Tuesday, April 14, 2009

NB Viet thuong Quan Điểm ve GS Phó Bá Long Đầu Hàng VGCS





thttp://nguoivienxu.vietnamnet.vn/doisongnvx/2009/02/831230/
từ biệt Giáo sư Phó Bá Long
09:24' 22/02/2009 (GMT+7)


Giáo Sư Vincent Ambrose Phó Bá Long, Nguyên Khoa Trưởng Trường Chính trị Kinh doanh CTKD – Viện Đại học Đà Lạt, cựu Giảng sư tại trường đại học American và Georgetown, là một người thầy đã suốt đời tận tuỵ vì sự nghiệp giáo dục và quảng bá tinh thần Thụ Nhân cho các môn sinh trong nước và hải ngoại.

Giáo Sư Phó Bá Long đã từ trần lúc 23g30 ngày 17 tháng 02 năm 2009 tại Virginia - USA, hưởng thọ 86 tuổi.

Chuyên trang Người Viễn Xứ, báo VietNamNet thành kính phân ưu cùng gia đình, cầu mong linh hồn Giáo sư yên bình và thanh thãn.

NVX


-



-

(Quỳnh Lệ thực hiện)

CÁO PHÓ


Chúng tôi đau đớn báo tin cùng thân bằng, quyến thuộc:


Chồng, Cha của chúng tôi là: Giáo-Sư Vincent Ambrose PHÓ BÁ LONG

Nguyên Khoa-Trưởng Trường Chánh-Trị Kinh-Doanh Viện Đại-Học Đà-Lạt

đã được Thiên Chúa gọi về ngày 17 tháng 2 năm 2009 tại thành-phố McLean, tiểu-bang Viginia , USA. Hưởng thọ 86 tuổi

Lễ phát tang sẽ được cử-hành vào lúc 11:00 giờ sáng ngày Thứ Bảy, 21-02-2009 tại Fairfax Memorial Funeral Home.


Lễ viếng: Thứ Bảy, 21-02-2009, từ 12:00 giờ trưa đến 08:00 giờ tối và Chúa Nhật, 22-02-2009, từ 12:00 giờ trưa đến 06:00 giờ chiều.


Nghi-thức vinh danh và từ biệt sẽ được bắt đầu vào lúc 04:00 chiều Chúa Nhật

Thánh lễ cầu-nguyện sẽ được cử-hành từ 10:00 AM - 11:00 AM ngày Thứ Hai, 23-02-2009, tại Nhà Thờ Các Thánh Tử-Đạo Việt-Nam, thành-phố Arlington, Virginia.


Tiếp theo là lễ di quan và an-táng vào lúc 12:00 giờ trưa tại Fairfax Memorial Park , số 9900 Braddock Road , Fairfax , VA 22032 .

Theo ước-nguyện của Giáo-sư Phó Bá Long, quí vị có thể gửi các khoản hiện-kim phúng-điếu về cho Dalat University Alumni Charitable Trust (DUACT), một tổ-chức thiện-nguyện nhằm phục-vụ cho sự-nghiệp giáo-dục:

DUACT
13211 Sheer Water Drive
Houston, TX 77082


Tang-gia đồng khấp báo

Bà Quả-Phụ Phó Bá Long và các con:
Trưởng Nam Phó Bá Hồng-Phong
Trưởng Nữ Phó Thị Lệ-Thu
Thứ Nam Phó Bá Hồng-Tâm
Thứ Nam Phó Bá Hồng-Quang
Thứ Nữ Phó Thị Long-Châu
Thứ Nam Phó Bá Hồng-Minh

Phân ưu

Toàn thể gia đình Thụ Nhân Việt Nam và Duact VN v
ô cùng thương tiếc khi nhận được tin: Giáo Sư Vincent Ambrose Phó Bá Long, Nguyên Khoa Trưởng Trường Chính trị Kinh doanh CTKD – Viện Đại học Đà Lạt đã vĩnh viễn ra đi lúc 11g 30 tối ngày 17-02-2009 tại Virginia - USA, hưởng thọ 86 tuổi.


Giáo Sư Phó Bá Long – Người Thầy vĩ đại và rất tôn kính của chúng ta, đã suốt đời tận tuỵ vì sự nghiệp giáo dục và quảng bá tinh thần Thụ Nhân cho các môn sinh trong nước và hải ngoại. Đặc biệt thầy rất gần gũi với các môn sinh trong nước kể từ sau 1975 đến nay.

Sự ra đi của thầy không chỉ là nỗi mất mát riêng đối với gia đình thầy cô mà còn là nỗi mất mát chung không gì bù đắp được đối với môn sinh chúng ta.

Đại diện cho Gia đình Thụ Nhân VN và Duact VN, chúng con xin thành kính phân ưu cùng cô và toàn tang quyến Giáo xứ Bình Triệu, quân Thủ Đức, TPHCM vào lúc 9g sáng ngày 22/2/2009.

Cũng xin các bạn Thụ Nhân trên toàn thế giới cùng lúc cầu nguyện vào thời điểm Thánh lễ được tổ chức để cầu mong linh hồn thầy sớm về hưởng Nhân Thánh Chúa

Trân trọng,

T/mBan Đại diện Thụ Nhân VN và Ban đại diện Duact VN

Cao Đình Phúc

TIỂU SỬ GIÁO SƯ PHÓ BÁ LONG (1922-2009)


*Giáo sư PHÓ BÁ LONG sinh tại Hà Nội năm 1922.
* Năm 1934 (12 tuổi) : theo học trường Francis Xavier (Thượng Hải - Trung Quốc), học vỡ lòng tiếng Anh với Giáo sư Rose. Trong gần 6 năm học ở Thượng Hải, cậu gia nhập Phong trào Hướng đạo và tham gia các trại họp bạn (jamboree) tại Uy Hải Vệ. Sau này, Thầy Phó Bá Long gọi các sinh viên Đại Học Đà Lạt là ‘‘đại học sĩ ’’ (大學士) để ghi nhớ những ngày du học ở Thượng Hải.
* Năm 16 tuổi, cậu Long bị hư mắt phải vì bị trái banh quần vợt đập trúng mắt kiếng.
* Ngày 3-5-1937 : Cậu được Linh mục La Faye rửa tội.
* Tháng 12-1939 : Cậu đậu bằng Senior Cambridge.
* 1940 : về nước.
* 1941 : học trường Bưởi với GS Nguyễn Mạnh Hà. Năm 2008: Thầy Phó Bá Long dịch cuốn ‘‘Un excommunié’’(1992) của Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Tường sang tiếng Anh với tựa đề ‘‘An Excommunicated’’ để vinh danh người thầy cũ ở Trường Bưởi Hà Nội.
* 1954 : Chủ tịch Hội Sinh viên Công giáo tại Bắc Mỹ
* 1956 : MBA Harvard Business School, University.
* 1960 : Quản trị viên Ngân hàng Quốc gia Việt Nam
* 1964 : Linh mục Viện Trưởng Nguyễn Văn Lập có công sáng lập Trường Chánh Trị Kinh Doanh cùng với GS Trần Long, GS Phó Bá Long, GS Vũ Quốc Thúc và GS Bùi Xuân Bào. GS Trần Long làm Khoa trưởng tiên khởi. GS Phó Bá Long diễn giảng môn Quản Trị Học. Sau này, Thầy Phó Bá Long thuật lại việc giảng dạy môn học mới mẻ này như sau :
‘‘Tôi diễn giàng bài đầu tiên về Dẫn Nhập Vào Quản Trị Học trong giảng đường Spellman. Giảng đường tràn ngập những người. Tôi thấy thật phấn khởi trước những khuôn mặt thanh niên nam nữ ham hở học hỏi. Xử dụng các kỹ thuật học được trong nhiều kinh nghiệm giáo dục khác nhau của tôi, tôi đã có cách tiếp cận không theo bài bản giảng dậy cổ truyền cho người Việt Nam. Tôi phân phối các tư liệu giáo trình cho sinh viên để họ đọc trước khi nghe giảng bài lần sau. Tôi chỉ định dự án nghiên cứu và triển khai cho các nhóm nghiên cứu thảo luận ngay trong lớp học. Tôi khuyến khích sinh viên nỗ lực học hỏi trong tinh thần phát triển tri thức mà không nhất thiết chỉ học để có được điểm tốt. Tôi giới thiệu phương pháp phân tích điển cứu. Phương pháp này đòi hỏi phải sưu tầm, thảo luận, trao đổi ý kiến và nhất là thái độ ứng xử xã hội. Khi đó phương pháp tiếp cận ấy là hoàn toàn mới mẻ đối với các thanh niên này. Họ thường có thói quen thụ động nghe giảng bài, ghi chú, rồi nhớ kỹ để lo thi cử, mà không trao đổi qua lại với giáo sư và sinh viên. Muốn khuyến khích sinh viên tham gia lớp học hơn nữa, có khi tôi lẻn đến chỗ một vài nữ sinh viên trông còn nhút nhát, đặt những câu hỏi trước tôi sẽ hỏi trong lớp sau. Khi có người trong các sinh viên hay bép xép mà không trả lời kịp, tôi có thể chỉ đến một “tay đã mớm trước” đưa ra câu trả lời khiến mọi người ngạc nhiên.’’
* 1971 : GS Phó Bá Long đảm nhận chức vụ Khoa trưởng Trường Chánh Trị Kinh Doanh.
* 1971 : GS Phó Bá Long kiêm nhiệm chức vụ Khoa trưởng Trường Cao học Chánh Trị Kinh Doanh. Từ 1964 đến 1975, có 9694 người ghi tên theo học cử nhân CTKD và 1177 người ghi tên Cao học CTKD, trong số có 904 tốt nghiệp cử nhân CTKD và 51 tốt nghiệp Cao học CTKD.Trong thời gian làm Khoa trưởng, GS Phó Bá Long có công thiết lập hệ thống bảo huynh (保 兄) theo đó sinh viên các lớp đàn anh giúp đỡ các sinh viên mới nhập học.
* Giáo sư PHÓ BÁ LONG trút hơi thở cuối cùng hồi 11 giờ 30 ngày 17 tháng 2 năm 2009 tại nhà riêng : 6713 Lumsden St - Mc Lean, VA 22101 sau khi đã nhận các phép bí tích do người cháu là LM Phó Quốc Luân cử hành và với sự chứng kiến của phu nhân là Bà Claire.

