Điện Capitol càng trở nên chật hẹp nên hai phần nữa được xây dựng thêm, ngay cả vào thời gian Hoa Kỳ bị cuộc nội chiến tàn phá. Cũng vào lúc này, mái vòm lớn bằng sắt đúc do ông Thomas U. Walter vẽ kiểu, được làm xong và bức tượng Tự Do (the Statue of Freedom) được đặt lên trên mái vòng vào ngày 02/12/1863.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Điện Capitol là biểu tượng sáng ngời của các nguyên tắc lập quốc Hoa Kỳ, là nơi Quốc Hội đại diện toàn dân trong công trình xây dựng đất nước, trong một hoàn cảnh phát triển mà chính vị kiến trúc sư Pierre L’Enfant trước kia chưa hề nghĩ đến.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;a href="http://images.google.com/imgres?imgurl=http://www.morallaw.org/images/Capstone%2520of%2520Washington%2520Monument.jpg&amp;amp;imgrefurl=http://churchnstate.blogspot.com/2007/10/national-park-services-hiding-godly.html&amp;amp;usg=__W8cVSiZ3Cl7opwBLTT2LWuNSAck=&amp;amp;h=420&amp;amp;w=339&amp;amp;sz=17&amp;amp;hl=en&amp;amp;start=18&amp;amp;um=1&amp;amp;tbnid=JRmzEX1MaXCDNM:&amp;amp;tbnh=125&amp;amp;tbnw=101&amp;amp;prev=/images%3Fq%3DWashington%2BMonument%26hl%3Den%26client%3Dfirefox-a%26rls%3Dorg.mozilla:en-US:official%26sa%3DN%26um%3D1"&gt;&lt;img style="border: 1px solid ;" src="http://tbn3.google.com/images?q=tbn:JRmzEX1MaXCDNM:http://www.morallaw.org/images/Capstone%2520of%2520Washington%2520Monument.jpg" width="101" height="125" /&gt;&lt;/a&gt;       &lt;a href="http://images.google.com/imgres?imgurl=http://www.thedctraveler.com/wp-content/uploads/2007/09/the-washington-monument.jpg&amp;amp;imgrefurl=http://www.thedctraveler.com/category/lunch-hour-fun/page/2/&amp;amp;usg=__EUvsTR2qGlCMNr60EzESD3yTGsc=&amp;amp;h=480&amp;amp;w=359&amp;amp;sz=28&amp;amp;hl=en&amp;amp;start=17&amp;amp;um=1&amp;amp;tbnid=WMlFtrDu9JhYCM:&amp;amp;tbnh=129&amp;amp;tbnw=96&amp;amp;prev=/images%3Fq%3DWashington%2BMonument%26hl%3Den%26client%3Dfirefox-a%26rls%3Dorg.mozilla:en-US:official%26sa%3DN%26um%3D1"&gt;&lt;img style="border: 1px solid ;" src="http://tbn1.google.com/images?q=tbn:WMlFtrDu9JhYCM:http://www.thedctraveler.com/wp-content/uploads/2007/09/the-washington-monument.jpg" width="96" height="129" /&gt;&lt;/a&gt;     &lt;a href="http://images.google.com/imgres?imgurl=http://www.american-architecture.info/USA/USA-Washington/Washington-Monument-1885.png&amp;amp;imgrefurl=http://www.american-architecture.info/USA/USA-Washington/DC-007.htm&amp;amp;usg=__K6Xt-g5Yx4BW5Ck6Li1M_KsN0Ao=&amp;amp;h=599&amp;amp;w=440&amp;amp;sz=112&amp;amp;hl=en&amp;amp;start=14&amp;amp;um=1&amp;amp;tbnid=Ld5dkB2F06i_YM:&amp;amp;tbnh=135&amp;amp;tbnw=99&amp;amp;prev=/images%3Fq%3DWashington%2BMonument%26hl%3Den%26client%3Dfirefox-a%26rls%3Dorg.mozilla:en-US:official%26sa%3DN%26um%3D1"&gt;&lt;img style="border: 1px solid ;" src="http://tbn1.google.com/images?q=tbn:Ld5dkB2F06i_YM:http://www.american-architecture.info/USA/USA-Washington/Washington-Monument-1885.png" width="99" height="135" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;span style="color:black;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;2/ Đài Kỷ Niệm Tổng Thống Washington (Washington Monument).&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;Địa điểm: trên đường Constitution, giữa đường 15 và đường 17.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trạm xe điện ngầm: Smithsonian.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Giờ mở cửa: tháng 4 tới tháng 8: từ 8 giờ sáng tới nửa đêm, tháng 9 tới tháng 5: từ 9 giờ sáng tới 5 giờ chiều. Vào cửa miễn phí.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ý tưởng kỷ niệm Tổng Thống George Washington đã bắt đầu 16 năm trước khi ông Washington qua đời, vào thời Quốc Hội Lục Địa của năm 1783, nhưng Quốc Hội này còn gặp nhiều khó khăn, ngân quỹ không có, nên tới năm 1830 khi gần tới ngày sinh của ông Washington, các hoạt động mới được trù liệu. Đầu tiên, một ngôi mộ của Tổng Thống Washington được xây dựng dưới vòm cao của Điện Capitol dùng để lưu trữ di cốt của vị khai quốc, nhưng người cháu của ông Washington viện dẫn di chúc, đã từ chối cho phép di chuyển di cốt từ Mount Vernon.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tới năm 1830, ông Horatio Greenough được giao phó trọng trách tạo nên một bức tượng của Tổng Thống Washington để đặt dưới vòm cao của Điện Capitol, nhưng bức tượng nửa người này, khoác áo giống như tượng Hy Lạp, đã bị nhiều người phản đối là giống như một nhân vật bước ra từ trong phòng tắm, vì vậy bức tượng này được đặt trong Viện Smithsonian.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cuối cùng vào năm 1833, các cư dân giàu có của miền Washington đã lập nên Hội Đài Kỷ Niệm Quốc Gia Washington (the Washington National Monument Society), một tổ chức tư nhân, để thiết lập một đài kỷ niệm. Hội này đã chấp nhận kiểu mẫu của Kiến Trúc Sư Robert Mills có phần tháp bút obelisk của Ai Cập và phần nền là một ngôi đền 30 cột. Về sau kiểu mẫu này đã bị thay đổi và không còn các cột đứng nữa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Việc xây dựng bắt đầu vào ngày 4 tháng 7 năm 1848 nhưng chẳng bao lâu ngân quỹ cạn tiền. Hội bèn kêu gọi sự tham gia của các nơi khác. Hơn 100 quốc gia, tiểu bang, thành phố và tư nhân đã yểm trợ công cuộc xây dựng. Tiểu bang Alabama vào thời kỳ này không có tiền, nên đã đóng góp đá hoa. Tới thời kỳ Nội Chiến Nam Bắc Mỹ, công việc kiến thiết bị ngừng lại cho tới năm 1876, Tổng Thống Grant đã chấp nhận dùng ngân quỹ Liên Bang để hoàn thành công trình.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đài Kỷ Niệm Tổng Thống Washington là một kiến trúc khổng lồ, hình cây tháp bút, cao 555 feet (169 mét), nặng 90,845 tấn, có đáy hình vuông mỗi cạnh 17 mét (55 feet), tháp nhọn dần lên trên tới chỗ cao nhất có cạnh 10 mét (35 feet) và phần chóp là một kim tự tháp bằng nhôm. Bên trong đài kỷ niệm được lát bằng đá hoa của hai tiểu bang Maryland và Massachusetts. Khi từ bên ngoài bước vào phòng đợi của Đài Kỷ Niệm, du khách sẽ gặp bức tượng sao chép bằng đồng từ tác phẩm của nhà điêu khắc người Pháp Jean Antoine Houdon. Du khách có thể dùng thang máy đi lên đỉnh tháp trong 70 giây, hoặc đi bằng cầu thang 897 bậc, nếu theo cách sau này, du khách sẽ nhìn thấy 192 tảng đá kỷ niệm quà tặng từ các quốc gia, tiểu bang, các tổ chức và tư nhân. Qua các cửa sổ mở ra trên ngọn tháp, du khách nhìn thấy Đài Tưởng Niệm Tổng Thống Lincoln, Tòa Bạch Cung, Đài Tưởng Niệm Tổng Thống Jefferson và Điện Capitol.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đài Kỷ Niệm Tổng Thống Washington được khánh thành vào ngày 21 tháng 2 năm 1885 và ba năm sau mở cửa đón dân chúng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;   &lt;a href="http://images.google.com/imgres?imgurl=http://www.phys.ufl.edu/%7Etschoy/photos/CherryBlossom/Lincoln_Memorial.jpg&amp;amp;imgrefurl=http://www.phys.ufl.edu/%7Etschoy/photos/CherryBlossom/CherryBlossom.html&amp;amp;usg=__lB0QBdu8_uLtk3uoAaYMWArBOsc=&amp;amp;h=544&amp;amp;w=837&amp;amp;sz=138&amp;amp;hl=en&amp;amp;start=9&amp;amp;um=1&amp;amp;tbnid=hZRCHbVDI25QpM:&amp;amp;tbnh=94&amp;amp;tbnw=144&amp;amp;prev=/images%3Fq%3DLincoln%2BMemorial%26hl%3Den%26client%3Dfirefox-a%26rls%3Dorg.mozilla:en-US:official%26sa%3DN%26um%3D1"&gt;&lt;img style="border: 1px solid ;" src="http://tbn2.google.com/images?q=tbn:hZRCHbVDI25QpM:http://www.phys.ufl.edu/%7Etschoy/photos/CherryBlossom/Lincoln_Memorial.jpg" width="144" height="94" /&gt;&lt;/a&gt;     &lt;a href="http://images.google.com/imgres?imgurl=http://classicist.blogs.com/weblog/images/Lincoln_Memorial.jpg&amp;amp;imgrefurl=http://classicist.blogs.com/weblog/2007/03/index.html&amp;amp;usg=__Z2Y099-RDNFsvLUEVTK17MXmZ8E=&amp;amp;h=476&amp;amp;w=525&amp;amp;sz=61&amp;amp;hl=en&amp;amp;start=8&amp;amp;um=1&amp;amp;tbnid=aYYpn19-kwKNZM:&amp;amp;tbnh=120&amp;amp;tbnw=132&amp;amp;prev=/images%3Fq%3DLincoln%2BMemorial%26hl%3Den%26client%3Dfirefox-a%26rls%3Dorg.mozilla:en-US:official%26sa%3DN%26um%3D1"&gt;&lt;img style="border: 1px solid ;" src="http://tbn1.google.com/images?q=tbn:aYYpn19-kwKNZM:http://classicist.blogs.com/weblog/images/Lincoln_Memorial.jpg" width="132" height="120" /&gt;&lt;/a&gt;   &lt;/div&gt;&lt;div&gt;  &lt;a href="http://images.google.com/imgres?imgurl=http://farm1.static.flickr.com/48/253969702_9074a2e579.jpg&amp;amp;imgrefurl=http://www.flickr.com/photos/chadh-flickr/253969702/&amp;amp;usg=__WAesKCSFshaqUGMOudnAWF2e1QA=&amp;amp;h=500&amp;amp;w=500&amp;amp;sz=90&amp;amp;hl=en&amp;amp;start=28&amp;amp;um=1&amp;amp;tbnid=PBMLjxeueS9YHM:&amp;amp;tbnh=130&amp;amp;tbnw=130&amp;amp;prev=/images%3Fq%3DLincoln%2BMemorial%26ndsp%3D20%26hl%3Den%26client%3Dfirefox-a%26rls%3Dorg.mozilla:en-US:official%26sa%3DN%26start%3D20%26um%3D1"&gt;&lt;img style="border: 1px solid ;" src="http://tbn3.google.com/images?q=tbn:PBMLjxeueS9YHM:http://farm1.static.flickr.com/48/253969702_9074a2e579.jpg" width="130" height="130" /&gt;&lt;/a&gt;    &lt;a href="http://images.google.com/imgres?imgurl=http://www.essential-architecture.com/A-AMERICA-N/USA/USA-Washington/800px-Lincoln_Memorial_overhead.jpg&amp;amp;imgrefurl=http://www.essential-architecture.com/A-AMERICA-N/USA/USA-Washington/DC-005.htm&amp;amp;usg=__bEgFCZ_4bePDqL6AtLAaHNzxebg=&amp;amp;h=521&amp;amp;w=800&amp;amp;sz=130&amp;amp;hl=en&amp;amp;start=46&amp;amp;um=1&amp;amp;tbnid=DSy2oBSqblPAdM:&amp;amp;tbnh=93&amp;amp;tbnw=143&amp;amp;prev=/images%3Fq%3DLincoln%2BMemorial%26ndsp%3D20%26hl%3Den%26client%3Dfirefox-a%26rls%3Dorg.mozilla:en-US:official%26sa%3DN%26start%3D40%26um%3D1"&gt;&lt;img style="border: 1px solid ;" src="http://tbn2.google.com/images?q=tbn:DSy2oBSqblPAdM:http://www.essential-architecture.com/A-AMERICA-N/USA/USA-Washington/800px-Lincoln_Memorial_overhead.jpg" width="143" height="93" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;span style="color:black;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;3/ Đài Tưởng Niệm Tổng Thống Lincoln (Lincoln Memorial).&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;Địa điểm: trên đường Constitution và góc đường 23. Vào cửa tự do.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trạm xe điện ngầm: Foggy Bottom.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau khi Tổng Thống Lincoln bị ám sát vào năm 1865, dân chúng Hoa Kỳ đòi hỏi phải tạo dựng một đài tưởng niệm nhưng họ đã phải chờ đợi tới 50 năm. Đài Tưởng Niệm Tổng Thống Lincoln được vẽ kiểu vào năm 1912 do Kiến Trúc Sư người Mỹ Henry Bacon, theo mẫu của Điện Parthenon của Hy Lạp, gồm 36 cột kiểu Doric, mỗi cột cao 44 feet (13 mét), 36 cột này tượng trưng cho con số tiểu bang Hoa Kỳ vào lúc ông Lincoln qua đời.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đài Tưởng Niệm này rộng 43 hectares (107 acres), tọa lạc trong công viên Potomac, nằm về phía đông của giòng sông Potomac, được bắt đầu xây dựng vào năm 1914 và khánh thành vào ngày 12 tháng 5 năm 1922, nhân ngày sinh của Tổng Thống Lincoln. Người con trai sống còn duy nhất của ông Lincoln là Robert Todd Lincoln, đã được mời làm khách danh dự trong buổi lễ kể trên. Tại Đài Tưởng Niệm, tên của 48 tiểu bang được khắc chung quanh trên phần tường gần mái (the frieze) rồi về sau, bảng đồng của 2 tiểu bang Alaska và Hawaii được gắn thêm vào phần trước của Đài Tưởng Niệm.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bức Tượng Tổng Thống Lincoln ngồi, cao 19 feet (5.8 mét), nhìn ra bên ngoài, là do nhà điêu khắc Daniel Chester French tạc từ 28 khối đá hoa trắng ghép lại thật sát khiến cho du khách không thể nhận ra chỗ nối. Trên tường của đài tưởng niệm có khắc Bài Diễn Văn Gettysburg và Bài Diễn Văn Nhậm Chức lần thứ hai của Tổng Thống Lincoln.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đài Tưởng Niệm Tổng Thống Lincoln đã từng là địa điểm của nhiều biến cố lịch sử. Vào năm 1939, danh ca người Mỹ da đen Marian Anderson đã trình diễn tại đây khi bị Hội Các Người Con Gái của Cách Mạng Hoa Kỳ (The Daughters of The American Revolution) vận động việc khước từ biểu diễn trong Đại Sảnh Quốc Hội (the Constitution Hall). Tới năm 1963 trong cuộc vận động Dân Quyền tại Thủ Đô D.C., Mục Sư Martin Luther King Jr. đã đọc bài diễn văn lừng danh “Tôi có một Giấc Mơ” trên nền của Đài Tưởng Niệm này.