(Lê Đình Thông,Tốt nghiệp Cao học CTKD, ghi thuật)



Tiểu Sử Giáo Sư Phó Bá Long


TIỂU SỬ GIÁO SƯ PHÓ BÁ LONG (1922-2009)

- Giáo sư PHÓ BÁ LONG sinh ngày 25 tháng 4 năm 1922 tại Hà Nội.

- 1934 (12 tuổi) : theo học trường Francis Xavier (Thượng Hải - Trung Quốc), học vỡ lòng tiếng Anh với Giáo sư Rose. Trong gần 6 năm học ở Thượng Hải, cậu gia nhập Phong trào Hướng đạo và tham gia các trại họp bạn (jamboree) tại Uy Hải Vệ. Sau này, Thầy Phó Bá Long gọi các sinh viên Đại Học Đà Lạt là ‘‘đại học sĩ ’’ (大學士) để ghi nhớ những ngày du học ở Thượng Hải.

- Năm 16 tuổi, cậu Long bị hư mắt phải vì bị trái banh quần vợt đập trúng mắt kiếng.

- Ngày 3-5-1937 : Cậu được LM La Faye rửa tội, tên thánh là Vincent-Ambroise.

- Tháng 12-1939 : cậu đậu bằng Senior Cambridge.

- 1940 : cậu Long về nước.

- 1941 : học trường Bưởi với GS Nguyễn Mạnh Hà. Năm 2008: Thầy Phó Bá Long dịch cuốn ‘‘Un excommunié’’(1992) của Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Tường sang tiếng Anh với tựa đề ‘‘An Excommunicated’’ để vinh danh người thầy cũ ở Trường Bưởi Hà Nội.

- 1954 : Chủ tịch Hội Sinh viên Công giáo tại Bắc Mỹ.

- 1956 : MBA Harvard Business School, University.

- 1960 : Quản trị viên Ngân hàng Quốc gia Việt Nam

- 1964 : Linh mục Viện Trưởng Nguyễn Văn Lập có công sáng lập Trường Chánh Trị Kinh Doanh cùng với GS Trần Long, GS Phó Bá Long, GS Vũ Quốc Thúc và GS Bùi Xuân Bào. GS Trần Long làm Khoa trưởng tiên khởi. GS Phó Bá Long diễn giảng môn Quản Trị Học.

Sau này, Thầy Phó Bá Long thuật lại việc giảng dạy môn học mới mẻ này như sau :

‘‘Tôi diễn giàng bài đầu tiên về Dẫn Nhập Vào Quản Trị Học trong giảng đường Spellman. Giảng đường tràn ngập những người. Tôi thấy thật phấn khởi trước những khuôn mặt thanh niên nam nữ ham hở học hỏi. Sử dụng các kỹ thuật học được trong nhiều kinh nghiệm giáo dục khác nhau của tôi, tôi đã có cách tiếp cận không theo bài bản giảng dạy cổ truyền cho người Việt Nam. Tôi phân phối các tư liệu giáo trình cho sinh viên để họ đọc trước khi nghe giảng bài lần sau. Tôi chỉ định dự án nghiên cứu và triển khai cho các nhóm nghiên cứu thảo luận ngay trong lớp học. Tôi khuyến khích sinh viên nỗ lực học hỏi trong tinh thần phát triển tri thức mà không nhất thiết chỉ học để có được điểm tốt. Tôi giới thiệu phương pháp phân tích điển cứu. Phương pháp này đòi hỏi phải sưu tầm, thảo luận, trao đổi ý kiến và nhất là thái độ ứng xử xã hội. Khi đó phương pháp tiếp cận ấy là hoàn toàn mới mẻ đối với các thanh niên này. Họ thường có thói quen thụ động nghe giảng bài, ghi chú, rồi nhớ kỹ để lo thi cử, mà không trao đổi qua lại với giáo sư và sinh viên. Muốn khuyến khích sinh viên tham gia lớp học hơn nữa, có khi tôi lẻn đến chỗ một vài nữ sinh viên trông còn nhút nhát, đặt những câu hỏi trước tôi sẽ hỏi trong lớp sau. Khi có người trong các sinh viên hay bép xép mà không trả lời kịp, tôi có thể chỉ đến một “tay đã mớm trước” đưa ra câu trả lời khiến mọi người ngạc nhiên.’’

- 1965 : GS Phó Bá Long giữ chức vụ Tổng trưởng Lao động trong nội các Nguyễn Văn Lộc.

- 1967: GS Phó Bá Long ứng cử Thượng Viện trong Liên danh Học đường, dấu hiệu Sư Tử. Sư tử vừa có nghĩa là con sư tử (獅子) ; sư tử còn có nghĩa là thầy trò (師子). Thụ ủy liên danh là Giáo sư Vũ Quốc Thúc.

- 1971 : GS Phó Bá Long đảm nhận chức vụ Khoa trưởng Trường Chánh Trị Kinh Doanh.

- 1971 : GS Phó Bá Long kiêm nhiệm chức vụ Khoa trưởng Trường Cao học Chánh Trị Kinh Doanh.

- Từ 1964 đến 1975, có 9694 người ghi tên theo học Cử nhân CTKD và 1177 người ghi tên Cao học CTKD, trong số có 904 tốt nghiệp Cử nhân CTKD và 51 tốt nghiệp Cao học CTKD.

- Trong thời gian làm Khoa trưởng, GS Phó Bá Long có công thiết lập hệ thống bảo huynh (保 兄) : sinh viên các lớp đàn anh giúp đỡ các sinh viên mới nhập học.

. Giáo sư PHÓ BÁ LONG trút hơi thở cuối cùng hồi 23 giờ 40 (11:40 PM) ngày 17 tháng 2 năm 2009 tại nhà riêng 6713 Lumsden St - Mc Lean, VA 22101, sau khi đã nhận đủ các phép bí tích do người cháu là LM Phó Quốc Luân cử hành. Cố Giáo sư qua đời để lại sự thương tiếc của gia đình : Bà Phó Bá Long nhũ danh Bà Claire Đặng Trung Nghĩa, trưởng nam là Anh Phó Bá Hồng Phong và 3 em trai, 2 em gái. GS Phó Bá Long có 9 em gồm 4 gái và 5 trai..

. Các học trò cũ xuất thân từ Trường Chánh Trị Kinh Doanh Viện Đại Học Đà Lạt chịu tang và đồng bái biệt vị Cố Khoa trưởng khả kính: Giáo sư Phó Bá Long.
Lê Đình Thông, tốt nghiệp Cao học CTKD, ghi thuật.



GS PHÓ BÁ LONG, CỰU GIẢNG SƯ TRƯỜNG ĐH AMERICAN VÀ GEORGETOWN:
Hãy để con tàu Việt Nam nhẹ nhàng lướt sóng ra khơi.
09:37' 04/03/2006 (GMT+7)

Bài và ảnh: QUỲNH LỆ

Soạn: AM 719391 gửi đến 996 để nhận ảnh này

Giáo sư Phó Bá Long (nguyên là Chủ nhiệm khoa Quản trị Kinh doanh trường Đại học Đà Lạt từ năm 1970 đến 1975), cựu Giảng sư tại trường đại học American và Georgetown, đã về Việt Nam vào cuối tháng 12.2005 để dự Lễ hội “Về trường Mẹ” do trường đại học Đà Lạt tổ chức. Ông đã rất vui khi gặp gỡ các cựu sinh viên và các giáo chức đại học Đà Lạt trước và sau năm 75. Trong thư gửi cho tôi, ông viết: “

Chúng tôi sẽ về Hà nội ăn Tết, gặp lại họ hàng, con cháu và các bạn đồng chí Hội năm 1949 trong chiến dịch Thập Vạn Đại Sơn; sẽ đi thăm mộ tổ tiên, cha mẹ ở quê làng; thăm lăng mộ liệt sĩ Nguyễn Thái Học và Phó Đức Chính (nhà cách mạng Lão thành của Việt Nam Quốc dân Đảng đã bị Pháp xử bắn năm 1930 là chú họ của GS Phó Bá Long) ở Yên Bái. Chuyến về lần này chúng tôi cũng sẽ đi tham quan Trường Sơn, sang Lào và Miên, thăm trường cũ tìm trò xưa…”

Chiều mồng 9 Tết Bính Tuất, tôi tìm đến nhà số 4, ngõ Tôn Thất Thiệp, Hà Nội, để hầu chuyện cùng vị giáo sư luôn nặng tình với trường xưa, trò cũ. Ngôi nhà 2 tầng trong vuông sân nhỏ, tuy có bề ngoài cũ kỹ nhưng phòng khách chan hoà hương xuân bởi những sắc màu ấm áp đặc trưng của cái Tết Hà Nội: Cây quất đơm đầy những chùm quả màu vàng cam tươi tắn trẻ trung bên bộ sa-lon gỗ nâu bóng chạm trổ tinh vi, cành đào đơm đầy những cánh hoa hồng thắm, bàn thờ gia tiên tươm tất hương đăng trà quả…

Ngày xuân, trò xưa thăm thầy cũ

Soạn: AM 719369 gửi đến 996 để nhận ảnh này

Thầy cũ, trò xưa bên bàn thờ gia tiên

Vừa lúc ấy, có 3 vị khách đến. Họ cung kính: -“Thưa thầy, chúng con đại diện Ban chủ nhiệm, thầy cô và sinh viên trong Khoa Kinh tế trường đại học Quốc gia đến chúc sức khỏe và mừng tuổi thấy...”. Đó là Phó Giáo sư Tiến sĩ Phí Mạnh Hồng, Chủ nhiệm khoa Kinh tế; Tiến sĩ Trần Anh Tài, Phó Chủ nhiệm khoa và Tiến sĩ Nguyễn Bích của trường đại học Quốc gia Hà Nội. Cùng với bó hoa tươi, các “trò Tiến sĩ” còn tặng thầy Kỷ niệm chương của khoa Kinh tế đại học Quốc gia Hà Nội.

TS Bích tự giới thiệu với tôi: “Tôi và các thầy đây đều là học trò của thầy Phó Bá Long trong khóa đầu tiên của trường đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là đại học Quốc gia) đào tạo giáo viên Maketing - một lớp học bồi dưỡng kiến thức Maketting và Quản trị Doanh nghiệp vừa và nhỏ”. Thầy Phó Bá Long bổ sung: “Năm 1992, lần đầu tiên Nhà nước cho phép tôi về nước và hợp tác giảng dạy môn Maketing. Ông Bích nói thế là khiêm tốn đấy, hồi ấy ông ấy là đối tác, là người hướng dẫn và giúp tôi trong việc hiệu đính tài liệu…”

“Trò” Bích nói: - “Thưa thầy, chúng con không chỉ học thầy về kiến thức mà còn học về phương pháp. Phương pháp dạy của thầy có sự đổi mới…”. Thầy Phó Bá Long phấn khích bảo: - “Bàn về phương pháp, nhân đây tôi muốn biếu các anh và tặng trường đại học Tổng hợp cùng trường Dược, mỗi nơi một thùng sách về phương pháp, sách vừa mới được phát hành. Bố tôi (cụ Phó Bá Thuận, Tri huyện Phong Doanh – Nam Định) đã dịch nó từ tiếng Tàu sang tiếng Ta mất 6 năm trời; còn tôi, tôi đã đọc, nghiền ngẫm và thấy nhiều cái hay nên dịch sang tiếng Anh”.

Thầy trò vừa uống trà vừa hàn huyên tâm sự và nhắc lại những gương mặt cũ: - “Báo cáo với thầy, thế hệ học trò của thầy nay đã trưởng thành và là những cán bộ có uy tín trong ngành giáo dục đào tạo. Cô Thảo, người cao và đậm, nay là Chủ nhiệm bộ môn Quản trị Kinh doanh, thầy Tuân là trưởng phòng Đào tạo… Mấy anh em học thầy trong khóa 1 và khóa 2 thỉnh thoảng gặp nhau vẫn nhắc đến thầy”. – “Công tác đào tạo là rất quan trọng, như là máy cái”. – “Thầy yên tâm, đội ngũ mà thầy đào tạo đều đã trưởng thành…”

Khi "các trò" chuẩn bị cáo từ thầy cũ, tôi tranh thủ phỏng vấn: - “Thưa thầy và các anh, trong buổi họp mặt những gương mặt VK tiêu biểu trong chương trình bình chọn danh hiệu Vinh Danh Nước Việt, có một người nói rằng: Vấn đề đặt ra hiện nay là phải hiện đại hóa con tàu Việt Nam để nó có thể ra khơi. Ý kiến của thầy và các anh về vần đề “hiện đại hóa con tàu Việt Nam” như thế nào ạ?”.

“Trò” Phí Mạnh Hồng: - “Trong thời đại toàn cầu hóa, chắc chắn chúng ta phải hội nhập. Theo tôi, hội nhập là thời cơ chỉ có trong giai đoạn hiện nay. Chúng ta phải tận dụng cơ hội này. Để hiện đại hóa con tàu Việt Nam thì có nhiều cách: trước tiên phải có quyết tâm hội nhập, phải thực hiện nhiều đổi mới cải cách hơn nữa (ví dụ các khía cạnh liên quan đến thể chế), chú trọng phát triển giáo dục – nhân tố con người phát triển là cách để đất nước đi lên nhanh nhất. Cái khó là mình dễ bỏ lỡ cơ hội”.

“Trò” Trần Anh Tài: - “Tôi rất đồng ý vấn đề giáo dục. Có bao nhiêu người do không có điều kiện được học tập nên mất cơ hội. Như hoa đẹp mà không được nở đúng thì... ". -".v.v.".

Tôi thầm cảm ơn sự không hẹn mà gặp này, bởi vì các anh đã vẽ dùm tôi những nét chấm phá lung linh trên bức tranh chân dung của vị giáo sư một đời gắn bó với những mái trường và luôn được học trò yêu kính.

Đôi nét về quá trình học tập và gia đình

Soạn: AM 719371 gửi đến 996 để nhận ảnh này

Thầy Phó Bá Long và cô Claire Đặng Trung Nghĩa thăm lại trường ĐH Quản trị Kinh doanh Quốc gia Campuchia

Khi các “trò” Tiến sĩ đã ra về, tôi mở đầu cuộc phỏng vấn của mình với thầy Phó Bá Long:

- Xin giáo sư vui lòng kể về thời thơ ấu, vnhững năm tháng “sôi kinh nấu sử”?

- Tôi sinh năm 1922, thuở nhỏ, tôi theo cha mẹ đi khắp các tỉnh Nam Định, Ninh Bình, Thái Nguyên, Phú Thọ, học tiểu học hết lớp 3, thi Sơ học yếu lược rồi lên Hà Nội ở với bác và học ở trường Hàng Than 2 năm. Năm 12 tuổi được gửi sang Thượng Hải học ở trường St Francis Xaviers College. Cho đến năm 1940, xong Cambridge School Certificate (phổ thông) thì về nước học tiếp ở trường Bảo hộ Pháp và Lycée Albert Sarraut Hanoi (trường của Pháp). Để tránh bom đạn, trường Albert Sarraut đã chuyển lên Đà Lạt và tôi thi Tú Tài Pháp ở trường Lycée Yersin Đà Lạt năm 1944. Sau năm 1945, Nhật sang, tôi vào đội quân kháng chiến, vào khóa chính trị đặc biệt giải phóng quân, học trường Quân Dược Sĩ ở ngay Hà Nội và được cử sang chiến dịch Thập Vạn Đại Sơn. Đến 1954 thì được học bổng sang học bên Mỹ.

- Giáo sư thấy môi trường học đường ở Mỹ có khác với Việt Nam nhiều không?

- Năm 1954 tôi thi vào trường Harvart Business School (HBS) là một trường Cao học, vì đã có bằng Pharmacie (học ở chiến khu Việt Bắc) của Đại học Hà Nội. HBS là trường dạy kinh doanh bằng phương pháp điển cứu (case study) khá độc đáo, mà sau này khi về nước được giảng dạy chính tôi đã áp dụng tại trường Chính trị Kinh doanh Đà Lạt và được các sinh viên ưa thích. Sau khi định cư tại Mỹ, tôi làm Giảng sư tại trường đại học American và Georgetown. Ngoài ra còn dạy thêm ở Blair High School nên có thể biết và so sánh được các hệ thống đào tạo Hoa Kỳ. Mỗi khu Học Chính (School district) đều độc lập về tài chính, nhân sự và học trình, nhất là cấp tiểu học và trung học. Theo tôi điều này rất quan trọng cho việc đào tạo học sinh...

- Giáo sư so sánh thế nào về thế hệ trẻ trong nước và ngoài nước?

- Tôi thấy không cần phân biệt thanh niên trong nước hay ngoài nước, cũng không cần phân biệt giữa thanh niên với sinh viên, vì các em đều cùng lứa tuổi, có kiến thức, nhất là có khả năng và ước muốn rất giống nhau. Tôi chỉ muốn nhắc là hiện nay cơ hội dành cho các em rất nhiều, nếu so với thời Đông Du hay cả thời chúng tôi hồi trước. Với thế hệ trẻ, tôi muốn nhắc lại câu nói của Nguyễn Bá Học: “Đường đi khó, không phải vì ngăn sông cách núi, mà là vì lòng người ngại núi e sông” .

- Ở tuổi 84, giáo sư có lời khuyên nào cho lớp trẻ ngày nay?

- Các em “hãy tự hỏi ta phải làm gì cho đất nước, hơn là hỏi đất nước phải làm gì cho ta” (John Kennedy). Tôi tâm đắc với hai bài diễn văn gần đây nhất, một của cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt, một của cựu Tổng Bí thư Đỗ Mười, mà có lẽ nhiều thanh niên cũng như các con em tôi chắc chưa có dịp đọc, mặc dù nhiều báo ở Việt Nam đã đang và được nhiều báo Mỹ Pháp, đài BBC và internet ở nhiều nơi nhắc đến. Hai vị này có nhiều điều trăn trở rõ rệt về chuyện “Quốc gia hưng, vong; thất phu hữu trách”. Các vị này và nhiều quí vị khác đã thực hiện tinh thần ấy. Tôi xin được mượn câu nói này để gửi đến lớp trẻ ngày nay.

- Công việc và cuộc sống hiện nay của Giáo sư như thế nào?

- Từ 1995 tôi đã nghĩ hưu, sống bằng hưu bổng pension và nhất là tiền an sinh xã hội (Social Security paymens) mà Chính phủ Liên bang hoàn trả sau khi đã trừ 7% trên lương hàng tháng trong suốt hơn 30 năm làm việc. Nhờ trời cho sức khỏe nên vợ chồng tôi đi du lịch nhiều nơi ở Trung Quốc: Bắc Kinh, Thượng Hải (nơi tôi học hồi còn trẻ), Quảng Châu, Ninh Minh (hồi kháng chiến chống Pháp) và Côn Minh. Ở Châu Âu: Pháp , Anh , Đan Mạch, Đức, Ý, Jerusalem, Bồ Đào Nha, Ba Lan, Moscova, St Petersburg, nhất là đường xe lửa từ Trans Siberia qua hồ Baikal và Ngoại Mông (7 ngày đêm). Ở Việt Nam tôi đã đi qua Sapa, Điện Biên Phủ, Hồ Ba Bể, Tân Trào, La Vang, Phú Quốc… Vậy mà tôi vẫn còn mong được đi tham quan Trường Sơn. Tôi vẫn còn làm thông dịch viên hợp đồng cho Bộ Ngoại giao Mỹ và thỉnh thoảng được gặp các chính khách Việt Nam như các Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Vũ Khoan và vài vị Bộ trưởng sang Mỹ công tác. Một họat động trong tuổi hưu trí mà tôi thích thú là về thăm và gặp lại các cựu sinh viên và giáo chức các trường cũ như là: Đà Lạt, Cần Thơ, Kinh tế Hà Nội, Kinh tế TP Hồ Chí Minh, cả ở Phnompenh và ở Vientiane.

- Giáo sư có thể giới thiệu một chút về gia đình? Có phải trong sự thành đạt của người đàn ông luôn có bóng dáng người phụ nữ?