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;span style="color:black;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://www.google.com/imgres?imgurl=http://www.visitingdc.com/images/jefferson-memorial-picture.jpg&amp;amp;imgrefurl=http://www.visitingdc.com/memorial/jefferson-memorial-picture.htm&amp;amp;h=501&amp;amp;w=780&amp;amp;sz=143&amp;amp;tbnid=t9Kl31VK_w-5SM:&amp;amp;tbnh=91&amp;amp;tbnw=142&amp;amp;prev=/images%3Fq%3DJefferson%2BMemorial&amp;amp;usg=__0jP4PY-Nzh2P9cuWiAeHb-3mY-I=&amp;amp;ei=cx5OSpq2JZSMMsbBjO4D&amp;amp;sa=X&amp;amp;oi=image_result&amp;amp;resnum=1&amp;amp;ct=image"&gt;&lt;img src="http://www.google.com/images?q=tbn:t9Kl31VK_w-5SM::www.visitingdc.com/images/jefferson-memorial-picture.jpg" alt="http://www.visitingdc.com/memorial/jefferson-memorial-picture.htm" title="http://www.visitingdc.com/memorial/jefferson-memorial-picture.htm" style="margin: 3px;" align="middle" border="1" width="142" height="91" /&gt;&lt;/a&gt;            &lt;a href="http://images.google.com/imgres?imgurl=http://film.dc.gov/film/lib/film/jeffersonmemorial2.jpg&amp;amp;imgrefurl=http://film.dc.gov/film/cwp/view.asp%3FA%3D3%26Q%3D613749%26filmNav%3D%257C30703%257C&amp;amp;usg=__U5wkCtlYZaVcGSfv_EMJ9Snx0I0=&amp;amp;h=335&amp;amp;w=432&amp;amp;sz=194&amp;amp;hl=en&amp;amp;start=21&amp;amp;um=1&amp;amp;tbnid=zQzZiRNy-V3_qM:&amp;amp;tbnh=98&amp;amp;tbnw=126&amp;amp;prev=/images%3Fq%3DJefferson%2BMemorial%26ndsp%3D20%26hl%3Den%26client%3Dfirefox-a%26rls%3Dorg.mozilla:en-US:official%26sa%3DN%26start%3D20%26um%3D1"&gt;&lt;img style="border: 1px solid ;" src="http://tbn1.google.com/images?q=tbn:zQzZiRNy-V3_qM:http://film.dc.gov/film/lib/film/jeffersonmemorial2.jpg" width="126" height="98" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;span style="color:black;"&gt;&lt;a href="http://www.google.com/imgres?imgurl=http://www.visitingdc.com/images/jefferson-memorial-picture.jpg&amp;amp;imgrefurl=http://www.visitingdc.com/memorial/jefferson-memorial-picture.htm&amp;amp;h=501&amp;amp;w=780&amp;amp;sz=143&amp;amp;tbnid=t9Kl31VK_w-5SM:&amp;amp;tbnh=91&amp;amp;tbnw=142&amp;amp;prev=/images%3Fq%3DJefferson%2BMemorial&amp;amp;usg=__0jP4PY-Nzh2P9cuWiAeHb-3mY-I=&amp;amp;ei=cx5OSpq2JZSMMsbBjO4D&amp;amp;sa=X&amp;amp;oi=image_result&amp;amp;resnum=1&amp;amp;ct=image"&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://images.google.com/imgres?imgurl=https://andrewprokos.com/d/jefferson-memorial-interior%3Fg2_itemId%3D1651%26g2_serialNumber%3D6&amp;amp;imgrefurl=https://andrewprokos.com/photos/architecture/jefferson-memorial-interior/&amp;amp;usg=__1cdcmcR4mqhrNmb4ZC0NKZc7fxE=&amp;amp;h=393&amp;amp;w=550&amp;amp;sz=58&amp;amp;hl=en&amp;amp;start=29&amp;amp;um=1&amp;amp;tbnid=A_NNvcWIyjpA_M:&amp;amp;tbnh=95&amp;amp;tbnw=133&amp;amp;prev=/images%3Fq%3DJefferson%2BMemorial%26ndsp%3D20%26hl%3Den%26client%3Dfirefox-a%26rls%3Dorg.mozilla:en-US:official%26sa%3DN%26start%3D20%26um%3D1"&gt;&lt;img style="border: 1px solid ;" src="http://tbn1.google.com/images?q=tbn:A_NNvcWIyjpA_M:https://andrewprokos.com/d/jefferson-memorial-interior%3Fg2_itemId%3D1651%26g2_serialNumber%3D6" width="133" height="95" /&gt;&lt;/a&gt;    &lt;a href="http://images.google.com/imgres?imgurl=http://www.visitingdc.com/images/thomas-jefferson-statue.jpg&amp;amp;imgrefurl=http://www.visitingdc.com/memorial/jefferson-memorial-address.htm&amp;amp;usg=__xlN37jbbbx106dnQL9eac0OLc00=&amp;amp;h=510&amp;amp;w=430&amp;amp;sz=94&amp;amp;hl=en&amp;amp;start=8&amp;amp;um=1&amp;amp;tbnid=NHZz3CQyvy3dtM:&amp;amp;tbnh=131&amp;amp;tbnw=110&amp;amp;prev=/images%3Fq%3DJefferson%2BMemorial%26hl%3Den%26client%3Dfirefox-a%26rls%3Dorg.mozilla:en-US:official%26sa%3DN%26um%3D1"&gt;&lt;img style="border: 1px solid ;" src="http://tbn3.google.com/images?q=tbn:NHZz3CQyvy3dtM:http://www.visitingdc.com/images/thomas-jefferson-statue.jpg" width="110" height="131" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;span style="color:black;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;b&gt;&lt;span lang="EN-US"  style="color:black;"&gt;4/ Đài Tưởng Niệm Tổng Thống Jefferson (Jefferson Memorial).&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;span lang="EN-US"  style="color:black;"&gt;&lt;br /&gt;Địa điểm: phái nam Hồ Tidal Basin. Vào cửa tự do.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trạm xe điện ngầm: Smithsonian.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đài Tưởng Niệm có mái tròn này rộng 7.4 hectares (18 acres), được khánh thành vào năm 1943 nhân ngày sinh thứ 200 của ông Jefferson, 4 năm sau khi Tổng Thống Franklin Roosevelt đặt viên đá đầu tiên. Đây là địa điểm mát mẻ nhất nhờ gió thổi từ Giòng Sông Potomac, rất đẹp nhờ Rừng Cây Anh Đào được nước Nhật Bản tặng vào năm 1912.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bên trong đài tưởng niệm là bức tượng bằng đồng của Tổng Thống Thomas Jefferson cao 19 feet (5.8 mét) do nhà điêu khắc Rudulph Evans, đặt trên bệ cao 6 feet (1.8 mét) bằng đá hoa cương của tiểu bang Minnesota, tất cả ở dưới vòm cao xây dựng theo kiểu mẫu Điện Pantheon của La Mã, cùng với 26 cây cột kiểu Ionic rất lớn. Trên các bức tường bên trong đài tưởng niệm có khắc các câu trích dẫn từ “Bản Tuyên Ngôn Độc Lập” của Hoa Kỳ, “Đạo Luật Tự Do Tôn Giáo của miền Virginia”, các lời ghi chép về miền Virginia và một bức thư của ông Jefferson viết vào năm 1815. Tất cả công trình kiến trúc này do kiến trúc sư John Russell Pope vẽ kiểu và thực hiện.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://images.google.com/imgres?imgurl=http://photos.somd.com/data/500/medium/DSC_5711.jpg&amp;amp;imgrefurl=http://photos.somd.com/showphoto.php/photo/4651/&amp;amp;usg=__XWjwkMD-B6Be59OXqaYeWgh_0vo=&amp;amp;h=427&amp;amp;w=640&amp;amp;sz=149&amp;amp;hl=en&amp;amp;start=10&amp;amp;um=1&amp;amp;tbnid=urhhLS5kLPnYCM:&amp;amp;tbnh=91&amp;amp;tbnw=137&amp;amp;prev=/images%3Fq%3DVietnam%2BVeterans%2BMemorial%26hl%3Den%26client%3Dfirefox-a%26rls%3Dorg.mozilla:en-US:official%26sa%3DN%26um%3D1"&gt;&lt;img style="border: 1px solid ;" src="http://tbn1.google.com/images?q=tbn:urhhLS5kLPnYCM:http://photos.somd.com/data/500/medium/DSC_5711.jpg" width="137" height="91" /&gt;&lt;/a&gt;     &lt;a href="http://images.google.com/imgres?imgurl=http://www.allamericanpatriots.com/files/images/2008-04-oregon-vietnam-veterans-memorial.jpg&amp;amp;imgrefurl=http://www.allamericanpatriots.com/photos/oregon-vietnam-veterans-memorial&amp;amp;usg=__iwwWckBY7g3buZgEbuVw2pGfxLc=&amp;amp;h=375&amp;amp;w=500&amp;amp;sz=91&amp;amp;hl=en&amp;amp;start=2&amp;amp;um=1&amp;amp;tbnid=E6qpqch-h0H0PM:&amp;amp;tbnh=98&amp;amp;tbnw=130&amp;amp;prev=/images%3Fq%3DVietnam%2BVeterans%2BMemorial%26hl%3Den%26client%3Dfirefox-a%26rls%3Dorg.mozilla:en-US:official%26sa%3DN%26um%3D1"&gt;&lt;img style="border: 1px solid ;" src="http://tbn1.google.com/images?q=tbn:E6qpqch-h0H0PM:http://www.allamericanpatriots.com/files/images/2008-04-oregon-vietnam-veterans-memorial.jpg" width="130" height="98" /&gt;&lt;/a&gt;  &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;a href="http://images.google.com/imgres?imgurl=http://www.mapseeing.com/wp-content/uploads/2007/04/windowslivewritervietnamveteransmemorial-19cdmap5b3800e94532.jpg&amp;amp;imgrefurl=http://www.mapseeing.com/category/category/memorials/&amp;amp;usg=__BwGi798wi6_YpgZjlolY-MA2frE=&amp;amp;h=437&amp;amp;w=598&amp;amp;sz=59&amp;amp;hl=en&amp;amp;start=14&amp;amp;um=1&amp;amp;tbnid=F7e-Dg6zpskAwM:&amp;amp;tbnh=99&amp;amp;tbnw=135&amp;amp;prev=/images%3Fq%3DVietnam%2BVeterans%2BMemorial%26hl%3Den%26client%3Dfirefox-a%26rls%3Dorg.mozilla:en-US:official%26sa%3DN%26um%3D1"&gt;&lt;img style="border: 1px solid ;" src="http://tbn2.google.com/images?q=tbn:F7e-Dg6zpskAwM:http://www.mapseeing.com/wp-content/uploads/2007/04/windowslivewritervietnamveteransmemorial-19cdmap5b3800e94532.jpg" width="135" height="99" /&gt;&lt;/a&gt;    &lt;a href="http://images.google.com/imgres?imgurl=http://jrlassociates.com/comcast%2520web/Vietnam%2520Veterans%2520Memorial.JPG&amp;amp;imgrefurl=http://jrlassociates.com/comcast%2520web/vietnam_veterans_memorial.htm&amp;amp;usg=__9JDqL0mOvKh6WfzyWurOVuzDq3A=&amp;amp;h=1892&amp;amp;w=1128&amp;amp;sz=782&amp;amp;hl=en&amp;amp;start=17&amp;amp;um=1&amp;amp;tbnid=VsTpWmDWgANeSM:&amp;amp;tbnh=150&amp;amp;tbnw=89&amp;amp;prev=/images%3Fq%3DVietnam%2BVeterans%2BMemorial%26hl%3Den%26client%3Dfirefox-a%26rls%3Dorg.mozilla:en-US:official%26sa%3DN%26um%3D1"&gt;&lt;img style="border: 1px solid ;" src="http://tbn1.google.com/images?q=tbn:VsTpWmDWgANeSM:http://jrlassociates.com/comcast%2520web/Vietnam%2520Veterans%2520Memorial.JPG" width="89" height="150" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;a href="http://images.google.com/imgres?imgurl=http://veteransinfo.org/sitebuildercontent/sitebuilderpictures/vietnam-veterans-womens-memorial.jpg&amp;amp;imgrefurl=http://veteransinfo.org/id40.html&amp;amp;usg=__D1X4t_wJ7ZJKWL9j_bCVIX_sEUA=&amp;amp;h=375&amp;amp;w=500&amp;amp;sz=56&amp;amp;hl=en&amp;amp;start=24&amp;amp;um=1&amp;amp;tbnid=7hJs9SwCrDAD1M:&amp;amp;tbnh=98&amp;amp;tbnw=130&amp;amp;prev=/images%3Fq%3DVietnam%2BVeterans%2BMemorial%26ndsp%3D20%26hl%3Den%26client%3Dfirefox-a%26rls%3Dorg.mozilla:en-US:official%26sa%3DN%26start%3D20%26um%3D1"&gt;&lt;img style="border: 1px solid ;" src="http://tbn0.google.com/images?q=tbn:7hJs9SwCrDAD1M:http://veteransinfo.org/sitebuildercontent/sitebuilderpictures/vietnam-veterans-womens-memorial.jpg" width="130" height="98" /&gt;&lt;/a&gt;    &lt;a href="http://images.google.com/imgres?imgurl=http://www.dcphototour.com/WashingtonDCMemorialPhotoTour/slides/Vietnam%2520Veterans%2520Memorial%2520Wall%2520with%2520Lincoln%2520Memeorial.jpg&amp;amp;imgrefurl=http://www.dcphototour.com/WashingtonDCMemorialPhotoTour/slides/Vietnam%2520Veterans%2520Memorial%2520Wall%2520with%2520Lincoln%2520Memeorial.shtml&amp;amp;usg=__kP2PPJ6I24nuTgfWe7Lvc0K8tm8=&amp;amp;h=258&amp;amp;w=400&amp;amp;sz=41&amp;amp;hl=en&amp;amp;start=35&amp;amp;um=1&amp;amp;tbnid=_d8ItyVIuStoCM:&amp;amp;tbnh=80&amp;amp;tbnw=124&amp;amp;prev=/images%3Fq%3DVietnam%2BVeterans%2BMemorial%26ndsp%3D20%26hl%3Den%26client%3Dfirefox-a%26rls%3Dorg.mozilla:en-US:official%26sa%3DN%26start%3D20%26um%3D1"&gt;&lt;img style="border: 1px solid ;" src="http://tbn0.google.com/images?q=tbn:_d8ItyVIuStoCM:http://www.dcphototour.com/WashingtonDCMemorialPhotoTour/slides/Vietnam%2520Veterans%2520Memorial%2520Wall%2520with%2520Lincoln%2520Memeorial.jpg" width="124" height="80" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt; &lt;a href="http://images.google.com/imgres?imgurl=http://www.city-data.com/forum/attachments/general-u-s/2510d1175956247-whats-your-favorite-landmark-350px-east_wall_vietnam_memorial_vday.jpg&amp;amp;imgrefurl=http://www.city-data.com/forum/general-u-s/64407-whats-your-favorite-landmark-2.html&amp;amp;usg=__pnoc9FImHcfmgYjkdtag0pvYIiI=&amp;amp;h=526&amp;amp;w=350&amp;amp;sz=26&amp;amp;hl=en&amp;amp;start=31&amp;amp;um=1&amp;amp;tbnid=jwOgRj-mDjAf0M:&amp;amp;tbnh=132&amp;amp;tbnw=88&amp;amp;prev=/images%3Fq%3DVietnam%2BVeterans%2BMemorial%26ndsp%3D20%26hl%3Den%26client%3Dfirefox-a%26rls%3Dorg.mozilla:en-US:official%26sa%3DN%26start%3D20%26um%3D1"&gt;&lt;img style="border: 1px solid ;" src="http://tbn0.google.com/images?q=tbn:jwOgRj-mDjAf0M:http://www.city-data.com/forum/attachments/general-u-s/2510d1175956247-whats-your-favorite-landmark-350px-east_wall_vietnam_memorial_vday.jpg" width="88" height="132" /&gt;&lt;/a&gt;    &lt;a href="http://images.google.com/imgres?imgurl=http://www.mapseeing.com/wp-content/uploads/2007/04/windowslivewritervietnamveteransmemorial-19cdmap5b3800e94532.jpg&amp;amp;imgrefurl=http://www.mapseeing.com/category/category/memorials/&amp;amp;usg=__BwGi798wi6_YpgZjlolY-MA2frE=&amp;amp;h=437&amp;amp;w=598&amp;amp;sz=59&amp;amp;hl=en&amp;amp;start=14&amp;amp;um=1&amp;amp;tbnid=F7e-Dg6zpskAwM:&amp;amp;tbnh=99&amp;amp;tbnw=135&amp;amp;prev=/images%3Fq%3DVietnam%2BVeterans%2BMemorial%26hl%3Den%26client%3Dfirefox-a%26rls%3Dorg.mozilla:en-US:official%26sa%3DN%26um%3D1"&gt;&lt;img style="border: 1px solid ;" src="http://tbn2.google.com/images?q=tbn:F7e-Dg6zpskAwM:http://www.mapseeing.com/wp-content/uploads/2007/04/windowslivewritervietnamveteransmemorial-19cdmap5b3800e94532.jpg" width="135" height="99" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;span lang="EN-US"  style="color:black;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;5/ Đài Tưởng Niệm Cựu Chiến Binh Hoa Kỳ trong Cuộc Chiến Tranh Việt Nam (Vietnam Veterans Memorial).&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;Địa điểm: trên đường Constitution, gần đường 22. Vào cửa tự do.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trạm xe điện ngầm: Foggy Bottom.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào ngày 27 tháng 4 năm 1979, một nhóm cựu chiến binh Hoa Kỳ trong vùng thủ đô Washington D.C. đã lập ra một tổ chức từ thiện bất vụ lợi (a nonprofit charitable organization) gọi tên là Ngân Quỹ Tưởng Niệm Cựu Chiến Binh Hoa Kỳ tại Việt Nam (the Vietnam Veterans Memorial Fund, Inc.) và tổ chức này muốn xây dựng một công trình tưởng niệm theo ý tưởng của cựu trung sĩ bộ binh Jan Scruggs. Đây sẽ là một biểu tượng cụ thể, xác nhận vài trò của cựu chiến binh Hoa Kỳ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Công trình tưởng niệm này phải đạt được các yêu cầu sau: (1) có đầy đủ tính chất phản ánh và suy tưởng về những người đã hy sinh cho Tổ Quốc, (2) phải hòa hợp với các môi trường chung quanh, đặc biệt là các đài kỷ niệm quốc gia gần đó, (3) phải ghi khắc tên họ của những chiến binh đã chết và bị coi là mất tích, (4) không mang màu sắc chính trị đối với cuộc chiến tại Việt Nam.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tổ chức bất vụ lợi kể trên muốn theo đuổi một đường hướng hòa giải quốc gia, không muốn liên hệ tới các chính sách của các chính phủ Hoa Kỳ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào ngày 01 tháng 5 năm 1981, cuộc thi vẽ kiểu đài kỷ niệm đã được tổ chức và cô kiến trúc sư Maya Ying Lin, 21 tuổi, sinh viên Đại Học Yale, đã thắng 1421 người dự tranh giải, trong số này có cả ông thầy của cô. Cô Lin đã vẽ kiểu Đài Tưởng Niệm như thể một công viên nhỏ nằm bên trong một công viên lớn, một nơi yên tĩnh, được bảo vệ, lại hòa hợp với cảnh quang bên ngoài. Để thực hiện ảnh hưởng này, cô Lin đã chọn các bức tường bằng đá hoa cương màu đen (black granite) được đánh thật bóng láng để phản chiếu các cây cối, vườn cỏ, đài kỷ niệm và các khách thăm viếng đi tìm kiếm tên họ của các tử sĩ. Cô Lin mô tả bức tường đá đen vĩ đại này là “một chỗ đất nứt và trong lòng đất này có các bức tường đá đen, dài, bóng láng, nhô ra rồi lẩn khuất vào trong lòng đất... để diễn tả rằng con người ra khỏi nền đất rồi lại trở về trong lòng đất”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đài Tưởng Niệm Cựu Chiến Binh Hoa Kỳ được khánh thành vào ngày 13/11/1982, gồm 2 bức tường lớn, hướng về Đài Kỷ Niệm Tổng Thống Washington và Đài Tưởng Niệm Tổng Thống Lincoln, dài tất cả 246.75 feet, tạo thành một góc 125 độ 12 phút, chỗ cao nhất của bức tường là 10.1 feet. Các bức tường này làm bằng đá hoa cương đen khai thác tại Bangalore, Ấn Độ, được cắt và chế tạo tại Barre, tiểu bang Vermont, còn tên họ các chiến binh được khắc tại Memphis, tiểu bang Tennessee với chiều cao mỗi chữ là 0.53 in. và độ sâu 0.038 in.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các bức tường của đài tưởng niệm mang tên 58,214 chiến binh Hoa Kỳ đã chết hay mất tích tại Việt Nam theo thứ tự ngày qua đời. Cạnh tên mỗi chiến binh có hình viên kim cương (a diamond) nói lên rằng sự chết đã được xác nhận, trong khi một dấu thập tự (a cross) chứng tỏ người chiến binh bị mất tích. Hiện nay số chiến binh mất tích là 1,150 người.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Gần Đài Tưởng Niệm Cựu Chiến Binh, còn có Tượng 3 Chiến Binh (Three Servicemen Sculture) do nhà điêu khắc danh tiếng Frederick Hart thực hiện. Ông Frederick Hart đã mô tả 3 chiến binh như sau: họ mặc quân phục và mang vũ khí, vẻ non nớt trên diện mạo của họ tương phản với vũ khí chiến tranh, đã nói lên một cách hùng hồn sự hy sinh của họ. Ba bức tượng còn diễn tả rõ ràng tinh thần đồng đội, sức mạnh và tính cách dễ bị tổn thương.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Gần Tượng 3 Chiến Binh là Tượng Kỷ Niệm Các Nữ Cứu Thương (Vietnam Women’s Memorial) tạc do nhà điêu khắc Glenna Goodacre và khánh thành vào ngày 11 tháng 11 năm 1993, mô tả 3 phụ nữ chăm sóc một chiến sĩ bị thương. Đây là tác phẩm điêu khắc mô tả tấm lòng can đảm và hy sinh của các phụ nữ trong Quân Đội Hoa Kỳ, đã tham dự vào cuộc chiến. Chung quanh các bức tượng này có trồng 8 cây Yellowwood, để tưởng nhớ 8 người nữ chiến binh đầu tiên đã bỏ mình tại Việt Nam.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày nay, Đài Tưởng Niệm Cựu Chiến Binh Hoa Kỳ thuộc về Hệ Thống Công Viên (the National Park System) và cơ quan này quản trị 370 công viên, tất cả tượng trưng cho các di sản thiên nhiên và văn hóa của quốc gia.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;img src="http://www.lebjournal.com/newz/wp-content/final19951snb05040302y.jpg" style="width: 470px; height: 413px;" alt="final19951snb05040302y.jpg" /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;img alt="http://www1.istockphoto.com/file_thumbview_approve/589717/2/istockphoto_589717_great_seal_of_the_united_states_on_one_dollar_bill.jpg" src="http://www1.istockphoto.com/file_thumbview_approve/589717/2/istockphoto_589717_great_seal_of_the_united_states_on_one_dollar_bill.jpg" /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;img src="http://farm2.static.flickr.com/1354/1018963718_85c5050c8d.jpg?v=0" alt="One Dollar Bill Pyramid by vhauri." title="" onload="show_notes_initially();" class="reflect" width="477" height="488" /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4128474229374807245-2352507366049558061?l=thoisukynguyen2000.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</description><link>http://thoisukynguyen2000.blogspot.com/2009/07/vai-noi-danh-tieng-cua-thu-o-washington.html</link><author>noreply@blogger.com (Thoi Su Ky Nguyen 2000)</author><thr:total xmlns:thr='http://purl.org/syndication/thread/1.0'>0</thr:total></item><item><guid isPermaLink='false'>tag:blogger.com,1999:blog-4128474229374807245.post-6324033914676051498</guid><pubDate>Fri, 03 Jul 2009 13:36:00 +0000</pubDate><atom:updated>2009-07-03T06:37:45.413-07:00</atom:updated><category domain='http://www.blogger.com/atom/ns#'>Thư kêu gọi ông Nguyễn Xuân Vinh từ chức- Trần Thanh</category><title>Thư kêu gọi ông Nguyễn Xuân Vinh từ chức - Trần Thanh</title><description>&lt;b style="font-family: arial,sans-serif;"&gt;&lt;span style="color: red; "&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: x-large;"&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;Thư kêu gọi ông Nguyễn Xuân Vinh từ chức&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;b style="font-family: arial,sans-serif;"&gt;&lt;span style="color: red; "&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: x-large;"&gt;  &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;div&gt;&lt;span class="Apple-style-span"    style="font-family:arial;font-size:130%;color:#FF0000;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: 15px;"&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;b style="font-family: arial,sans-serif;"&gt;&lt;span style="color: red; "&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: x-large;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-size: 11pt; color: red;"&gt;   &lt;span style="font-style: italic; color: rgb(51, 51, 255);"&gt;-   &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;b style="font-style: italic; color: rgb(51, 51, 255); font-family: arial,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: 11pt;"&gt;Trần Thanh  - &lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;b style="font-family: arial,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: 11pt; color: red;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt; &lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;div style="font-family: arial,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: 11pt;" lang="EN-GB"&gt;Thưa ông, &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt; &lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt;Trong bài viết "Ông Nguyễn Xuân Vinh nên từ chức" đăng trên hai tờ điện báo Hồn Việt UK và Tin Paris ngày 31 tháng Giêng năm 2009, chúng tôi đã đề nghị ông nên từ chức. Sau khi bài viết được đưa lên mạng thì một số độc giả đã góp ý là nếu cần thì Ban chấp hành Tập thể CSVNCH phải bỏ phiếu bất tín nhiệm, truất phế ông Vinh và bầu người khác. Lý do vì họ biết rất rõ ông Vinh đã bắt đinh vít vào chiếc ghế của ông, gắn liền vào bàn tọa của ông rồi. Ðã được làm "chủ tịt" là làm luôn cho tới khi chết, chớ không bao giờ ông chịu từ bỏ "ngai vàng"! Vì vậy hôm nay chúng tôi viết lá thơ này, một lần nữa, yêu cầu ông nên ... hy sinh, từ chức để cứu dân, cứu nước. Những lý do chúng tôi đưa ra như sau:&lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt; &lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;b style="font-family: arial,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: 11pt; color: green;" lang="EN-GB"&gt;1. Ông không có đủ sức khỏe để đáp ứng công việc:&lt;/span&gt;&lt;/b&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt; &lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt;Tập thể Chiến sĩ VNCH tại hải ngoại là tập thể lớn mạnh nhất, lớn mạnh hơn bất cứ tổ chức nào, kể cả các tổ chức tôn giáo tại hải ngoại. Số lượng thành viên của tổ chức này ước lượng khoảng 200 ngàn người đang sống rải rác trên nhiều quốc gia. &lt;i&gt;&lt;span style="color: blue;"&gt;(Xin coi phân tích chi tiết trong bài "Ông Nguyễn Xuân Vinh nên từ chức")&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt; &lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt;Nhiệm vụ của tổ chức này là đấu tranh để &lt;span style="color: purple;"&gt;LẬT ÐỔ VÀ XÓA BỎ TẬN GỐC CHẾ ÐỘ CỘNG SẢN &lt;/span&gt;hung tàn bạo ngược, để giải phóng 90 triệu dân Việt thoát khỏi ách nô lệ, được trở lại làm người. Xin nhắc lại: &lt;b&gt;&lt;span style="color: maroon;"&gt;đấu tranh để LẬT ÐỔ &lt;/span&gt;&lt;/b&gt;VÀ XÓA BỎ TẬN GỐC CHẾ ÐỘ CỘNG SẢN &lt;b&gt;chớ không phải đấu tranh ÐỂ CANH TÂN hoặc đấu tranh để nuôi dưỡng chế độ cộng sản như băng đảng Việt Tân và một số tổ chức cuội, ma trơi đang chủ trương.&lt;/b&gt;&lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt; &lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt;Tổ chức Tập thể Chiến sĩ VNCH được thành lập là để ÐẤU TRANH DIỆT GIẶC, truy kích địch như chúng ta đã từng làm trước năm 1975. Nói tóm tắt, mỗi một chiến sĩ&lt;span&gt;  &lt;/span&gt;được xem như VẪN CÒN ÐANG TẠI NGŨ, vẫn tiếp tục chiến đấu dưới mọi hình thức khác nhau. Trước năm 1975, chúng ta cầm súng M16 thì bây giờ chúng ta cầm viết, cầm micro hoặc dùng nhiều phương tiện khác nhau để diệt giặc. Ðối với những chiến sĩ thực lòng yêu nước, không phải được đi định cư ở hải ngoại là nhiệm vụ chiến đấu chấm dứt. &lt;b&gt;&lt;span style="color: red;"&gt;Chúng ta thề sẽ tiếp tục chiến đấu cho đến khi nào bọn giặc bị tiêu diệt.&lt;/span&gt;&lt;/b&gt; Ðời cha làm không được thì đời con sẽ tiếp nối. &lt;b&gt;&lt;span style="color: blue;"&gt;Bọn việt gian cộng sản là kẻ thù không đội trời chung của dân tộc Việt. Mỗi một chiến sĩ chúng ta thề phải noi gương Câu Tiễn để quang phục quê hương đất nước.&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt; &lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt;Chính vì vậy mà nhiệm vụ của người chủ tịch Tập Thể CSVNCH là nhiệm vụ hết sức nặng nề, có thể phải làm việc liên tục bảy ngày trong một tuần, làm nhiều giờ trong một ngày và ĂN CƠM NHÀ VÁC NGÀ VOI, không có lương! Công việc của người chủ tịch là công việc hết sức căng thẳng, đầy stress vì đấu tranh bắt buộc phải đối phó với rất nhiều thử thách. Muốn tiêu diệt bọn giặc, bứng gốc bốn triệu thằng đảng viên cộng sản, đâu phải là chuyện chơi, vui thú như đi du lịch?&lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt; &lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt;Với số tuổi 80 của ông, liệu ông có đảm đương được trách nhiệm chủ tịch hay không? Liệu ông có thể:&lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt; &lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt;- Vừa lao động trí óc, vừa lao động thể xác, thường xuyên phải đối phó với "stress" do những kẻ "đánh phá" gây ra?&lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt;- Lao động trí óc: soạn thảo tài liệu, nghiên cứu tài liệu để biết ta biết địch, để xây dựng lực lượng của ta và tìm cách diệt địch&lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt;- Lao động thể xác: phải đi đây đi đó, bằng máy bay, bằng xe hơi, mệt lắm đấy, không phải chuyện chơi. Tham gia biểu tình, mít tinh, hội họp, tranh luận, tranh cãi, đọc diễn văn, đọc điếu văn ..v..v..&lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt; &lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt;Có thể ông sẽ lên tiếng phản đối, cho rằng:&lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt; &lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt;- Tôi, Nguyễn Xuân Vinh, tuy ở lứa tuổi 80 nhưng vẫn còn rất khỏe. Tôi vẫn còn đủ sức khỏe để leo núi, để đi trợt tuyết, nhảy dù như tổng thống George Bush cha. Xin cho tôi được "hy sinh" làm chủ tịch thêm ... bảy năm nữa!&lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt; &lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt;Thưa ông Vinh, như chúng tôi đã nhận định, &lt;b&gt;&lt;span style="color: red;"&gt;trong suốt thời gian bảy năm qua, ông đã làm chủ tịch một hội đánh golf hay hội xoa mạt chược chớ không phải là chủ tịch Tập Thể CSVNCH.&lt;/span&gt;&lt;/b&gt; Những công việc của ông nó mang tính chất cưỡi ngựa xem hoa, làm chủ tịch một tổ chức đấu tranh mà giống như đi du lịch, phè phỡn như đi đánh golf, và hân hoan thơ thới như ngồi xoa mạt chược trong phòng lạnh!&lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt; &lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt;Chính vì xác định tổ chức Tập thể CSVNCH là một tổ chức chiến đấu của những quân nhân còn đang tại ngũ và vai trò của người chủ tịch hết sức nặng nề cả về tinh thần lẫn thể xác, đó là chưa kể nhiệm vụ này đòi hỏi người chủ tịch phải có một số đức tính, cho nên chúng tôi khuyên ông nên thức thời và từ chức vì đã lớn tuổi rồi. Với số tuổi 80, nếu muốn tiếp tục cống hiến, ông có thể giữ vai trò cố vấn yểm trợ, anh em có thể chấp nhận. Hoặc không thì ông chỉ giữ vai trò một thành viên bình thường trong tổ chức, không nên giữ vai trò lãnh đạo. Cho dù sức khỏe của ông có rất tốt đi chăng nữa mà phải làm công việc đội đá vá trời (nếu thật sự làm đúng như chúng tôi vừa trình bày ở trên) thì sẽ rất hại cho sức khỏe của ông, không khéo rồi ông sẽ đi theo ông Nguyễn Bá Cẩn sớm!&lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt; &lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;b style="font-family: arial,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: 11pt; color: green;" lang="EN-GB"&gt;2. Ông chỉ là chủ tịch bù nhìn. Theo dư luận đang bàn cãi thì thế lực thực sự điều khiển và khống chế ông là bọn việt gian cộng sản và Việt Tân.&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt; Ðó là lý do vì sao trong suốt bảy năm làm chủ tịch, hầu như ông không có một hoạt động gì gọi là "chống cộng" cho ra hồn. Ông đã gom toàn bộ các chiến sĩ vào một tổ chức, ru họ ngủ, để rồi lần lượt từng chiến sĩ đã qua đời vì già yếu bệnh tật, một số khác đi du lịch Việt Nam rồi toi mạng vì chứng "thượng mã phong"! Ðây là điều đáng buồn và ô nhục! Trước năm 1975, các chiến sĩ đã không chết vì đạn AK của bọn giặc ngoài mặt trận; sau năm 1975, không chết vì những đòn tra tấn của giặc trong tù mà bây giờ lại bị chết vì "thượng mã phong"! Ðây là đòn hiểm độc của bọn giặc!&lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt; &lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt;&lt;span&gt; &lt;/span&gt;Thế hệ già nòng cốt chống cộng lần lượt qua đời, những thế hệ kế thừa còn non yếu thì tương lai của cả dân tộc chúng ta sẽ đi về đâu? Chắc chắn là phải làm nô lệ mãi mãi!&lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt; &lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;b style="font-family: arial,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: 11pt; color: green;" lang="EN-GB"&gt;3. Ông là người ham danh, ham lợi, tham quyền cố vị.&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt; Như chúng ta đã biết, bọn giặc sẵn sàng tung ra hàng tỷ đô la để lũng đoạn hàng ngũ của chúng ta tại hải ngoại. Tên cán bộ việt cộng Tôn Nữ Thị Ninh, phó ban đối ngoại quốc hội của việt gian cộng sản đã từng tuyên bố công khai:"Sẽ dùng tiền để mua chuộc hết toàn bộ những tên chống cộng ở hải ngoại, kể cả những tên sừng sỏ nhất!" Bọn chúng nói và bọn chúng đã và đang thực hiện!&lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt; &lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;b style="font-family: arial,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: 11pt; color: green;" lang="EN-GB"&gt;4. Ông là người bất tài, không đủ khả năng lãnh đạo Tập Thể để chống cộng.&lt;/span&gt;&lt;/b&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt; &lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt;Thưa ông Vinh, cả một tổ chức gồm hàng trăm ngàn chiến sĩ, dưới sự lãnh đạo của ông đã rủ nhau đi ngủ và đi du lịch suốt bảy năm nay. Nhiều người đã bị chết nhục nhã vì sư đoàn "chân dài" của việt cộng giăng ra chờ đón họ tại Việt Nam. Lương tâm nào cho phép chúng ta buông súng đầu hàng giặc thêm một lần nữa?&lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt; &lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt;Thưa ông Vinh, đấu tranh chống cộng là chúng ta &lt;b&gt;&lt;span style="color: red;"&gt;phải chủ động tấn công,&lt;/span&gt;&lt;/b&gt; phản công lại những làn sóng tổng công kích của bọn giặc, chớ không phải chờ nó đánh mình cho bầm dập rồi mới tìm cách đỡ đòn. Muốn diệt được bọn giặc, chúng ta &lt;b&gt;phải dựa vào sức mạnh của toàn dân.&lt;/b&gt; Muốn vậy thì phải bằng mọi cách &lt;b&gt;&lt;span style="color: blue;"&gt;gây dựng được nhiều phong trào cách mạng ở trong nước.&lt;/span&gt;&lt;/b&gt; Ðây là nhiệm vụ của Tập Thể CSVNCH.&lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt; &lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt;Tiếc thay, trong suốt bảy năm làm chủ tịch, ngoài việc "nuôi heo" và đọc điếu văn, ông chỉ "đấu tranh" bằng hai phương pháp:&lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt; &lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt;- Một là, chờ người Mỹ "bật đèn xanh", làm thỉnh nguyện thư gởi cho các dân biểu, nghị sĩ Mỹ, rồi nằm ở nhà trùm mền, &lt;b&gt;&lt;span style="color: maroon;"&gt;chờ họ chống cộng ... giùm cho mình!&lt;/span&gt;&lt;/b&gt; Và ngược lại, người Mỹ sau khi nhận thỉnh nguyện thơ, họ cũng mong chờ mình làm được một cái gì đó to tát ở trong nước, căn cứ vào đó, họ mới có thái độ can thiệp mạnh hay yếu. Nếu chờ lâu quá, không thấy mình làm được gì thì họ sẽ quăng thỉnh nguyện thư vào thùng rác. Người Mỹ thường nói "Help yourself first then God will help you" &lt;b&gt;Không ai muốn giúp đỡ một kẻ bất tài, ăn bám và lười biếng.&lt;/b&gt;&lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt; &lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt;- Hai là, áp dụng phương pháp "đấu tranh" của AQ. Ông đã tự đánh giá rằng, dưới sự lãnh đạo của ông, chúng ta đã &lt;b&gt;"chiến thắng"(?)&lt;/b&gt; vì sau 34 năm mà vẫn còn có người mặc quân phục VNCH! Một lần nữa, chúng tôi phải nhắc lại ở đây câu chuyện về nhân vật AQ của nhà văn Lỗ Tấn: - anh chàng AQ khi bị bọn du đãng đấm cho sưng mặt thì anh ta vô cùng mừng rỡ, tuyên bố là anh đã &lt;b&gt;&lt;span style="color: green;"&gt;"chiến thắng"!&lt;/span&gt;&lt;/b&gt; Anh ta nói như thế này: &lt;b&gt;&lt;span style="color: red;"&gt;"Chúng nó đánh mình tức là đánh bố chúng nó!"&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;b style="font-family: arial,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: 11pt; color: red;" lang="EN-GB"&gt; &lt;/span&gt;&lt;/b&gt; &lt;br /&gt; &lt;b style="font-family: arial,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: 11pt; color: green;" lang="EN-GB"&gt;5. Ông Vinh đã hành động giống như Dương Văn Minh, bức tử quân lực Việt Nam Cộng Hòa thêm một lần nữa!&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;b style="font-family: arial,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: 11pt; color: red;" lang="EN-GB"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt; &lt;br /&gt; &lt;b style="font-family: arial,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: 11pt; color: red;" lang="EN-GB"&gt; &lt;/span&gt;&lt;/b&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif; color: black;" lang="EN-GB"&gt;Như đã nêu trên, tập thể Chiến Sĩ VNCH gồm khoảng 200 ngàn người vẫn dư thừa sức chiến đấu, nếu họ tập hợp, đoàn kết lại ở hải ngoại. Bọn việt gian cộng sản &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: 11pt; color: blue;" lang="EN-GB"&gt;RẤT SỢ HÃI&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif; color: black;" lang="EN-GB"&gt;&lt;span&gt;  &lt;/span&gt;lực lượng này vì một khi đã thoát ra hải ngoại, lực lượng này đã hoàn toàn thoát khỏi sự kiểm soát của giặc cộng. Bọn giặc không thể làm gì được họ mà ngược lại họ có thể gây khốn đốn cho bọn giặc bằng rất nhiều phương cách. &lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif; color: black;" lang="EN-GB"&gt; &lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif; color: black;" lang="EN-GB"&gt;Cái thế của chúng ta là cái thế đang đứng trên miệng giếng, có thể ném đá xuống. Cái thế của bọn giặc là, tuy đứng dưới đáy giếng nhưng bọn chúng đang nắm trong tay &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: 11pt; color: blue;" lang="EN-GB"&gt;85 triệu CON TIN! &lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif; color: black;" lang="EN-GB"&gt;Bên nào cũng có thế thuận lợi và bất lợi.&lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif; color: black;" lang="EN-GB"&gt; &lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif; color: black;" lang="EN-GB"&gt;Nhưng chỉ bằng một thế võ hết sức đơn giản là thông qua nhân vật Nguyễn Xuân Vinh,&lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: 11pt; color: purple;" lang="EN-GB"&gt; bọn giặc đã vô hiệu hóa được 200 ngàn chiến sĩ trong suốt bảy năm liên tiếp!!!&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif; color: black;" lang="EN-GB"&gt;&lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif; color: black;" lang="EN-GB"&gt; &lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif; color: black;" lang="EN-GB"&gt;Trong suốt bảy năm liên tiếp, Tập Thể Chiến Sĩ đã hoàn toàn đi ngủ, &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: 11pt; color: blue;" lang="EN-GB"&gt;TỰ BUÔNG SÚNG ÐẦU HÀNG GIẶC THÊM LẦN THỨ HAI!!!&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif; color: black;" lang="EN-GB"&gt; Không những thế, Tập Thể còn bị tên Lê Chiêu Thống thời đại, tiêm liều thuốc độc vào đầu với lý luận "AQ" rằng .... MÌNH ÐANG &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: 11pt; color: red;" lang="EN-GB"&gt;"CHIẾN THẮNG"!&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif; color: black;" lang="EN-GB"&gt; Muốn chiến thắng giặc cộng, chỉ cần rủ nhau mặc quân phục VNCH, xuất hiện trong các dịp lễ kỷ niệm! Một cách chống cộng hết sức đơn giản và "mầu nhiệm" không thua gì "biểu tình tại gia" của &lt;b&gt;việt gian Thích Quảng Ðộ!&lt;/b&gt; Và cũng không kém phần thần kỳ, mầu nhiệm như phương cách "chống cộng" của tên bịp bợm Nguyễn Ðan Quế!&lt;span&gt;  &lt;/span&gt;Tên bịp Quế đã kêu gọi cộng đồng người Việt tại hải ngoại hãy đem tiền về Việt Nam đầu tư thật nhiều để đánh bại nền kinh tế quốc doanh của cộng sản! Chưa hết, hắn còn hô hào phải thực hiện cuộc &lt;b&gt;cách mạng giáo dục&lt;/b&gt; để &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: 11pt; color: red;" lang="EN-GB"&gt;CANH TÂN&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif; color: black;" lang="EN-GB"&gt; xứ sở!&lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif; color: black;" lang="EN-GB"&gt; &lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;b style="font-family: arial,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: 11pt; color: green;" lang="EN-GB"&gt;6. Ông đã làm nhục Tập Thể CSVNCH &lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif; color: black;" lang="EN-GB"&gt;bằng cách &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: 11pt; color: red;" lang="EN-GB"&gt;lòn háng&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif; color: black;" lang="EN-GB"&gt; tên trung tá ngụy quân việt gian cộng sản Trần Anh Kim, đáng tuổi con cháu của ông, trình độ văn hóa lớp ba trường làng!&lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif; color: black;" lang="EN-GB"&gt; &lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif; color: black;" lang="EN-GB"&gt;Cha Lý là người sáng lập ra Khối 8406 và hiện nay đang bị tù. Cha là người đấu tranh chân chính, uy tín của Khối 8406 đối với thế giới là do cha đem lại, đặc biệt từ biến cố cha bị bọn cướp bịt miệng trước tòa án. Tuy nhiên, ngón nghề của bọn việt gian cộng sản từ xưa nay là chơi trò "con chim tu hú". Cha Lý đã nhọc công gây dựng Khối 8406 bằng cả tính mạng và uy tín của mình để rồi bị những tên đối lập cuội do bọn việt gian cộng sản cài vào tổ chức, "tu hú hóa", biến Khối 8406 thành một vệ tinh của đảng Cộng Sản! Hiện nay những tên như Ðỗ Nam Hải, Trần Anh Kim, Phan Văn Lợi, Nguyễn Chính Kết chỉ là những tên điếm, đối lập cuội, lợi dụng uy tín sẵn có của Khối 8406 để đi lừa bịp đồng bào, làm lợi cho cộng sản. &lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif; color: black;" lang="EN-GB"&gt; &lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;b style="font-family: arial,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: 11pt; color: black;" lang="EN-GB"&gt;Với tư cách cá nhân,&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif; color: black;" lang="EN-GB"&gt; ông Vinh có quyền&lt;span&gt;  &lt;/span&gt;tham gia Khối 8406 và thậm chí nếu muốn, ông có thể công khai đi đầu hàng cộng sản như tên phản bội Nguyễn Cao Kỳ đã từng làm. &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: 11pt; color: red;" lang="EN-GB"&gt;Nhưng trước khi đi lòn háng bọn giặc, ông phải từ chức Chủ Tịch Tập Thể CSVNCH.&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif; color: black;" lang="EN-GB"&gt; Còn đang giữ chức Chủ Tịch mà ông &lt;b&gt;đội tên trung tá việt cộng lên đầu,&lt;/b&gt; chấp nhận cho nó ký giấy bổ nhiệm ông làm "đại diện" Khối 8406 tại bắc Cali thì quá nhục, &lt;b&gt;một sự sỉ nhục lớn cho cả Tập Thể Chiến Sĩ VNCH, trong đó có nhiều người đã từng là tướng lãnh!&lt;/b&gt;&lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt; &lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt;Thưa ông Vinh,&lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt; &lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt;Toàn dân trong nước hiện nay đang mong chờ hải ngoại làm được một cái gì để thay đổi cuộc đời, đem lại ánh sáng cho đời họ. Tâm trạng của họ cũng giống như tâm trạng của những người dân miền bắc trước năm 1975. Lúc đó, người dân miền bắc đặt hết hy vọng vào quân lực Việt Nam Cộng Hòa, hy vọng họ sẽ đánh bại bọn việt gian cộng sản để giải phóng toàn bộ miền bắc khỏi ách nô lệ. Nhưng họ không ngờ xảy ra biến cố tháng 4 1975, làm nhiều người quá thất vọng, phải tự sát!&lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt; &lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt;Chúng ta không thể phản bội lại tấm lòng mong đợi của những người dân trong nước. Vừa là những kẻ sĩ, vừa là những chiến sĩ, Tập Thể CSVNCH nhất định phải hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ quê hương, tiêu diệt hết lũ giặc việt gian cộng sản. &lt;b&gt;&lt;span style="color: purple;"&gt;Tổ Quốc-Danh Dự-Trách Nhiệm,&lt;/span&gt;&lt;/b&gt; hẳn từng chiến sĩ vẫn còn nhớ hay đã quên hết rồi? Một khi kẻ nội thù đã bị tiêu diệt thì việc toàn dân đoàn kết chống ngoại xâm không phải là chuyện khó. Truyền thống chống ngoại xâm của tổ tiên ta đã nhiều lần chứng minh điều này rồi.&lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt; &lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt;Muốn đánh thức cái tập thể đang ngủ say, trước hết chúng ta phải bứng hòn đá tảng cản đường và quăng nó vào thùng rác. &lt;b&gt;Hòn đá đó chính là ông Nguyễn Xuân Vinh.&lt;/b&gt; &lt;b&gt;&lt;span style="color: red;"&gt;Ông là người có tội lớn đối với dân tộc.&lt;/span&gt;&lt;/b&gt; Trước năm 1975, ông đã là kẻ hèn nhát, đào ngũ, và bây giờ ông đang làm hòn đá tảng cản đường,một hình thức đi làm tay sai cho giặc. &lt;b&gt;&lt;span style="color: blue;"&gt;Ông đã buộc Tập Thể Chiến Sĩ phải đầu hàng giặc lần thứ hai bằng cách cho họ đi ngủ bảy năm liên tiếp!&lt;/span&gt;&lt;/b&gt; Máu của những người dân đang đổ từng ngày trên quê hương, trong đó có sự đóng góp công sức của ông Vinh. Bảy năm dài đã trôi qua, ông đã lãng phí rất lớn tài nguyên của quốc gia - khối nhân sự đã được huấn luyện để chiến đấu chống cộng, trên 200 ngàn người - biến nó thành một con gấu ngủ say trong hang, trong khi đó 90 triệu nô lệ đang mòn mỏi chờ từng ngày từng giờ được nhìn thấy ánh sáng mặt trời!&lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt; &lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt;Cách đây bảy năm, khi hay tin ông Nguyễn Xuân Vinh được bầu làm chủ tịch Tập Thể CSVNCH, nhiều người tỏ ra hồ hởi, phấn khởi, hãnh diện vì có một người lãnh đạo có bằng tiến sĩ! Nhưng lúc ấy chúng tôi đã tỏ ra quan ngại vì những lý do sau:&lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt; &lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt;- Ông Vinh tựa như người "cõi trên" xuống sinh hoạt với người trần gian. Thông thường, đã gọi là người lãnh đạo thì &lt;b&gt;&lt;span style="color: red;"&gt;người lãnh đạo phải là một phần máu thịt của tập thể,&lt;/span&gt;&lt;/b&gt; chớ không thể là một cái đầu ở trên trời đem gắn vào cái xác phàm trên thế gian. Ðó là lý do vì sao, một trong những điều lệ, ứng cử viên tổng thống Mỹ phải là người có quá trình sống &lt;b&gt;&lt;span style="color: red;"&gt;liên tục&lt;/span&gt;&lt;/b&gt; trên nước Mỹ 20 năm, tính đến ngày nộp đơn ra ứng cử. Trong khi đó, ông Vinh rời Việt Nam vào năm 1962 và sống liên tục tại Mỹ cho đến tháng 9-2003 thì được bầu vào chức vụ Chủ tịch Hội đồng đại diện Tập Thể Chiến sĩ VNCH tại hải ngoại, như vậy là 41 năm. Trong suốt 41 năm dài hơn nửa đời người đó, biết bao nhiêu dâu bể tang thương đã xảy đến cho quê hương và dân tộc Việt Nam mà ông Vinh không bao giờ gần gũi, chứng kiến, chia sẻ. &lt;b&gt;&lt;span style="color: green;"&gt;Những con người như vậy rất khó mà có tấm lòng đồng cảm, yêu nước thương nòi, yêu thương đồng đội. &lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt; &lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt;Chúng tôi nhớ có một câu chuyện kể về một ông quan tổng đốc thời Pháp như sau:&lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt; &lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt;Một hôm ông quan đi ô tô về vùng miền quê, thấy một đám dân quê đang nằm vật vã ngoài đường, sắp sửa chết vì đói. Quan mới hỏi người lính hầu:&lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt; &lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt;- Mấy thằng nhà quê đó bị bệnh gì vậy?&lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt; &lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt;Tên lính đáp:&lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt; &lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt;- Bẩm quan lớn, chúng nó hết sạch gạo nấu cơm, đang bị chết đói đấy ạ!&lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt; &lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt;Nghe báo cáo xong, quan mới phán một câu:&lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;" lang="EN-GB"&gt; &lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;"&gt;- Hết sạch gạo nấu cơm thì sao không nấu cháo mà ăn! Ðúng là lũ dốt!&lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;"&gt; &lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;"&gt;Cả cuộc đời quan lớn chưa bao giờ biết nấu cơm hay nấu cháo cho nên quan mới phán một câu xanh dờn như vậy!&lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;"&gt; &lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;"&gt;Ông Vinh chưa bao giờ biết cuốc đất, chưa bao giờ được nếm mùi &lt;b&gt;ăn cơm độn với bo bo và sắn lát phơi khô,&lt;/b&gt; chưa bao giờ phải ghi nhớ câu "thần chú" trong đầu: &lt;i&gt;"bất cứ con gì nhúc nhích là ta có thể ăn được, ngoại trừ con bù-loong"!&lt;/i&gt; Và hàng trăm ngàn tấn thảm kịch khác đã xảy ra trong các trại tù cộng sản mà hàng triệu quân dân cán chính VNCH đã phải trải qua cuộc đời nơi đó với nhiều người đã vĩnh viễn nằm xuống. Hàng triệu tấn thảm kịch đã xảy ra trên quê hương Việt Nam và trên biển cả sau biến cố 30/4/1975. Ông Vinh chỉ nghe nói về những biến cố đó, may lắm là được xem phim thời sự.&lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;"&gt; &lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;"&gt;Chúng ta thử tưởng tượng xem &lt;b&gt;&lt;span style="color: red;"&gt;nhịp cầu giao cảm&lt;/span&gt;&lt;/b&gt; có dễ dàng không, khi một chiến hữu đã trải qua trên mười năm tù trong trại cải tạo của cộng sản, nghĩ gì về ông Vinh khi biết ông đã xa quê hương 50 năm, chưa bao giờ "được" ăn cơm độn với khoai mì và &lt;span style="color: blue;"&gt;hút thuốc rê trộn với lá đu đủ phơi khô?&lt;/span&gt; Và trái tim của ông Vinh sẽ rung động ra sao khi nhìn thấy những chiến hữu ốm o, gầy gò, đen đúa, cơ thể đầy thương tích và bệnh tật, trở nên xấu xí như những con quái vật sau nhiều năm ở tù cộng sản trở về? Khi một người đã từng bị tù tội, bị mất nhà, mất hết vợ con thì chỉ cần nhìn hoặc nghe nói về những người bạn đồng cảnh ngộ là họ đã có ngay những chất keo giao cảm tự nhiên, gắn liền họ với nhau, không cần phải nói nhiều.&lt;span style="color: maroon;"&gt; &lt;b&gt;Còn loại người "lãnh đạo" như ông Vinh là người "cõi trên", giống như ông quan tổng đốc nêu trên, là một cái gì đó rời rạc, xa rời tập thể, tựa như một cục thịt thừa vô tích sự trên cái mông đít của cơ thể!&lt;/b&gt;&lt;/span&gt; Chỉ cần nhìn thoáng qua như vậy, chúng ta có thể đoán trước là Tập Thể Chiến Sĩ mạnh hay yếu và tương lai của nó sẽ đi về đâu với một người lãnh đạo "cõi trên" như vậy! Nó rời rạc như cơm nguội và nó giống như một cái chậu kiểng chỉ dùng để trưng bày cho đẹp mắt!&lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;"&gt; &lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;"&gt;Nghĩ cho cùng, những người đã bầu ông Vinh vào cái chức vụ chủ tịch là một sai lầm rất lớn! Và chắc chắn là có bàn tay tàn độc của bọn việt gian cộng sản và Việt Tân nhúng vào!&lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;"&gt; &lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;"&gt;Ðã đến lúc chúng ta phải xắn tay áo làm lại từ đầu. Tập thể Chiến sĩ VNCH phải được tổ chức lại và &lt;b&gt;&lt;span style="color: blue;"&gt;tiếp tục chiến đấu.&lt;/span&gt;&lt;/b&gt; &lt;b&gt;Bọn giặc đã thành công khi chúng đã vô hiệu hóa Tập Thể bảy năm liên tiếp.&lt;/b&gt;&lt;span&gt;  &lt;/span&gt;Ðó là lý do vì sao chúng tôi viết thư này yêu cầu ông Nguyễn Xuân Vinh phải từ chức. Ông là con người bất tài, bất xứng, làm Chủ Tịch chỉ thêm nhục nhã cho Tập Thể CSVNCH. &lt;b&gt;&lt;span style="color: red;"&gt;Quân lực VNCH là thanh gươm báu của dân tộc Việt, không thể để cho một kẻ bất tài, bất xứng như ông Nguyễn Xuân Vinh nắm trong tay.&lt;/span&gt;&lt;/b&gt; Nếu ông không chịu từ chức thì dứt khoát chúng ta phải bỏ phiếu bất tín nhiệm và truất phế! Bảy năm trời nằm ngủ vùi, đầy tội lỗi đối với dân tộc. Chúng ta phải tỉnh ngộ!&lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-size: 11pt; font-family: arial,sans-serif;"&gt; &lt;/span&gt; &lt;br /&gt; &lt;b style="color: rgb(51, 51, 255); font-family: arial,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: 11pt;"&gt;Trần Thanh&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="color: rgb(51, 51, 255); font-family: arial,sans-serif;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;b style="color: rgb(51, 51, 255); font-family: arial,sans-serif;"&gt;&lt;span style="font-size: 11pt;"&gt;Ngày 3 tháng 7 năm 2009&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="color: rgb(51, 51, 255); font-family: arial,sans-serif;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;span class="Apple-style-span"    style="font-family:arial;font-size:130%;color:#3333FF;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: 15px;"&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;span class="Apple-style-span"    style="font-family:arial;font-size:130%;color:#3333FF;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: 15px;"&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;span class="Apple-style-span"    style="font-family:arial;font-size:130%;color:#3333FF;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: 15px;"&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;span class="Apple-style-span"    style="font-family:arial;font-size:130%;color:#3333FF;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: 15px;"&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4128474229374807245-6324033914676051498?l=thoisukynguyen2000.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</description><link>http://thoisukynguyen2000.blogspot.com/2009/07/thu-keu-goi-ong-nguyen-xuan-vinh-tu.html</link><author>noreply@blogger.com (Thoi Su Ky Nguyen 2000)</author><thr:total xmlns:thr='http://purl.org/syndication/thread/1.0'>0</thr:total></item><item><guid isPermaLink='false'>tag:blogger.com,1999:blog-4128474229374807245.post-8807495938692371627</guid><pubDate>Thu, 02 Jul 2009 23:43:00 +0000</pubDate><atom:updated>2009-07-02T16:44:40.940-07:00</atom:updated><category domain='http://www.blogger.com/atom/ns#'>Trung Cộng trả  lời  về quyển Bạch Thư của  Bộ Ngoại Giao  Cộng sản Việt  Nam  ( tháng 10.1979) [ Bài 1 ]</category><title>Trung Cộng trả  lời  về quyển Bạch Thư của  Bộ Ngoại Giao  Cộng sản Việt  Nam  ( tháng 10.1979) [ Bài 1 ]</title><description>&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(51, 51, 255);"&gt;Một bản tự thú tội cho nhũng việc làm bậy của họ  &lt;br /&gt;Nói về bạch thư của Bộ Ngoại Giao Việt Nam về mối bang giao Việt-Hoa &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;            &lt;/div&gt; &lt;br /&gt;            &lt;div style="text-align: right;"&gt;&lt;span style="font-weight: bold; font-style: italic;"&gt;- Bản dịch từ Pháp Ngữ : Nhữ đình Hùng &amp;amp; Trương Tấn Trung&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: right;"&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;br /&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;Công luận điều biết rằng trong lịch sử của những bang giao Hoa – Việt trong ba mươi năm qua,  thì tình hữu nghị và sự hợp tác được đặt trên hết.&lt;br /&gt;Chỉ  từ hai năm sau này giới thẩm quyền Việt Nam mới công khai chống đối lại Trung Quốc và mối bang giao Hoa Việt bị suy giảm,  ngoài ý muốn của chánh quyền và nhân dân Trung Hoa.&lt;br /&gt;           &lt;br /&gt;Dù rằng mối bang giao của hai bên đã xuống cấp để đi đến mức độ như hiện nay,chúng tôi đã thể hi ện  sự tự chế và xin miễn tranh cãi  về mối bang giao song phương trong quá khứ.Nhưng sự tuyên truyền bài Hoa của giới chức Việt Nam đã gia tăng ngày một và vẫn tiêp tục leo thang.&lt;br /&gt;           &lt;br /&gt;Thật thế,vào ngày 4 tháng mười 1979,bộ ngoại giao Việt Nam đã cho ấn hành một Bạch Thư dưới tựa đề "La vérité sur les relations vietnamo-chinoises durant les trente dernières années"(Sự thật về mối quan hệ Việt Hoa trong 30 năm qua),tài liệu trong đó họ đã phỉ báng Trung Hoa trong mọi lãnh vực bằng cách ngụy tạo lịch sử. Như thế,chúng tôi bị đưa vào tình cảnh phải trả lời để tái lập sự thật lịch sử.&lt;br /&gt;           &lt;br /&gt;Lịch sử không thể bị ngụy tạo và bóp méo,đó là một thực tế khách quan.Mối bang giao Hoa-Việt ngày nay bị suy sụp, nhưng chẳng bao giờ người ta có thể trình bày lịch sử sự hợp tác hữu nghị hoa-việt như là lịch sử được thêu dệt bằng mối bang giao thù nghịch,như là giới thẩm quyền Việt Nam đã làm bằng cách lấy một vị thế thuộc về «  chủ nghĩa lý tưởng lịch sử ».&lt;br /&gt;           &lt;br /&gt;Chúng tôi luôn luôn nghĩ rằng đó đã là một nghĩa vụ quốc tế đối với nhân dân Trung Hoa để đem lại một sự giúp đỡ cho nhân dân Việt Nam.Và sự giúp đỡ mang tính cách hỗ tương.Chúng tôi chẳng bao giờ hối tiếc đã giúp đỡ nước này trong quá khứ,ngay như hiện nay dù có sự chống đối của giới thẩm quyền Việt Nam đối với Trung Quốc.Bởi vì,những điều kiện lịch sử lúc đó đã đòi hỏi chúng tôi phải hành xử như thế.&lt;br /&gt;           &lt;br /&gt;Bạch thư của Bộ ngoại giao Việt Nam chỉ là một thứ tạp nham và là một thú nhận sự chối bỏ toàn di ện tình thân hữu hoa việt.Đó cũng là một hành vi đáng khinh bỉ,một điều hiếm có trong các biên niên của bang giao quốc tế.&lt;br /&gt;           &lt;br /&gt;           &lt;br /&gt;Trong cuốn Bạch Thư dài hơn 40.000 chữ,giới thẩm quyền Việt Nam đã nỗ lực ngụy tạo lịch sử,bằng cách trình bày bang giao giữa hai nước trong suốt ba mươi năm,mối bang giao thiết yếu, mang đặc tính thân hữu và hợp tác,như là lịch sử các ý đồ của Trung Hoa nhằm kiểm soát Việt Nam không hơn không kém.Trung Hoa bị kết án kể từ lúc thành lập Cộng Hoà Nhân Dân cho đến ngày nay.Các đồng chí Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai cũng như các nhà lãnh đạo Trung Hoa hiện nay đã bị công kích đích danh.Giới thẩm quyền Hà Nội tìm cách làm cho người ta tin rằng kể từ 1949,các nhà lãnh đạo &lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Trung Hoa tìm cách thôn tính  nước Việt Nam và từ điều này,họ đã đi đến chỗ toa rập trước tiên là với Pháp, sau đó là với Hoa Kỳ. Những kết luận của họ như sau : trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp,trong thời kỳ kháng chiến chống sự đánh chiếm của Mỹ và sau khi thống nhất Việt Nam,"Trung Hoa đã ba lần phản bội nhân dân Việt Nam,lần sau thâm độc hơn và hèn hạ  hơn lần trước ". &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;            &lt;br /&gt;Nhu thế,các giới thẩm quyền Việt Nam đã chà đạp dưới chân những lời xác nhận nổi tiếng của chủ tịch Hồ Chí Minh nói về mối bang giao Hoa-Việt, biểu lộ "sự chiếu cố sâu xa,sự trung thành mẫu mực và một tình thân hữu bền vững",và Việt Nam và Trung Hoa đã là "vừa là đồng chí vừa là anh em". Hà Nội cũng đã vứt vào quên lãng những lời tuyên bố trang trọng thường xuyên đề cao tình hữu nghị và hợp tác Hoa-Việt.Người ta còn nhớ đến những lời tuyên bố lập đi lập lại&lt;span style="font-weight: bold;"&gt; của Lê Duẫn "không có sự giúp đỡ của Trung Hoa,cách mạng Việt Nam không thể phát triển được","không có sự chi viện của đảng cộng sản Trung Hoa và chủ tịch Mao,chúng ta không thể đạt được chiến thắng".&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;           &lt;br /&gt;Ngày 20 tháng mười một 1977,lấy lại một phát biểu của cố thủ tướng Chu Ân Lai, ông ta hãy còn nói ở Bắc Kinh :&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;"Những người cộng sản và nhân dân Việt Nam hãnh diện vì đã có sát cánh những bạn đường tranh đấu đảng cộng sản và nhân dân Trung Hoa,những anh em đã coi việc chi viện cho cuộc đấu tranh ái quốc của nhân dân Việt Nam chống lại sự gây hấn Mỹ và chi viện cho công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa  như là nghĩa vụ quốc tế vô sản của họ". &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;           &lt;br /&gt;            &lt;span style="color: rgb(255, 0, 0);"&gt;Thế mà,trong cuốn Bạch Thư,giới thẩm quyền Hà Nôi cho rằng nước Trung Hoa chưa bao giờ là một bạn đường chiến đấu cũng chẳng phải là anh em với Việt Nam,mà chỉ là  một  "Machiavel","thâm độc","đê hèn","không biết tự kiếm chế" và "xảo quyệt". &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;             &lt;span style="color: rgb(255, 0, 0);"&gt;     &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;           &lt;br /&gt;Bằng cách ngụy tạo như thế các sự kiện lịch sử và bằng cách coi là "phản bội"sự giúp đỡ của Trung Hoa đã đóng góp vào chiến thắng của Việt Nam đối với thực dân Pháp và bọn gây hấn Mỹ, họ đả đặt chủ tịch HCM và Ủy Ban Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam thời đó vào một vị thế khó xữ, trong khi chính chủ tịch HCM và Ủy Ban Trung Ương lúc đó nắm  toàn quyền quyết định về mọi vấn đề liên hệ đến sự bang giao Hoa-Việt ? Theo luận cứ của giới  thẩm quyền VN hiện tại, thì hóa ra, chủ tịch HCM và các người lãnh đạo Việt Nam khác, phải chăng đã trở thành đồng loã cho "hành vi phản bội" của Trung Hoa?  .&lt;br /&gt;           &lt;br /&gt;Lê Duẩn và đồng bọn kể lể một cách hãnh diện trong Bạch Thư bằng cách nào bọn chúng đã kháng cự nhiều lần việc "áp đặt" của Trung Hoa, điều này chẳng có gì khác hơn là một sự bịa đặt,nhưng điều này đã chứng tỏ,ngoài ý muốn của các tác giả,rằng Lê Duẩn và đồng bọn,đã dấu mặt trá hình trong nội bộ Đảng CSVN ,(ghi chú người chuyển ngữ),  và chơi  trò hai mang, chống lại nguyên tắc hợp tác và hữu nghị với Trung Hoa khi chủ tịch Hồ Chí Minh áp dụng một cách  chặt chẽ . Kể từ 1978,bọn chúng đã công khai từ bỏ nguyên tắc này và đã công khai điên cuồng chống lại Trung Hoa. Điều này đánh dấu sự chấm dứt một tiến trình lịch sử đã đưa Lê Duẩn và đồng bọn,những kẻ phá hoại ở hậu trường những mối bang giao Hoa Việt,chiếm lấy hàng đầu trong tấn tuồng bài Hoa.Đây là một thảm kịch cho đảng (cộng sản) Việt Nam do chủ tịch Hồ Chí Minh thành lập cũng như cho nhân dân Việt Nam,rất gắn bó với tình hữu nghị Việt Hoa.&lt;br /&gt;           &lt;br /&gt;Trong cộng đồng quốc tế đương thời,sự biến tính của giới thẩm quyền Việt Nam thật đáng kinh ngạc.Âm mưu,dối trá,lợi dụng các cuộc di cư có tổ chức của người tị nạn,bọn chúng đã có một danh tiếng vững chắc trên thế giới.Bộ ngoại giao Việt Nam,bằng cách bóp méo các sự kiện lịch sử đã được thế giới biết đến trong cuốn Bạch Thư,đã chỉ gieo thêm một tai tiếng xấu trong mối bang giao quốc tế hiện tại. Điều này chỉ khiến những ai có công việc với chúng phải đề cao cảnh giác.&lt;br /&gt;           &lt;br /&gt;Người ta tìm thấy trong Bạch Thư một giải thích ng ụy biện về chánh sách nổi tiếng "cây gậy và củ cà rốt".Khi nước Trung Hoa cho Việt Nam một sự chi viện đồ sộ,chính là nước này dùng "củ cà rốt" để ve vãn Việt Nam ! Và Trung Hoa  bị cáo buộc đã đe doạ Việt Nam với "cây gậy" khi không thể thoả mãn hoàn toàn một yêu cầu viện trợ quá đáng của nước này ! Nói tóm  lại, từ lúc mà quý vị không đồng ý nữa với chánh sách gây hấn và bành trướng của giới thẩm quyền Việt Nam,sự giúp đỡ của quý vị trong quá khứ,dù rằng to lớn hay giới hạn,đều trở thành "tội ác". Đó là lô gích của giới thẩm quyền Việt Nam.Điều này sẽ đem lại sự suy tư cho những quốc gia đang giúp đỡ Việt Nam hay sẵn sàng để làm điều này.&lt;br /&gt;           &lt;br /&gt;Phương cách của  Việt Nam để bóp méo và ngụy tạo các tài liệu lịch sử trong cuốn Bạch Thư,thật hiếm hoi trong các biên niên về bang giao quốc tế và các nước có quan hệ với Hà Nội cần phải dè dặt.Ngày hôm nay,qúy vị đưa cho chúng biết một ý kiến,và ngày mai,chúng sẽ kể ra ở ngoài khuôn khổ, bóp méo theo ý muốn và kể cả cho thêm vào đó một vài bịa đặt của chúng,rồi chúng đem trình bày trước công luận dưới hình thức Bạch Thư.Chúng còn đi đến chỗ bóp méo các sự kiện lịch sử được thế giới biết đến,như là việc Trung Hoa cương quyết ủng hộ Samdech Norodom Sihanouk sau vụ đảo chánh của Lon Nol vào năm 1970 ở Cambodge. Bạch Thư khẳng định rằng Trung Hoa đã "yểm trợ" Lon Nol và "bỏ rơi ông Sihanouk".&lt;br /&gt;           &lt;br /&gt;Trong lúc  đó, trong hồi ký của mình, ông Hoàng Sihanouk nhắc lại rằng thủ tướng Chu Ân Lai đã mời tất cả các trưởng phái bộ ngoại giao tiếp đón ông Hoàng tại phi trường và Chu đã nói với ông Hoàng là :  «  Ngài  vẫn là Quốc Trưởng, vị Quốc Trưởng duy nhất – chúng tôi không bao giờ nhìn nhận ai khác ». Thật ra, không ai ngạc nhiên khi nghe những nhà báo quốc tế tại Hà Nội nói về quyển Bach Thư, nhận xét rằng chính Hà Nội cũng không biết làm cách nào để biến đổi những điều nói dối  của họ để có thể tin được.