- Tôi cưới vợ năm 1962 ở Sài Gòn, "nhà tôi" tên Đặng Trung Nghĩa. Lúc ấy, mẹ tôi đã 80 tuổi và đang ở ngoài Bắc, nên đám cưới xong tôi được sống trong gia đình vợ. Ba vợ tôi là nhà giáo người gốc Vĩnh Long, ông rất yêu quí chú rễ nên cuộc sống của tôi khá êm ấm. Tôi còn biết ăn ba khía, ốc gạo và cả sầu riêng nữa. Trong mấy năm mới định cư ở Mỹ, tuy một nách 6 con mà “nhà tôi” vẫn vừa đi làm (Workd Bank) vừa đi học AA, rồi BA, rồi MA (Marymount U. of VA). Phải nói thêm là “nhà tôi” cũng là một nhà giáo tâm huyết, bà ấy cũng có nhiều học trò như tôi vậy. Bà ấy vừa được hưởng lương hưu gồm cả bảo hiểm y tế nhưng bà vẫn còn hợp đồng làm phiên dịch cho Khu Học Chính Arlington. Chúng tôi có 4 con trai, 2 con gái, 2 rễ, 3 dâu và 9 cháu. Nhờ trời, các con tôi đều học xong đại học và có việc làm tốt, 2 cô con gái đã lấy bằng Thạc sĩ.

- Giáo sư đã về Việt Nam nhiều lần chưa? Những người con của giáo sư có cùng về với giáo sư không?

- Từ 1987 đến nay, hầu như mỗi năm chúng tôi đều về Việt Nam. Các cháu đều đã có lần về thăm Việt Nam trừ một cậu con trai là sĩ quan Không quân Mỹ, hồi nầy cũng đang bận làm ăn và lo tìm vợ. Cháu lớn đã vài lần về Việt Nam với tư cách nhân viên Bộ Thương Mại phụ trách Việt Nam vụ.

Giáo sư Phó Bá Long có cho tôi xem quyển Gia phả họ Phó đã được ông bổ túc lần thứ hai năm 1998 từ quyển gia phả do cụ Phó Bá Thuận xuất bản từ năm 1923.

"...Từ khi tôi mới lên 5, lên 6 cho đến nay, tôi luôn thích được gặp gỡ bà con trong họ, chia sẻ niềm vui nỗi buồn với người già con trẻ, với vợ chồng, với thông gia quyến thuộc, từ Bắc tới Nam Việt Nam, từ Paris tới Munich, từ Boston tới San Jose, cả ở Bắc Kinh và Đài Bắc..." . "...Những đêm giao thừa , những ngày giỗ tổ, những khi khóc người quá cố, những phút chờ đợi trẻ sinh ra là tôi thường đem gia phả ra đọc lại và ghi chép. Những lúc đó tôi nhớ lại người xưa, tôi sống với tất cả, với mỗi người trong họ và phóng chiếu thân mình vào những đời sau. Tôi thấy thương nhà, quý họ, yêu nước và trọng người hơn." Trong những dòng tâm thư của ông gửi đến quí vị trong họ và các con cháu họ Phó thế hệ trẻ, tôi nhận ra một tấm lòng thành kính với tổ tiên, tha thiết với dòng tộc và bao trùm lên tất cả là một tình yêu nước Việt sâu sắc mặc dù ông đã có hơn nửa đời sống và làm việc ở xứ Tây phương.

Soạn: AM 719377 gửi đến 996 để nhận ảnh này

Đất nước chúng ta đã thống nhất 30 năm rồi. Cái gì có thể giải tỏa được, xin hãy giải tỏa – để lòng người thanh thản, để con tàu Việt Nam nhẹ nhàng lướt sóng ra khơi

- Giáo sư có cảm tưởng như thế nào, mỗi lần về Việt

Nam?

- Hồi đầu tôi về Việt Nam để giảng dạy, sau là thăm thân nhân. Những năm đầu khi mới trở về, tâm lý có phần lo lắng nhưng ngày càng phấn khởi. Lần này về nước, tôi được dự Lễ hội “Về trường Mẹ” và gặp gỡ các cựu sinh viên và các giáo chức đại học Đà Lạt trước và sau năm 75. Tôi rất vui khi được phát biểu các vấn đề này và cảm ơn Người Viễn Xứ đã mở ra trang web này để tôi được gửi lời thăm hỏi đến các bạn cựu sinh viên của đại học Đà Lạt (CTKD 1974- 1975), Georgetown (VETP 84 – 1988) và các khoa thuyết giảng ở Hà Nội (CIEM 1989, đại học Tổng Hợp 1990 -1992), thành phố Hồ Chí minh (đại học Kinh Tế 1990), Cần Thơ (đại học Cần Thơ 1990,) Vientiane (1991), Pnompenh (1993-1997) mà tôi vẫn còn nhớ, không thể nào quên.

- Những điều giáo sư suy tư về đất nước trong giai đoạn hiện nay?

- Về đất nước, tôi xin được mượn sách thay lời. Xin quí vị chịu khó đọc cuốn “Việt Nam Pháp thuộc sử 1862 - 1945” của Phan Khoang (Nhà xuất bản Tủ sách Sử học, năm 1974) để biết nước VN hồi đó đã bị Pháp cai trị như thế nào và so sánh hồi đó với ngày nay, mới thấy được những sự tiến triển về kinh tế, xã hội, chính trị… Sau này, ông Lê Xuân Khoa (nguyên là Trưởng khoa Văn trường ĐH Văn Khoa Sài Gòn) có viết sách về 4 cuộc chiến tranh Việt Nam (chống Pháp, Mỹ, Campuchia và Trung Quốc) và viết về hai cuộc định cư của kiều bào ở Pháp và Mỹ. Giáo sư Lê Xuân Khoa là một nhà trí thức có Tâm và có cái nhìn rất khách quan. Ông ấy trẻ hơn tôi và giỏi hơn tôi rất nhiều. Tôi mong ông ấy trở về nước để tiếp tục làm chiếc cầu nối đại đoàn kết, mang tính xây dựng và thiện chí giữa kiều bào với quê hương.

Tuy nhiên, tôi thấy cái khó của chúng ta hiện nay không phải là tham nhũng (Mỹ và các nước khác cũng có tham nhũng), mà hình như là trong nước mình có nhiều người tốt, nhiều người tài nhưng ít người dám nói lên sự thật, không dám nói thẳng những điều mình muốn nói. Giữa cấp trên và cấp dưới đôi khi không thật sự cởi mở với nhau – cho nên có một số người làm bậy vẫn tiếp tục vì ít ai dám nói thẳng…

- Ắt hẳn giáo sư còn nhiều điều trăn trở về con người Việt Nam?

- Về con người Việt Nam, tôi lại cũng đề nghị đọc và suy nghĩ về bài văn tế “Chúng ta, những người còn sống” (We the living) do cố Tổng thống Mỹ Abraham Lincoln đọc khi khánh thành nghĩa trang Gettysburg, sau khi chấm dứt cuộc chiến tranh Nam - Bắc tương tàn. Đây gần như là bản tuyên ngôn hòa giải giữa Bắc và Nam sau cuộc nội chiến đẫm máu của nước Mỹ. Nội dung ông Lincoln muốn nhấn mạnh là: Chúng ta – những người còn sống, bây giờ phải bỏ hết thù hằn trong quá khứ và những buồn phiền đã qua, để cùng nhau xây dựng tái thiết đất nước, để cho cái chết của những người đã ngã xuống (cả Nam lẫn Bắc) có ý nghĩa.

Tất nhiên cuộc chiến vừa qua của chúng ta không phải là nội chiến. Nhưng chúng ta hiểu rằng trong mọi cuộc chiến tranh đều có bao nhiêu điều nghiệt ngã, bất công và còn bao nhiêu dằn vặt trong lòng người… Đất nước đã thống nhất 30 năm rồi. Cái gì có thể giải tỏa được, xin hãy giải tỏa – để lòng người thanh thản cùng hướng về tương lai, để con tàu Việt Nam nhẹ nhàng lướt sóng ra khơi. Tôi và rất nhiều người vô cùng tâm đắc với bài phát biểu của cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt, đã đăng trên các báo trong dịp kỷ niệm 30 năm ngày đất nước thống nhất vừa qua. Theo tôi, để cho “con tàu Việt Nam” lướt nhanh ra khơi thì trước hết hãy làm cho nó không bị nặng nề vì lực cản vô hình từ trong quá khứ.

- Bên cạnh việc xóa bỏ lực cản vô hình từ trong quá khứ, theo Giáo sư thì những điều kiện cần thiết để “hiện đại hóa con tàu Việt Nam” là gì ạ?

- Đây quả là một câu hỏi không dễ. Theo tôi, phải có 2 điều kiện: sự cạnh tranh lành mạnh và sự dân chủ thật sự. Cạnh tranh lành mạnh là cạnh tranh hợp pháp, hợp lý theo luật lệ. Với những ngành nghề bức thiết của đời sống xã hội cần có sự quản lý độc quyền của Nhà nước thì các cơ quan quốc doanh đãm nhiệm, còn tất cả các ngành nghề khác thì nên để cho tư nhân làm. Sự cạnh tranh lành mạnh sẽ thúc đẩy nền kinh tế phát triển tốt. Còn dân chủ thì phải được mở rộng trong bất cứ việc gì. Người dân phải có trách nhiệm và quyền hạn trong mọi lĩnh vực của đời sống: kinh tế, chính trị, xã hội, đạo đức, tôn giáo… Đó là 2 điều kiện cần thiết và bắt buộc phải có để hiện đại hóa con tàu Việt Nam.

- Cảm ơn những ý kiến tâm huyết của Giáo sư. Kính chúc Giáo sư nhiều sức khỏe và nhiều niềm vui trong cuộc sống.

09:37' 04/03/2006 (GMT+7) Hãy để con tàu Việt Nam nhẹ nhàng lướt sóng ra khơi.



Thursday, April 2, 2009

Van Anh -Việt Nam Vùng Địa Lý Chiến Lược 2




Việt Nam Vùng Địa Lý Chiến Lược!

Vân Anh

bài 2

Hiện nay thì hầu như tất cả mọi người đều biết bọn cán bộ Việt Gian Cộng sản chúng đang hoạt động khắp nơi tại Hoa Kỳ, Canada, Úc Châu và Âu Châu rất đông. Riêng ở Mỹ với khoảng 2 triệu người Việt tị nạn Cộng sản, thì người ta ước lượng bọn cán bộ Cộng sản từ cao cấp đến trung cấp và đám tay sai của chúng có khoảng 150 ngàn (150,000) tên hoặc có thể hơn nửa, chúng trà trộn và len lỏi trong các cộng đồng người Việt và chúng đang hoạt động khắp mọi nơi, mọi chốn. Đây là một con số có thật đến độ làm cho người viết và đọc giả không khỏi giật mình. Chúng ta không thể ngờ rằng bọn cán bộ tình báo Việt Gian Cộng sản đã bám theo người tị nạn chúng ta từ những năm 1975 hay sang Hoa Kỳ từ trước đó rất lâu. Từ những thập niên 50’s, 60’s cho đến nay, những tên như: Nguyễn Ngọc Bích (NNB), Đoàn Viết Hoạt (ĐVH), Vũ Đức Vượng (VĐV), Đoàn Văn Toại (ĐVT) là những tên điển hình nhất mà mọi người đều nhẵn mặt biết tên, còn những tên chưa ai biết thì sao ?. Điều này có lẽ phải có một bài viết khác hay vào một dịp khác thì đọc giả mới nhìn thấy sự thật.

Tham dự cuộc họp báo tại Quốc Hội Hoa Kỳ phản đối cuộc đàn áp nhân quyền của nhà nước VN 2007 (VOA, Mar. 2007) Đoàn Viết Hoạt

GS Nguyễn Ngọc Bích

GS Vũ Đức Vượng (ngoài cùng bên phải) cùng các sinh viên Mỹ tại Hà Nội


Tran Thu Ha qua lang kinh bo chong Ông Đoàn Văn Toại.

Ví dụ như ít có ai ngờ rằng hai tên Tầu lai Nguyễn Chí Thiện và Trần Nhu dân gốc Hải Phòng, những tên này đã làm tình báo cho Tầu trong nhiều năm qua, tên Thiện đóng vai thi sĩ đã lừa bịp người Việt hải ngoại chúng ta trong nhiều năm qua mà ít có người biết chúng là những tên Tầu lai, cho đến nay thì chắc có lẽ khi nói ra thì mọi người mọi giới mới hốt hoảng thì mọi việc đã xong, giới an ninh của Mỹ cũng như của Anh đến nay chỉ vì một lý do thầm kín nào đó họ đã làm ngơ để cho 2 tên Thiện, Nhu và đồng bọn lường gạt mọi người từ đông sang tây Hoa Kỳ cũng như nhiều nơi trên thế giới trong đó có cả ông Chirac (cựu tổng thống Pháp) và nhất là bào mòn niềm tin của hàng triệu người Việt hải ngoại trong và ngoài nước đang mong cầu đem lại tự do áo ấm cho gần 90 triệu người Việt Nam. Tên “Vẹm sĩ bịp sĩ Ali Baba Nguyễn Chí Thiện” và tên Trần Nhu rồi đây cũng có ngày phải trả lời với nhân dân Việt Nam về tội làm Hán gian tay sai cho Tầu đỏ Trung Cộng. Riêng tên Thiện thì ngày nay đã nhờ khoa tạo hình ở Mỹ để sửa (chữa) lại mắt bên phải cho hết Lé, nhưng hình ảnh của tên Thiện hiện nay đã được đăng dầy dãy trên các hệ thống “youtube và Internet”, nên tên này cũng rất khó để mà lẫn trốn khi cần bắt chúng giải về Việt Nam sau này.

Những tên Việt Gian tay sai cho Cộng sản Hà Nội hiện nay chúng đã làm việc đắc lực cho Tầu đỏ Trung Cộng, chúng có rất nhiều tiền của và nắm hầu hết các hệ thống báo chí truyền thông trong tay và có thể nói rằng chúng công khai hoạt động trước sự làm ngơ của các cơ quan an ninh liên bang cũng như tiểu bang của Mỹ. Điều này phải làm cho những người Quốc Gia Chân Chính chống Cộng như chúng ta đặt lại câu hỏi cũng như suy tư suy nghĩ, để nhìn lại thân phận chính mình mà tìm ra phương hướng đấu tranh mới giải phóng đất nước khỏi gông cùm Cộng sản. Vì không ai thương đất nước Việt Nam bằng chính những người Việt Nam. Hơn nữa những tên Việt Gian đang hoạt động cho Cộng sản chúng cũng rất khôn ngoan và có nhiều tiền, chúng đang mặc áo quốc gia hay nấp dưới màu áo quốc gia để hoạt động đánh phá chúng ta, nên chúng ta phải có những kế sách giúp các chính phủ của các quốc gia tự do tiêu diệt chúng càng nhanh càng tốt. Sở dĩ cần phải tiêu diệt chúng, không riêng vì chúng làm tay sai cho bọn Việt Gian Cộng sản bán nước nấp dưới màu áo người quốc gia để làm gián điệp đánh phá mọi hoạt động của người Việt chống Cộng. Nhưng chúng hoạt động tội ác đủ kiểu, đủ chiêu như: buôn ma túy, giặt tiền, giết mướn, buôn vũ khí và nhất là bán gái đi làm mãi dâm (bán dân đi làm nô lệ), nhưng miệng lưỡi vô cùng giảo quyệt.

Ngày 1/12 phó công tố viên thành phố Westminster tiểu bang Califonia Hoa Kỳ qua một chiến dịch tên là “Operation Newly Wed Game”, đã truy tố khoảng 44 người Việt Nam và Tầu về tội “kết hôn giả”, 44 người này đã làm một đường dây dàn dựng và đưa hàng trăm công dân Việt Nam và Tầu sang Mỹ bất hợp pháp bằng các cuộc “hôn nhân giả”. Đây cũng có thể là một vụ đưa người lậu đầu tiên bằng kiểu “hôn nhân” này, cũng là một vụ gian lận lớn nhất trong vùng Los Angeles từ trước đến nay. Phó Công tố viên thành phố Wesminster cũng nói rằng: “Khi đọc các hồ sơ này, chúng ta thấy chúng không có vẻ gì liên hệ với nhau. Nhưng thật ra có các tay đầu nậu làm chủ các đường dây này, chúng có người điều hành như một chiến dịch đưa người lậu vào mỹ qua các đường dây “hôn nhân” này”. Và trong khoảng 44 người nói trên thì họ đã bắt được 9 nghi can đầu nậu, nghĩa là những người đang đứng ra trung gian môi giới chuyên đi tìm kiếm người Mỹ hoặc người đã mang quốc tịch Hoa Kỳ kết hôn với người Tầu hay Việt Nam mà họ sẽ được trả từ 50 cho đến 70 mươi ngàn đô la tùy theo trường hợp. Phó Công tố viên còn cho biết thêm họ “ước chừng có từ 300 đến 500 người trong vụ “hôn nhân giả” trong đường dây này”, và họ đã tịch thâu hồ sơ (máy móc - Computer) của một số công ty (dĩ nhiên là của người ... Việt).

Trong nhiều năm qua Trung Cộng đã tốn rất nhiều công sức và tiền của để nuôi bọn Việt Gian Cộng sản (nếu tính từ thập niên 50’s cho đến nay), và hiện nay ta có thể nhìn thấy Bắc Kinh đã vào hẳn đất Việt, một mặt Bắc Kinh nuôi khủng bố và kết cấu với khủng bố Hồi Giáo Trung Đông, luôn tiện Trung Cộng với tay sang tận Nam Mỹ Châu. Như vậy ta thấy Trung Cộng một lúc đã mở ra 3 mặt trận.

a/ Việt Nam là vùng địa lý chiến lược cho toàn Á Châu và Úc Châu (bài trước đã có nói).

b/ Trung Đông thì quan trọng cho thế giới về dầu lửa (nhưng “Mỹ” cũng đã có cách hóa giải về năng lượng mà không cần dầu lửa - bài trước cũng đã có nói - quan trọng - xin đọc giả xem lại).

c/ Còn Nam Mỹ Châu thì sao?!.

Dĩ nhiên các nhà nghiên cứu cũng thừa hiểu rằng: thế giới đang ở trong cơn “nóng lạnh” bất thường, nhất là các nhà nghiên cứu chiến lược của Hoa Kỳ biết rằng họ phải có kế sách để đối phó với nước cờ “chiếu tướng bắt xe” của Trung Cộng. Như vậy liệu rồi đây Hoa Kỳ có thực sự bảo vệ “đồng minh” Trung Đông và “đồng minh” Á hay Úc Châu được không?!. Một điều khó nghĩ là tại sao Trung cộng đang từ thế thủ lại quay sang thế công và tấn công Hoa Kỳ nhiều mặt như vậy?!. Có lẽ Bắc Kinh đã hình thành xong “thế cờ” rồi chăng?! hay nói đúng hơn Bắc Kinh đã thành hình xong cái thế “chiến lược” để đánh Mỹ, nhưng Bắc Kinh lại quá sốt ruột vì chưa đẩy Hoa Kỳ vào cái thế bí để buộc Hoa Kỳ phải hành động và Bắc Kinh có lẽ nghĩ rằng nếu để chậm thì Hoa Kỳ lại dời sang vùng “chiến địa” khác hay là mở cái khung “chiến lược” mới với loại “high-tech” để phản ứng nhanh hơn, lúc đó thì Bắc Kinh và Hà Nội sẽ đi vào một ngõ bí khác. Đó có thể là lý do Trung Cộng và Hà Nội ra tay trước để “lấy công làm thủ” với nước cờ “chiếu tướng bắt xe” ở trên. Cho nên mấy ngày qua (trong tháng 3/2009) ta thấy sau khi Bắc Kinh đã không “làm eo” được với Mỹ, thì Trung Cộng lại thúc cho con chốt “cái bang” Bắc Hàn dọa bắn hỏa tiễn bay qua nước Nhật. Kết quả là sau khi dọa già, dọa non Trung Cộng có lẽ đã biết là mình đang bị lừa chăng?. Vì khi nhìn hay thí nghiệm lại “hoả tiễn” các loại thì có lẽ Trung Cộng mới nhìn ra mình chỉ đi ăn cắp toàn loại “tên lửa” cổ lỗ sĩ từ những thập niên 50’s, 60’s như thế nào, thì ngày nay Trung Cộng vẫn “chế tạo” như vậy.