&lt;br /&gt;Tại sao lại ấn hành một Bạch Thư vào lúc này?Lời giải đáp của câu hỏi này phải được tìm kiếm trong những điều tối cần bắt buộc của chánh sách đối nội và đối ngoại của họ.&lt;br /&gt;           &lt;br /&gt;Trên bình diện đối nội,mục tiêu nhắm đến là để lừa bịp nhân dân Việt Nam,xoá bỏ kỷ niệm tình hữu nghị Hoa Việt và làm giảm thiểu sự bất mãn đối với cuộc sống hiện tại và đối với chánh sách bài hoa áp đặt  của giới thẩm quyền Việt Nam.&lt;span style="color: rgb(255, 0, 0);"&gt;Trong những năm chiến tranh,khi nhân dân Việt Nam chiến đấu cho sự giải phóng quốc gia,lương thực,y phục và nhiều đồ dùng thường ngày của biết bao nhiêu bộ đội,cán bộ và dân chính là do Trung Hoa cung cấp,kể cả những vũ khí mà họ sử dụng.Bây giờ hãy còn những xe vận tải Jiefang do Trung Hoa cung cấp chạy trong các thành phố cũng như tại nông thôn,những công trình xây cất nhờ ở viện trợ Trung Hoa rất nhiều  ở phiá bắc vĩ tuyến 17,và rất nhiều người Trung Hoa "vị nghĩa hi sinh" (martyrs) được chôn cất ở trên đất Việt.&lt;/span&gt; Nói chung,nhiều  khía cạnh khác nhau trong cuộc sống của nhân dân Việt Nam đã thắm đượm những kỷ niệm tình hữu nghị Hoa-Việt. Điều này tạo thành một trở ngại lớn cho việc áp dụng chánh sách bài Hoa của giới thẩm quyền Việt Nam.Nếu như những người này ngày nay coi nước Trung Hoa chưa bao giờ là một người bạn,nhưng là một kẻ thù của nhân dân Việt Nam "từ nhiều thế hệ qua ",chính bởi vì chúng cố biện minh  chánh sách bài Hoa của chúng.&lt;br /&gt;           &lt;br /&gt;Trên bình diện quốc tế,bọn chúng tìm kiếm,bằng cách làm như thế,để ra khỏi tình trạng bối rối tạo ra do việc gây hấn chống lại Kampuchea và việc chúng chiếm đóng Lào,do việc bành trướng của chúng trong những nước Đông Nam Á.&lt;br /&gt;           &lt;br /&gt;Hà Nội muốn làm thay đổi công luận.Hiện nay, khoảng 200.000 người Việt ở Kampuchea đã lập trận tuyến để tung ra một cuộc tấn công trong mùa khô,và đe dọa nghiêm trọng an ninh biên giới Thái Lan.Giới thẩm quyền Hà Nội tự thấy bị công luận thế giới lên án nghiêm trọng.Trong tình huống này,các tác giả của Bạch Thư nổ lực gieo rắc sự bất hoà giữa Trung Hoa và những nước khác,đặc biệt là những nước Đông Nam Á,bằng cách reo rắc tin đồn rằng Trung Hoa muốn chinh phục toàn bộ Đông Nam Á , và rằng "Đông Nam Á trong lịch sử đã là một mục tiêu truyền thống của chủ nghĩa bành trướng Trung Hoa". Họ ước tính  rằng những lời buộc tội vu khống đó có thể khỏa lấp được tiếng  súng đại bác vang rền  trong vùng biên giới Kampuchea-Thái Lan và những tiếng rên rỉ của hằng ngàn và hằng ngàn người dân xứ Kampuchéa bị đặt dưới ách bọn chiếm đóng người Việt. Điều này làm nghĩ đến việc một tên trộm tự bịt lỗ tai để khỏi điếc tai khi ăn cắp chuông.&lt;br /&gt;           &lt;br /&gt;            &lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Bạch Thư cho thấy việc Việt Nam tìm kiếm bá quyền trong vùng Đông Nam Á và việc theo đuổi chánh sách bài Hoa là hai khía cạnh của một vấn đề. Giới thẩm quyền Việt Nam toan tính làm bá chủ  trong vùng Đông Dương và Đông Nam Á.Trung Hoa không hỗ trợ bọn chúng.Như thế bọn chúng thù nghịch chúng tôi và chống lại Trung Hoa&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;           &lt;br /&gt;            &lt;span style="color: rgb(255, 0, 0);"&gt;.Đó là nguồn gốc tranh chấp Hoa-Việt.Mong muốn có được một sự chi viện quốc tế,bọn bá quyền khu vực Việt Nam chỉ có được Liên Bang Sô Viết. Nhưng cái giá phải trả cho sự hậu thuẫn này,chính là việc chống đối lại Trung Hoa ở mỗi trường hợp,biến thành "Cuba châu Á" và phục vụ cho chánh sách Nam tiến của bá quyền Sô viết&lt;/span&gt;.Nếu giới thẩm quyền Việt Nam đã bóp méo theo ý họ lịch sử bang giao Hoa-Việt và cao giọng trong sự tuyên truyền bài Hoa của họ đến một mức độ xuẩn động như thế,chính là vì sự tìm kiếm bá quyền khu vực,của Việt Nam,đã gặp phải sự kháng cự mạnh mẽ  từ trong cũng như ở ngoài nước.Bạch Thư là một cuốn cẩm nang , xét một cách tiêu cực, giúp người ta thấy rõ được bản chất cường đạo của bọn bá quyền khu vực Việt Nam và biết rõ hơn hạnh kiểm đáng phỉ nhổ trong mối bang giao quốc tế.Nó trở thành một bài học  hữu ích cho tất cả những ai có công việc  với thẩm quyền Hà Nội.&lt;br /&gt;           &lt;br /&gt;(14 tháng mười một 1979)&lt;br /&gt;           &lt;br /&gt;            &lt;div style="text-align: left;"&gt;             &lt;ul&gt;               &lt;li&gt;&lt;big style="font-weight: bold; color: rgb(51, 51, 255);"&gt;Bản văn pháp ngữ&lt;/big&gt;&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;div&gt;&lt;span class="Apple-style-span"   style="font-size:6;color:#3333FF;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: 19px;"&gt;&lt;b&gt;            &lt;br /&gt;            &lt;div style="text-align: center; margin-left: 40px;"&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(255, 0, 0);"&gt;&lt;img alt="" src="http://tinparis.net/lichsu/BachThu_TCongTraloi_CSVN-1979_HoaViet.jpg" style="width: 342px; height: 536px;" align="left" /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;            &lt;/div&gt;            &lt;br /&gt;           &lt;br /&gt; &lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;span class="Apple-style-span"   style="font-size:6;color:#3333FF;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: 19px;"&gt;&lt;b&gt;&lt;img alt="" src="http://tinparis.net/lichsu/BachThu_CSVN-1979_HoaViet.jpg" style="width: 307px; height: 413px;" /&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;span class="Apple-style-span"   style="font-size:6;color:#3333FF;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: 19px;"&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;span class="Apple-style-span"   style="font-size:6;color:#3333FF;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: 19px;"&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4128474229374807245-8807495938692371627?l=thoisukynguyen2000.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</description><link>http://thoisukynguyen2000.blogspot.com/2009/07/trung-cong-tra-loi-ve-quyen-bach-thu.html</link><author>noreply@blogger.com (Thoi Su Ky Nguyen 2000)</author><thr:total xmlns:thr='http://purl.org/syndication/thread/1.0'>0</thr:total></item><item><guid isPermaLink='false'>tag:blogger.com,1999:blog-4128474229374807245.post-6812292171231418240</guid><pubDate>Thu, 02 Jul 2009 23:28:00 +0000</pubDate><atom:updated>2009-07-02T16:40:10.199-07:00</atom:updated><category domain='http://www.blogger.com/atom/ns#'>Trong lòng  hệ-thống  Tình báo Công An Mật vụ cộng-sản Các phân-sở (1917-1990)  -1-</category><title>Trong lòng  hệ-thống  Tình báo Công An Mật vụ cộng-sản Các phân-sở (1917-1990)  -1-</title><description>&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: x-large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span"  style="color:#FF0000;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: x-large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span"  style="color:#FF0000;"&gt;&lt;b&gt;Trong lòng  hệ-thống    Tình báo Công An Mật vụ cộng-sản&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;b&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: x-large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span"  style="color:#FF0000;"&gt;Các phân-sở (1917-1990)  &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: x-large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span"  style="color:#FF0000;"&gt;-   Bài 1 -&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;span&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"&gt;&lt;img id="Image_x0020_1" src="http://us.mg4.mail.yahoo.com/ya/download?mid=1%5f3885915%5fAL8aiWIAAKc5Sk06gQzFQHFPbK8&amp;amp;pid=2&amp;amp;fid=Inbox&amp;amp;inline=1&amp;amp;stationery=1" alt="http://www.tinparis.net/icone/aboule02.gif" width="14" height="14" /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;i&gt;&lt;span&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"&gt;*Gián-điệp bao-trùm   toàn-thể các hoạt-động về nghiên-cứu và   khai thác thông-tin về mọi loại vì lợi-ích của   đệ tam nhân.Mọi quốc-gia đều   thực-hành gián-điệp..Dẫu sao cũng có một   khác-biệt sâu xa về bản-chất giữa những   sở gián-điệp cộng-sản và   tây-phương.Trong khi ở tây phương,các sở   gián-điệp,phản-gián và các cơ-quan lo về an-ninh   như cảnh-sát hay là quan-thuế là những định   chế pháp-lý,bị kiểm soát trên bình diện lập   pháp,được phân-biệt trên bình-diện cơ   cấu và tài-chánh,điều này hoàn toàn khác hẳn trong các   nước cộng-sản.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;&lt;span&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"&gt;                                                 &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"&gt;KGB của liên-sô hay Securitate của Lỗ Ma Ni là những   "chiếc mộc và lưỡi kiếm" của   đảng cộng-sản và được giao cho   nhiều nhiệm-vụ .Trong số những   nhiệm-vụ này,có an-ninh   nội-địa,phản-gián,an-ninh   biên-giới,gián-điệp,và cuối cùng   họat-động khủng-bố.Dẫu sao tầm vóc   kinh tế cũng đã trở thành quan trọng song song   với những khó khăn kinh tế mà các nước   cộng-sản gặp phải trong thập-niên 1980.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;/span&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;    &lt;ul type="disc"&gt;    &lt;li class="MsoNormal" style="text-align: justify;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"&gt;Các phân-sở        như cảnh-sát chánh-trị. ( thường        được hiểu như là công an mật vụ)&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/li&gt;    &lt;/ul&gt;   &lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;span&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"&gt;Tổ-chức cảnh-sát chánh-trị cổ nhất   của cộng-sản là Tcheka [1].&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"&gt;  Được   tạo-dựng ngày 21/12/1917 theo quyết định   của Hội-Đồng Ủy-Viên Nhân-Dân, tổ   chức có mục tiêu như là "một bộ-phận   của chuyên chánh vô-sản" để bảo-vệ   "an-ninh nhà nước".Đặt dưới   quyền điều khiển của một nhà cách-mạng   gốc Ba-Lan Félix Dzerjinski cho đến lúc bị giải   tán vào năm 1922,sau cuộc mưu-sát Lénine vào tháng 8 năm   1918, Cơ quan nầy đã  tổ chức thanh-toán   một cách có hệ-thống phe đối lập    với chéđộ sô-viết. Trong vài tuần   lễ,hơn 50000 người đã bị thanh-toán,trong   số đó có những công-nhân đình-công,những   người vô chánh phủ,những thành phần thiểu   sộ Menchéviks),những thành viên Nga -hoàng;nhưng cũng   có cả những nông-dân từ chối đáp-ứng   việc trưng thu.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;      &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;   &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"&gt;Tcheka vào năm 1918 &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"&gt;có 15000 cộng sự viên,năm   1919 có được 37000,xử dụng 260000 vào năm   1921 và đến cuối 1921 còn 120000.Nó đặt trụ   sở trung ương ở Moscou trong một toà nhà ở   Loubiankia (đường GrandêL oubiankia),cho đến nay   vẫn còn được tổ chức mật vụ Nga   xử dụng.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"&gt;Vào năm 1922,nó được thay thế bằng Gúpéou   [2]. Được Vlatcheslav   Menjinski,, điều-khiển từ 1923 cho đến   khi bị giải tán vào năm 1934,tổ chức Guépéou (có   75000 nhân viên vào năm 1924 trong đó có 27000 lính biên phòng) có   qui chế ủy ban nhân dân.Nó chịu trách-nhiệm cho   đến 1934 về việc theo đuổi chánh sách khủng   bố của Staline chống lại nhân dân Liên Bang Sô   Viết (ví dụ như người xứ Géorgie,Casaque   hay xứ Tchéchénie) và việc thanh-toán một số   rất đông các đối lập ở trong và ngoài   nước.Nó cũng  giám sát việc áp dụng các   kế-hoạch ngũ niên và tranh-đấu chống   lại việc "phá-hoại kinh-tế" và tái tổ   chức, Kế đó phát-triển hệ thống   tập-trung thừa kế của chủ nghĩa sa-hoàng   (200.000 tù nhân vào năm 1929).Nó có một hệ-thống   gián-điệp (Inostrannyjotdel- INO).Năm 1934,OGPU xát   nhập vào NVKD.