Vậy ta nên đặt vấn đề là: nếu Trung Cộng tấn công Mỹ thì Mỹ có chịu thua hay không? Hay Trung Cộng tấn công Mỹ thì đó cũng là cái cớ để Mỹ tiêu diệt đế quốc đỏ Trung Cộng. Ai cũng biết Trung Cộng thuộc loại “thầy lừa”, cho nên muốn lừa Trung Cộng thì mình cũng phải đứng vào loại “siêu lừa”. Trung Cộng thì quả thật là “giỏi” vì hình như “mưu thần chước quỉ” nào Trung Cộng cũng có thể nghĩ ra. Câu nói của Châu Du thời Tam Quốc thì hình như người Tầu nào cũng thuộc nằm lòng là: “trời sinh Du sao còn sinh Lượng”, thì với câu nói này ngày nay ta có thể nói lại rằng: “Trời sinh ra nước Tầu sao còn sinh ra nước Mỹ”. Câu nói này có vẻ “nhà quê” nhưng nếu ngẫm nghĩ thì mới thấy đúng.

Người Mỹ mưu tính hay bàn bạc ở những nơi kín đáo nào thì điều này chẳng ai biết, cũng chẳng ai nghe. Nhưng người ta có thể đoán được là Mỹ đã giả vờ quay lưng cho Hà Nội và Bắc Kinh “tha hồ” ăn cắp, chúng ăn cắp của người dân Tầu và dân Việt, nhưng chưa đủ; chúng dùng tiền, dùng người ăn cắp đủ các loại kỹ thuật của Mỹ cũng như của nhiều nước khác đem về Tầu. Nhưng nếu Bắc Kinh và Hà Nội thông minh lên một chút để hiểu rằng kỹ thuật “ăn cắp” thì không thể tấn công Mỹ để bắt thế giới phải triều cống Bắc Kinh, thì lúc đó Bắc Kinh mới giật tỉnh người chăng?!. Nếu hiểu rằng tất cả những kỹ thuật và sáng chế thuộc loại “high-tech” (thượng hạng) từ trước đến nay đều được Hoa Kỳ bảo vệ thật kỹ và tối mật. Thì như vậy Trung Cộng chỉ có thể “ăn cắp” những loại “kỹ thuật đồ chơi” (game-tech) mà thôi.

Nếu các “chiến nược gia” Hà Nội và Bắc Kinh hiểu rằng “tự nhiên” mà các trung tâm nghiên cứu hỏa tiễn nguyên tử của Mỹ như ở Livermore hay ở Los Alamos và một số phòng thí nghiệm nghiên cứu về đầu đạn nguyên tử, vệ tinh không gian “được” mở rộng để cho các sinh viên ... “gián điệp” của Hà Nội và Bắc Kinh tự nhiên vào đó để đọc hay để “nghiên kíu” dùm cho “đảng”, các tài liệu này hầu như được công khai bày ra trong các thư viện hay các phòng đọc sách của các đại học để cho bất cứ ai muốn vào đọc hay sao chép (copy) thì cứ tự do mà làm chẳng ai cấm cản chi cả. Nếu đọc báo thì chúng ta cũng thấy rằng an ninh Hoa Kỳ cũng “bắt” một số gọi là “gián điệp Tầu” vì tội đang làm cho các cơ quan của Mỹ mà đã “ăn cắp” và bán “tài liệu mật” cho Trung Cộng.

Về phương diện hoạt động gián điệp, thì khi “bắt” được một ai đó đã bán tài liệu “mật” cho đối phương, thì thường là họ ngụ ý rằng đối phương đã mua được hay “đánh cắp” được tài liệu thuộc loại “xịn” chứ không phải là đối phương đã “chôm” được hàng dỗm hay là hàng “made in HongKong” và nhiều khi “bắt gián điệp” như vậy thì cũng làm cho đối phương hoang mang và không biết tài liệu mình “chôm” được có thật hay không nửa. Nuôi người, gài người và tốn rất nhiều tiền cũng như thời gian chỉ để “chôm” được loại hàng dỗm, hàng “made in HongKong” thì xem như tiêu tùng luôn cả một công trình đào tạo gián điệp và làm đổ vỡ cả một chiến thuật quân sự và nhất là khi dùng loại vũ khí dỗm để vào chiến tranh với kẻ “tử thù” như Hoa Kỳ, thì thật là một đại họa thật khó mà lường được và dĩ nhiên nước Tầu phải tan tành là điều phải xảy ra.

Trong hơn 2000 năm qua người Tầu đã chiếm và đồng hóa các vùng đất phía Bắc của dân tộc Bách Việt nói chung và chỉ còn lại mảnh nhỏ của vùng đất phía Nam là Việt Nam ngày nay (đó cũng là lý do tại sao ông bà ta gọi đó là “ải Nam Quan”. Vì đất của người Bách Việt xưa lên đến vùng Động Đình Hồ, thì Quan Ải ngày xưa - cũng như nay - phải gọi là “Ải Nam Quan” - chứ không thể gọi là “Ải Bắc Quan” - để con cháu đời sau nhớ lại đất tổ của người Bách Việt xưa, chứ có gì là sai!. Lập luận hay kiểu “chứng minh” của mấy tên thầy dùi gọi “Nam Quan là của Tầu”. Đó chỉ là lối nói của những kẻ thiếu hiểu biết về lịch sử và có máu nô lệ cho Tầu). Hiện nay người Tầu hình như đã nắm trọn Việt Nam hơn nữa Trung Cộng đã có khoảng 3 triệu tên Việt Gian Cộng sản sẽ sẳn sàng làm tay sai và bán cả nước Việt cho Trung Cộng. Dân tộc Việt Nam anh dũng phải chiến đấu để bảo vệ mảnh đất còn lại trong hơn 2000 năm qua, thì hôm nay con cháu họ vẫn tiếp tục công việc đó. Ngày nay Trung Cộng bằng mọi cách thâm độc nhất định phải xóa sổ dân tộc Việt Nam thì Trung Cộng phải bị đánh bại và bị tiêu diệt không thể khác. Dân tộc Việt Nam nếu muốn sống để tồn tại thì đây là con đường duy nhất mà chúng ta phải hành động. Riêng người viết thì có rất nhiều hy vọng ở những người lãnh đạo Hoa Kỳ cũng như lương tâm của người Mỹ đối với đất nước và dân tộc Việt Nam, cho nên Hoa Kỳ phải ra tay để giúp đỡ cho nước Việt, hơn nửa nếu Hoa Kỳ muốn nước Mỹ và thế giới này bình an.

Các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ nên hiểu rằng: Hoa Kỳ không thể thắng Tầu hay không thể đứng ra lãnh đạo thế giới nếu Hoa Kỳ không tính đến Việt Nam là Vùng Địa Lý Chiến Lược, cũng như không thể không tính đến người Quốc Gia Việt Nam Chân Chính cũng như dân tộc Việt Nam hiện nay gần 90 triệu người. Vậy Hoa Kỳ trở lại mảnh đất Việt Nam cũng không ngoài những yếu tố này và dĩ nhiên là Hoa Kỳ không thể “làm bạn” hay xử dụng bọn Việt Gian Cộng sản như là một đám tay sai để “ngã giá” với Trung Cộng. Chúng ta nên vững tin rằng Hoa Kỳ không bao giờ bỏ dân tộc Việt Nam như họ đã làm trước đây. Hơn nữa hiện nay với những người trẻ tuổi nhiệt tình quyết tâm làm cách mạng cho nước Mỹ như Tổng thống Obama. Nên chắc chắn chúng ta có nhiều triển vọng.

Chuyện Hoa Kỳ và Trung Cộng thì như vậy còn chuyện Việt Nam đối với đa số thầm lặng chúng ta thì sao và nhất là người Việt tị nạn chúng ta ở hải ngoại. Chúng ta những người quốc gia chân chính thì đã đem hết tâm huyết ra để cứu lấy đất nước Việt Nam Nhưng mấy chục năm qua có lẽ thời vận của đất nước Việt Nam chưa đến, cũng vì lý do đó nên một số người cũng mang danh quốc gia họ đã muối mặt để bôi đen “chính nghĩa quốc gia”, họ đã vì danh và vì lợi riêng của chính bản thân và gia đình của họ, nên họ đã cam tâm chấp nhận làm tay sai cho Việt Gian Cộng sản. Ngoài miệng thì họ hô hào chống Cộng nhưng chân vẫn chạy theo Việt Gian Cộng sản, miệng lưỡi của bọn người này thật đáng kinh tởm, những thành phần này họ đang tiếp tay cho bọn nằm vùng hoạt động đánh phá người quốc gia, những tên như Bùi Tín, Nguyễn Chí Thiện, Nguyễn Thanh Giang, Dương Thu Hương và đồng bọn có bao giờ chúng dám nói lên tất cả tội ác tầy trời của bọn Việt Gian Cộng sản không?. Chúng bôi đen hai tiếng “Việt Nam ”. Chúng làm cho danh từ “Việt Nam” “con người Việt Nam” đồng nghĩa với tội ác, lừa bịp, lưu manh, lường gạt. Nếu không tiêu diệt chúng càng sớm, thì sau này người Việt Nam sẽ mang nhiều tiếng xấu. Danh từ “Việt Nam ” sẽ bị chúng bôi đen khiến người Mỹ và toàn thế giới kinh tởm, khinh khi hay ghét bỏ. Chúng ta và con cháu chúng ta sau này sẽ không dám nhận mình là người Việt hoặc hãnh diện là người Việt, người gốc Việt.

Nhiều người trong chúng ta tự hỏi, tại sao lại có nhiều tên “khoa bảng, trí thức người quốc gia” như: Nguyễn Xuân Vinh, Nguyễn Ngọc Bích, Đoàn Viết Hoạt chẳng hạn, nhưng chúng lại thích làm tay sai hoạt động cho Cộng sản đến thế?. Điều này không lạ, vì chúng ham danh lớn nhưng cái đầu của chúng lại nhỏ và chúng lại hoàn toàn không hiểu biết thời thế và tình thế. Chúng tưởng rằng Việt Gian Cộng sản sẽ vĩnh viễn tồn tại. Chúng là những tên hoạt đầu, tham lam hám lợi, chúng tưởng rằng a dua làm tay sai giúp bọn Việt Gian Cộng sản cầm quyền thì chúng sẽ được Việt Gian Cộng sản tặng thưởng hay ưu đãi. Chúng kiêu căng ngạo mạn tưởng rằng chúng sẽ lập được công lớn với Hà Nội và Bắc Kinh. Chúng tin rằng mưu mẹo trẻ con của chúng sẽ làm cho người Việt trong nước và hải ngoại mắc lừa. Chúng cũng rất hãnh diện vì đang phục vụ đắc lực cho Việt Gian Cộng sản Hà Nội và Bắc Kinh. Chúng tưởng rằng không ai biết đến bộ mặt tình báo gián điệp Việt Gian của chúng. Chúng tưởng rằng cứ sơn phết bộ mặt “quốc gia yêu nước” của chúng để che đậy dã tâm làm tay sai cho Trung Cộng Tầu đỏ để đánh lừa mọi người. Nhưng dù cho chúng có “hóa trang hay ngụy trang” dưới bất kỳ lớp sơn nào vỏ bọc nào thì cũng không làm sao che mắt được những người đã để mắt theo dõi rất kỹ các hoạt động của chúng trong nhiều năm qua.

Bằng chứng là ngày nay người ta đã vạch mặt tên gián điệp văn hóa Ali Baba Nguyễn Chí Thiện và đồng bọn, ấy vậy mà bọn này vẫn mặt trơ mặt thớt chẳng biết thế nào là nhục nhã. (Riêng về tên Nguyễn Chí Thiện và đồng bọn thì thời gian tới đây chúng ta cần phải viết những loạt bài rõ ràng hơn với nhiều tang chứng hơn cho mọi người thấy rằng: Bất cứ chính quyền, chính phủ nào đã giúp bọn Nguyễn Chí Thiện lừa bịp người Việt Nam, họ đều có lỗi với dân tộc và đất nước Việt Nam và đây là một tội ác cần phải lên án và sự việc cần phải được làm sáng tỏ.)

Đất nước Việt Nam hiện nay đang trong tình trạng có nhiều kẻ thù xâu xé, kẻ thù chúng có nhiều âm mưu vô cùng xảo trá với nhiều thủ đoạn cực kỳ tàn nhẫn, nhất là họ dùng một lũ Việt gian Cộng sản tàn bạo và tàn ác đã mất hết tính người, nên bọn Việt gian Cộng sản này chúng thẳng tay diệt chủng hết dân Việt dùm cho Tàu Cộng. Cũng đã nhiều năm qua Bắc Kinh chỉ thị cho bọn Việt gian Cộng sản đưa rất nhiều trò hề, trò bịp. Ví dụ chúng cho tổ chức rất nhiều “đại hội” với những ngày “kỷ niệm”, “liên hoan”, nhiều “hội tương tế”, “hội đồng môn”, “hội ái hữu”, “hội đồng hương”, “hội truyền thông, thông tin ..v.v..” Và chúng cũng không quên các hội từ thiện với mục đích của các hội này là quyên tiền cho chúng bỏ túi (những ai đã nhân danh người Quốc Gia “chống Cộng” đứng ra tổ chức các “đại hội”, thì có tật xin đừng giật mình) và luôn tiện theo dỏi kiểm soát người Việt hải ngọai, để người Việt hải ngọai không thể hoạt động hay lập các tổ chức cách mạng lật đổ bạo quyền Việt gian Cộng sản trong nước. Điểm nữa mà mọi người, mọi giới nên nhìn cho rõ là Trung Cộng qua bàn tay tàn ác của bạo quyền Việt gian Cộng sản, chúng đã lập ra những kế hoạch rất tinh vi trong công cuộc tiêu diệt truyền thống văn hóa Việt, để cho Trung Cộng dễ dàng đồng hóa dân Việt, xóa bỏ nòi giống Việt Nam.

Với người Việt bình thường thì chắc có lẽ chẳng ai quan tâm hay nhìn thấy dã tâm này của bọn Việt gian Cộng sản hay bọn Tàu Cộng. Vì những tên tay sai hoạt động cho chúng thì luôn luôn mặc áo người quốc gia hay luôn nấp dưới lớp vỏ “người quốc gia chống cộng”. Như vậy rõ ràng, Tàu Cộng đã dùng bàn tay bọn Việt gian Cộng sản trong mưu đồ thôn tính và đồng hóa dân tộc Việt là sự thật đã và đang xảy ra trên đất nước Việt Nam . Và nếu theo dõi thì chúng ta thấy Trung Cộng đã cho di dân sang đất Việt Nam một con số không nhỏ, và hiện nay chúng đã cho thành lập từng “làng người Hoa” và dĩ nhiên thì người Việt không được quyền bén mảng đến những vùng này. Một người quen của Vân Anh rất giỏi tiếng Tầu đã về Việt Nam và có đến tận các “làng người Hoa” này để quan sát, người bạn có cho biết là: Trong các “làng người Hoa” này hình như nhà nào cũng có võ trang, họ “dường như” trong tư thế chuẩn bị “chiến đấu”. Như vậy Trung Cộng và Việt Gian Cộng sản đã lập xong các chốt phòng thủ rải rác khắp nơi trong lãnh thổ Việt Nam để phòng khi có biến động (nên nhớ các “làng người Hoa” này có lẽ là quân du kích chiến của Trung Cộng được gởi sang đất Việt). Như vậy là trong “các làng người Hoa” này chúng đã chuẩn bị lương thực, võ khí cũng như quân đội để sẳn sàng cho một cuộc chiến lâu dài trên khắp nước Việt và có thể lan qua các vùng như: Vân Nam , Quảng Tây, Côn Minh, Quảng Đông ..v.v.. Chúng ta nên dùng mọi thông tin chúng ta sẳn có để thông báo cho toàn dân Việt trong nước hiểu được mưu đồ này của Tầu Cộng Bắc phương qua trung gian bọn cầm quyền Việt Gian Cộng sản.

Những người Việt Nam trong và ngoài nước còn thương dân thương nước đang quan tâm lo lắng cho tiền đồ và vận mệnh của đất nước Việt Nam, thì chúng ta phải tìm xem để hiểu cái kế sách này nguy hiểm như thế nào cho tổ quốc Việt Nam do bọn cán bộ Cộng sản Bắc Kinh đã núp dưới màu áo người Việt đang điều khiển và giật giây bọn Việt gian Cộng sản, cũng như để tìm ra kế sách hóa giải mọi mưu đồ thôn tính đất Việt của đám ngoại xâm Bắc Kinh và Việt Gian Cộng sản. Như vậy, đã nhiều năm qua ý đồ thâm độc của Bắc Kinh và Việt Gian Cộng sản là tiêu diệt dân tộc Việt Nam Nhưng chúng cũng vẫn chưa nắm được thế thượng phong. Nên ngày nay chúng lập ra các “tổ chức” ở hải ngoại để ru ngủ chúng ta, cũng như các thế hệ trẻ người Việt lớn lên ở hải ngoại không có một chút gì kinh nghiệm về bọn Việt gian Cộng sản cũng như bọn bá quyền xâm lăng phương Bắc.

Vậy, khi chúng ta vạch mặt bọn Việt gian Cộng sản và chỉ cho mọi người thấy rằng: chúng chỉ là một bọn tay sai bán nước cho Tàu Bắc Kinh để mọi người hiểu rõ bản chất và dụng ý thâm độc của bọn chúng, chúng ta nên tẩy chay tất cả những gì do chúng dựng ra. Ví dụ như ta tẩy chay các “đại hội” do bọn tay sai Cộng sản và bọn Tàu Cộng nằm dưới danh nghĩa “cộng đồng người Việt tị nạn bọn Việt gian Cộng sản ở hải ngọai”. Và nếu để ý chúng ta nhìn thấy các “đại hội” của chúng tổ chức xướng ca thường lớn hơn những ngày lễ hội Việt Nam có tính cách truyền thống như ngày lễ của Đức Thánh Trần, ngày lễ của Đức Vua Lê Lợi, Đức Vua Quang Trung ..v.v.. Ngày nay bọn Việt gian Cộng sản Hà Nội và Bắc Kinh đang muốn nhân dân Việt Nam trong nước cũng như người Việt tị nạn bọn Việt gian Cộng sản tại hải ngoại hãy “xoá bỏ hận thù”, cũng như đừng câm thù bọn Việt gian Cộng sản. Vì vậy bọn chúng đã ra sức mở những ngày gọi là “đại hội” để tẩy nảo và nhồi sọ những người chống cộng, cũng như lớp trẻ hiện nay chưa hiểu nhiều về bọn Việt gian Cộng sản và bản chất Việt Gian của chúng, nhất là bọn Việt gian Cộng Sản. Vì vậy khi báo chí kiểu tay sai ngoại vận của chúng đã hô hào “đại hội” thì chúng ta người Việt tị nạn bọn Việt Gian Cộng sản phải điểm mặt, chỉ tên bọn chúng, tẩy chay, lật mặt bọn chúng và không cần thiết đến “đại hội” của chúng làm gì.

Trong lịch sử Việt Nam duy nhất chỉ có một đại hội đó là “Đại Hội” Quân Sự Bình Than, mà sử sách ghi là Hội Nghị Quân Sự Bình Than. Vì vào cuối thế kỷ thứ mười ba (13) khi nhà Trần đã lập kế hoạch quân sự cùng với sự bố trí nhân sự khắp nơi từ vùng Bắc miền Trung cũng như toàn vùng miền Bắc để chống quân xâm lăng Mông cổ, thì sau đó một Hội Nghị Quân Sự Bình Than được diễn ra. Hội Nghị Quân Sự Bình Than có thể nói là một “hội nghị” lớn nhất trong lịch sử Việt đã được triệu tập do một bộ chỉ huy tối cao của quốc gia thời đó. Đó cũng là một thời điểm gay go nhất trong lịch sử Việt Nam để động viên toàn dân đứng lên chống giặc ngoại xâm Mông Cổ. Và cuối cùng tổ tiên ta đã ba (3) lần đánh bại giặc ngoại xâm Mông Cổ phương Bắc.