[3]&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;   &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;   &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"&gt;NVKD (&lt;/span&gt;có 500.000 nhân viên vào năm 1941)&lt;/span&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"&gt; cho đến khi   biến mất vào năm 1946,sẽ là công cụ khủng   bố của Staline,đã làm chết nhiều triệu   người.Người lãnh đạo chánh là Lavrently   Pavlovitch Beria,cũng  bị thanh trừng vào năm   1953, áp dụng một sự khủng bố đa   dạng (1.500.000 người bị bắt giữ và   700.000 người bị hành-quyết từ 1937-1938)   đã nhiều đợt đụng tới bộ máy an   ninh và đánh vào mọi tầng lớp trong xã-hội và   trong đảng (những vụ án lớn ở   Moscou).Chịu trách-nhiệm về các trại tập-trung   Goulag,nhưng cũng cả những tù nhân   chiến-tranh,NKVD đã hoàn-thiện hệ-thống   tập-trung thời sa-hoàng nhằm để   tận-diệt,nhưng cũng để dùng trong   kinh-tế sô-viết (mỏ ở Kolyma).  NKVD cũng chiụ   trách-nhiệm về tội ác chiến tranh như việc   ám-sát 14552 sĩ-quan Ba Lan ở Katyn vào tháng tư- năm   1940.Vào năm 1943,cơ-quan này để mất   quyền quản-trị việc gián-điệp vào tay NKGB   (1946 có 115000 nhân viên trong đó 60000 nhân viên của ban thanh   toán gián điệp Smersh) và chỉ còn trách-nhiệm về   an-ninh nội-vụ của chế-độ và   biên-giới..Vào tháng tư 1946,NKVD trở thành MVD[4],Bộ   Nội Vụ, đã đổi dạng thay hình vào năm   1954 trở thành một tổ-chức cảnh-sát   cổ-điển.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;i&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"&gt;NKGB,Ủy Ban Nhân Dân An Ninh Quốc   Gia,&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"&gt;đã có ngoài việc   gián-điệp,nhiệm-vụ phản-gián,an-ninh vận-   chuyển,khủng-bố trong những vùng đất   chiếm đóng,mật-mã,việc bảo-vệ đảng   và những nhân-vật lãnh-đạo của Liên-Bang   Sô-Viết.Vào năm 1946,NKGB trở thành MGB,bộ An-Ninh   Quốc-Gia,và duy trì các chức năng của nó.Năm   1954,MGB cho ra đời KGB,"ủy ban an ninh nhà   nước",sẽ được giải tán vào   năm 1991.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"&gt;   &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;   &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"&gt;KGB đã duy trì trong những thập niên này hầu như   cùng một tổ chức thành  phân đội   (gián-điệp,phản gián,và phản gián quân sự).&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"&gt;   Nó cũng có nhiệm vụ  chống tham nhũng và   hình-sự kinh-tế và duy trì một hệ thống to   lớn nhằm kiểm soát nhân dân bằng kỹ thuật   và xuyên qua các điềm chỉ viên..Có được các   toán tinh nhuệ,KGB cũng có trách nhiệm bảo vệ an   ninh biên giới,truyền tin,giao thông,nhưng cũng   cả việc quản trị các trại và các trung tâm   đàn áp chuyên môn(nhà tù đặc biệt và nhà   thương điên).Nó vừa là một thứ cảnh   sát chánh trị và một sở tình báo có một hiệu quả   rất cao.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"&gt;   &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;   &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"&gt;Các tổ-chức và phương-pháp của cảnh-sát   chánh-trị những quốc-gia cộng-sản theo   sô-viết hay độc-lập như Roumanie,Yougoslavi e và   Albanie cũng giống nhau.Mẫu- mực tchékiste sô   viết (Tcheka, NKVD và KGB) đã được dùng làm   khuôn-mẫu về tổ- chức và ý-thức-hệ.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;   &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"&gt;Liên-Bang Sô-Viết trong suốt thời gian hiện hữu   luôn luôn cảm thấy sự đe doạ thường   xuyên bởi các kẻ thù ở trong và ngoài nước.Các   chế-độ cộng-sản được tạo   dựng không có tính cách  hợp pháp dân chủ   sau năm 1945 ở Âu Châu cũng chia sẻ sự tin   tưởng này. Các giới chánh trị ưu tú cộng   sản e dè đối với nhân dân và thấy ở   đâu cũng có những âm-mưu và những hình-thức   chống đối mà họ cần phải loại   trừ không thương xót. Cac phương-pháp sô-viết   được áp dụng ở mọi nơi mọi   chỗ/ tạo ra hay tái phục hoạt các trại   tập trung,lưu đày sang LBSV,thanh toán các trí thức   đối lập 5 như ví dụ ở Tiệp Khắc   đã có hơn 100000 người từ 1948 đến   1954,ở Ba Lan từ 1944 đến 1956 có 243.066   người bị bắt giữ, khoảng 73000   người bị kết án ở nước Roumanie   từ 1950 đến 1958).&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;   &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"&gt;Sự  bạo-ngược này một phần là do các   kinh nghiệm sống của những nhà lãnh-đạo   cộng-sản được đưa lên cầm   quyền ở Cộng Hoà Dân Chủ Đức(RDA),ở   LõMâNi,ở Bảo Gia Lợi,Ba-Lan,ở Tiệp   Khắc...Một số trong bọn họ như Erich   Honecker đã nếm mùi trại tập trung của   quốc-xã,những người khác đã sống sót   ở Moscou sau những tố giác và thanh trừng từ   năm 1936 đến 1938.Bọn họ biết là bị   Staline trông chừng và sẵn sàng hi-sinh họ trong   trường-họp  nguội lạnh   ý-thức-hệ.Các cuộc kháng-chiến  quân-sự   như các du-kích ở Ukraine hay ở Lỗ Ma Ni mặc dù   bị nghiền nát,đã chứng tỏ trội hẳn   là các dân tộc có khả năng trỗi dậy chống   lại chủ-nghĩa cộng-sản. Cuộc nổi   dậy ở Bá Linh năm 1953 đã xác nhận   điều này.Cuộc nổi dậy này đã hằn sâu   vào tâm lý an-ninh của giới lãnh đạo   cộng-sản và cảnh sát chánh-trị.( cơ quan Stasi   đã hoàn toàn không ngờ tới) và rõ ràng là đã đúng   mức thuyết phục điều chẳng có gì bảo   đảm sự an-toàn của hệ-thống cộng-sản   cả.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;   &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"&gt;Sự đe doạ hai mặt ở nước ngoài   (chiến tranh lạnh) và ở trong nước (các   đối kháng xã-hội) đã đưa đến   việc cảnh sát chánh trị mở rộng các   đặc-quyền,chuyên biệt hoá các môi trường   hoạt động và tăng cường trên bình diện   tổ chức.Sau khi đè bẹp cuộc nổi dậy   năm 1953,cảnh sát chánh-trị hiểu được   là họ phải đạt tới việc kiểm soát   dân chúng,không phải chỉ bằng đàn áp hay bằng   sự thường xuyên đe dọa đàn áp,nhưng   cũng còn bằng việc xâm nhập vào mọi từng   lớp,để khả dĩ biết được có   sự nguy hiểm trỗi ra.Chính ở thời   điểm này hệ thống cộng tác viên và   điềm chỉ viên được lập ra và sẽ   được tiếp tục hoàn-hảo -hoá cho   đến năm 1989.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;   &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"&gt;Về phiá bên ngoài,cảnh sát chánh-trị phát triển   hoạt động gián-điệp quân-sự,kinh-tế   và chánh-trị,nhưng cũng trang bị các phương   tiện để thanh-toán các thành phần đối   lập bên ngoài như (từ năm 70 trở đi) các   chi-bộ yểm trợ hay hoạt động   khủng-bố.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;   &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;   &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"&gt;Ngay từ đầu những năm 50,&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"&gt; cảnh sát   chánh trị cộng sản có những cách hành-động   như nhau.Nó tạo thành một yếu tố trung tâm   của hệ thống thống trị và quyền lực   của đảng cộng sản,nhưng không bao giờ   giữ độc quyền các phương tiện   cưỡng chến, Tất cả các Nhà Nước   cộng-sản đều có những lực lượng   cảnh-sát thường trực,có nhiệm vụ duy trì   trật tự thường nhựt và chiến   đấu chống lại các hình sự thông   thường.Tuy nhiên,tương-quan giữa đảng   cộng-sản lãnh đạo và cảnh-sát chánh-trị   chẳng bao giờ đơn phương.Cảnh sát chánh   trị vừa là kẻ tuỳ thuộc vừa là diễn   viên của hệ thống chánh-trị.Những   định chế này càng ngày càng trở nên thư   lại,đi từ chức năng quan trọng lớn   dần của việc gián-điệp kinh-tế   đối với sự ổn định của hệ   thống cộng sản,đã đòi hỏi và luôn luôn   đạt được ngày càng nhiều phương   tiện.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"&gt;   &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"&gt;Pháp luật để phục vụ chánh-trị và   đảng cộng-sản lãnh-đạo.Các   cộng-sự-viên của cảnh-sát chánh-trị thực   ra trên hình-thức phải tôn trọng luật lệ và các   nguyên tắc hiến-định,nhưng trên nguyên tắc   luôn luôn dành ưu tiên cho quyền lợi đảng!&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;   &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;   &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"&gt;Tất cả mọi loại cảnh sát chánh-trị   đều được coi là "chiếc mộc và   lưỡi kiếm của đảng"&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"&gt; và chỉ   bị kiểm soát bởi thành phần cốt lõi và   những ban chấp hành của đảng cộng   sản,các cơ quan tư pháp chẳng mảy may ảnh   hưởng đến các cuộc điều   tra,những vụ bắt giữ,điều kiện giam   cầm...Cảnh sát chánh trị có thể bắt giữ -   sau khi được sự chấp thuận của   đảng - bất kỳ người nào và giam giữ   họ trong những nhà tù đặc biệt,chẳng   để cho họ được hưởng các   quyền tư pháp được cam đoan. Các   phương pháp điều tra để tuỳ ý cảnh   sát chánh trị,cho đến năm 1991 sự tra tấn   và sự hành quyết.Cho đến năm 1986,cảnh sát   chánh trị không có quyền tự động hoạt   động và chẳng bao giờ là một "nhà   nước trong một nhà nước".Sự tuỳ   thuộc vào đảng vẫn còn trọn vẹn,ngay   cả trong thời kỳ  đổi mới perestrôïka,các   cảnh sát chánh-trị (dưới áp lực của sô   viết) giữ một vai trò trong việc lật   đổ một số ban lãnh đạo chánh trị   bảo thủ (RDA,Tchélosvaquie, Roumanie. ..)&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"&gt;   &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;   &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"&gt;Ở mức độ tổ chức,trong lúc ở   RDA,tổ chức MIS có qui chế một bộ&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"&gt;,các   cảnh sát chánh trị trong những nước cộng   sản thuộc về Bộ Nội Vụ.Các thủ lãnh   của họ thông thường mang cấp thứ   trưởng nội vụ.Trong mỗi nước khu   vực quân sự có hệ thống gián   điệp  và an ninh của nó, Ở URSS có GRU.Tất   cả các cảnh sát chánh trị có hai chức năng   nội vụ lo việc gián-điệp và bộ máy an ninh   nội vụ (kể cả phản gián) thường   được chia làm nhiều phân bộ hay khu vực can   thiệp đặc biệt giữ việc hợp tác   với nhau.Sở gián điệp chẳng hạn giúp   việc duy trì an ninh nội vụ bằng cách để   cho xử dụng các nguồn tin.Sở phản gián   thường xuyên tác động ở hải ngoại.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"&gt;   &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;   &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;   &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"&gt;Theo kiểu mẫu S6-viết,các cảnh sát chánh trị   được chuyên-nghiệp hoá rất sớm&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"&gt;.Các   lực lượng này có các trường học và   đại học,các đội chuyên môn như   đội phòng vệ Felix Dzerjinski,có cư xá,nhà giữ   trẻ,câu lạc bộ thể thao (ví dụ Dynamo   Berlin).Người ta cũng ghi nhận một tỉ   lệ lớn việc kết hôn trong nội bộ và   sự hiện hữu nhiều thế-hệ   tchékiste,thế hệ đầu tiên  vào năm 50 gồm   rất nhiều đảng viên (ngoại trừ ở   R.D.A.Xã hội học về cảnh sát chánh trị cho   thấy - ngoài việc thuộc về một giai cấp -   có một phần tăng tiến về người có   bằng cấp.Theo chiều hướng này,cảnh sát   chánh trị tạo thành một giới thượng   lưu được ưu đãi.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"&gt;   &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"&gt;Có sự khác biệt rất lớn về tầm vóc   của các phân sở,nhưng cũng đối với   cả việc bủa lưới bọc dân chúng.MIS   chiếm kỷ lục với 91O15 cộng tác viên vào   năm 1989,tức là &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"&gt;1 tchékiste cho 180 người dân   ở Cộng Hoà Dân Chủ Đức(RDA hay Đông   Đức)&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"&gt;.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"&gt;Ở LBSV,tỉ lệ này là 1 cho 595.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: large;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-weight: normal;"&gt;Cảnh sát chánh trị dựa trên một màng lưới   mật báo viên rộng lớn đến từ mọi khu   vực của xã hội,ngoại trừ các phân sở   tự họ đã có một hệ thống nội   bộ canh chừng các thành viên của họ.Tại   Cộng Hoà Dân Chủ Đức,hệ thống mật   báo viên chánh thức lên khoảng 170000 người,tổ   chức Stasi có hơn 4 triệu hồ sơ cá nhân về   các người thù nghịch hoặc có thể thù   nghịch chống lại việc "xây dựng chủ   nghĩa xã hộỉ&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;   &lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: large