Ngày nay lạm dụng danh từ “đại hội” Gs Nguyễn Xuân Vinh đã theo lệnh của ai đó nên cũng đứng ra tổ chức “Đại Hội”. Nhưng có lẽ “đại hội” của Gs Nguyễn Xuân Vinh thuộc về phạm vi của “đảng”, vì do “đảng” Việt Gian Cộng sản Hà Nội đã đứng đằng sau tổ chức giùm cho Gs Nguyễn Xuân Vinh, và như vậy “đại hội” này thuộc về “đại hội đảng” chứ không phải đại hội quốc gia hay đại hội quốc dân đúng nghĩa. Tính chất đúng nghĩa của “đại hội” hay “hội nghị” quốc gia không có định kỳ và cũng không có ca nhạc, văn nghệ văn gừng nhảy nhót lung tung như “đại hội đảng” kiểu của Gs Nguyễn Xuân Vinh. Hơn ai hết người Việt chúng ta đã có quá thừa kinh nghiệm “đồng hóa”, hay “đoàn ngũ hóa” kiểu Cộng Sản, nhất là bọn Việt gian Cộng Sản Hà Nội và mục đích của “đại hội đảng” đã không đi ra ngoài những điều như trên đã nói. Hàng triệu người đã sống và đã có kinh nghiệm xương máu với bọn Việt gian Cộng Sản, chúng ta thấy ngay cái trò lưu manh đểu cán của chúng khi chúng tổ chức “đại hội” “đoàn thể”, “hội đoàn ..v.v..”. Hơn nữa chúng ta đang sống trong xã hội văn minh tự do tư tưởng, tự do ngôn luận như đất nước Hoa Kỳ, thì tại sao phải lập ra các tổ chức để theo dõi tư tưởng hay hành động của người khác? Hay để “đoàn ngũ hoá” mọi người?. Có lẽ vì chúng đã quen kiểu “công an trị”, quen dọa người bằng nòng súng AK, quen xài cùm, kẹp để bỏ tù những ai không cùng suy nghĩ như chúng chăng?

Tuy đất nước Việt Nam chỉ là một vùng đất nhỏ bé đang bị Trung Cộng và Việt Gian Cộng sản Hà Nội cai trị trong cùm sắt công an và họng súng AK, dân Việt hiện nay hình như chưa có người lãnh đạo hay lực lượng quân sự khả dĩ có thể làm thay đổi tình thế đang biến động trong đất nước Việt Nam. Nhưng trớ trêu thay! Việt Nam lại là vai trò chính yếu, là yếu điểm chiến lược vô cùng quan trọng trong ván cờ để giải quyết vấn đề Trung Cộng. Hiện nay chỉ có Hoa Kỳ là quốc gia hùng mạnh và thừa sức giúp đỡ dân Việt dành lại độc lập tự do cho đất nước Việt Nam, nếu Hoa Kỳ muốn bảo đảm một nền hòa bình lâu dài trên thế giới nói chung và cho Hoa Kỳ nói riêng. Nhưng nếu Hoa Kỳ vì nhiều điểm lợi nho nhỏ trước mắt đã làm ngơ không giúp đỡ Việt Nam mà mặc nhiên để cho bọn cầm quyền Việt Gian Cộng sản và Trung Cộng thao túng và chiếm đóng Việt Nam (như trên đã nói), thì thiết nghĩ những người quốc gia lưu vong đâu còn gì để hy vọng người “bạn” Hoa Kỳ. Và như vậy thì một điều có thể nói chắc chắn rằng: từ thời điểm này đến năm 2010 chúng ta sẽ thấy quân khủng bố gia tăng các cuộc đánh bom tự sát khắp nơi, (có thể ngay cả trong nước Mỹ và giới anh ninh Mỹ nên biết rằng không phải chỉ có “Hồi Giáo” mới biết hay mới có thể khủng bố) và nhiều nước nhỏ trên thế giới sẽ chịu thua và bỏ cuộc vì họ không còn tin tưởng hay hy vọng gì nữa ở chính phủ Hoa Kỳ có thể giúp đỡ được họ. Lúc đó Trung Cộng sẽ ra mặt tuyên bố Á Châu, Úc Châu, Trung Đông và Nam Mỹ Châu là của người Tầu hay dưới sự “bảo hộ” kiểm soát của “chính quyền Trung Hoa”. Nói một các khác là: “Hoa Kỳ không có lý do gì nhúng tay vào nội bộ của các nước đang là “đồng minh của nhân dân Trung Hoa” cả.

Chúng ta tự hỏi! Hoa Kỳ, phương Tây, Úc Châu hay Nhật Bản họ giầu có và hùng mạnh để làm gì? Phải chăng giầu mạnh để ngồi chơi hay để lấy tiếng, giầu mạnh để ích kỷ hưởng thụ một mình?! Họ giầu mạnh để “mặc kệ” cho Trung Cộng và bọn khủng bố tự do đánh phá toàn thế giới như chúng ta đang thấy. Dân tộc Việt Nam đang bị Trung Cộng qua bàn tay của bọn Việt Gian Cộng sản chúng diệt chủng dân Việt, nhưng các nước giàu có và hùng mạnh họ vẫn cứ để yên và ích kỷ hưởng thụ như vậy chăng?. Sự giầu sang nếu không có sức mạnh để bảo vệ sự sang giầu đó, thì rồi cuối cùng chính những nước giầu sang cũng sẽ bị những bọn ăn cướp tấn công cướp của đó là lẽ thường tình. Mất vùng đất Đông Dương (nhất là Việt Nam ), thì chuyện gì sẽ xảy ra cho thế giới tự do chúng ta hãy chờ xem.

Người ta có quyền hãnh diện về các thành quả của sự “văn minh” vật chất về khoa học kỹ thuật, sức mạnh quân sự cũng như sự giàu có tiền rừng bạc biển. Nhưng sự giầu sang, sức mạnh quân sự hay khoa học kỹ thuật nếu không được sử dụng đúng nơi, đúng lúc, với lý tưởng “bảo vệ con người” để “cứu nhân độ thế”, thì những điều đang nói kia cũng chỉ là con số zero vô nghĩa. Một quân đội hùng mạnh với hàng triệu quân tinh nhuệ cũng có thể sẽ tan rã trong một ngày vì một loại bệnh dịch lạ. Một trận động đất làm vỡ đập Tam Khẩu thì chỉ trong một ngày hàng trăm triệu người dân Tầu Hoa Lục sẽ biến thành cá và lội ra biển. Sự giàu có với văn minh khoa học kỹ thuật thì không thể chống lại các thiên tai của trời đất như trận “động đất” ở Tứ Xuyên là một ví dụ.

Hoa Kỳ đã tốn rất nhiều thời gian và tiền của để xây dựng một quân đội hùng mạnh với các loại vũ khí cực kỳ tối tân, nhưng hình như không ai có quyền sử dụng cho nhu cầu cần thiết để đối phó với Trung Cộng và quân khủng bố. Đây có lẽ là một sự lố bịch nhất mà không ai có thể ngờ, trong khi đời sống của họ rất thực tế. Không ai bỏ ra hàng trăm tỷ đô la để chế máy bay, hỏa tiễn, vệ tinh để rồi ngồi mà ... ngắm. Trên thế giới này có lẽ chỉ có Hoa Kỳ đã bỏ ra hàng ngàn tỷ đô la chế tạo những loại phi đạn tối tân, vũ khí vô cùng lợi hại, quân đội tinh nhuệ được trang bị từ đầu đến chân rồi chỉ để làm ... kiểng. Khi lính Mỹ chưa ra trận đánh nhau, thì nhiều điều buồn cười là ngay trong nước Mỹ đã có những cuộc biểu tình hô hào phản chiến. Rồi đến khi quân đội đang đánh nhau ngoài mặt trận thì báo chí, quốc hội cũng như các tôn giáo căng biểu ngữ biểu tình đòi quân đội Mỹ phải rút quân, các quân nhân tử trận được đem về Mỹ chôn cất thì đám “phản chiến phá hoại” có “quyền tự do” kéo nhau ra nghĩa địa “ăn mừng” trên nỗi mất mát, đau khổ của thân nhân các tử sĩ đó, họ lạm dụng “quyền tự do ngôn luận” để phá hoại xã hội, để phá vỡ các cơ cấu điều hành của chính quyền. họ được bình an sống trong nước Mỹ để hưởng thụ nhưng họ lại to mồm và làm những việc vô cùng xuẩn động, các TV đếm xác nêu tên từng người để ... “làm thống kê cho chính xác” (hay để khủng bố tinh thần thân nhân của những người chiến binh Hoa Kỳ), các tướng chỉ huy ở bộ Quốc Phòng gần như điên đầu vì báo chí tra vấn, hạch hỏi những điều vô thưởng vô phạt. Nhưng cũng công bằng mà nói với kiểu sống “thực tế” như người Mỹ và lối suy nghĩ quá kỹ càng, quá lâu nên nhiều lúc cho dù có Thượng Đế cũng phải nổi nóng!.

Chuyện binh biến là chuyện bất ngờ máu đổ đầu rơi, tàn phá chết chóc, nên phải cần đối phó hay phản ứng thật nhanh với tầm đạn bắn, thời gian và sự quyết định để chiến thắng đều không thể chờ đợi ở những người “cầm binh” không đủ sáng suốt hay sự dứt khoát để quyết định chiến trường. Vì sự quyết định hành động phải ngắn, gọn, phải hành động kịp thời, cấp tốc, đúng nơi và đúng lúc. Quân đội hùng mạnh vũ khí tối tân nhưng còn cần phải có vị Đại Tướng giỏi đầy mưu lược mới đủ yếu tố thắng trận (“Chiến Tướng” là người xông pha chiếm thành đoạt lũy. “Đại Tướng” là người ngồi trong doanh trại mà hiểu rõ việc ba quân ngoài chiến trường - nên Đại Tướng khác nhau với Chiến Tướng). Hiện nay Hoa Kỳ và thế giới tự do hình như không còn đủ thời giờ để bàn hay lý luận rằng: nên giúp hay không nên giúp đất nước Việt Nam . Nếu chúng ta không giúp những quốc gia cô thế, thì giả sử mai đây thình lình đất nước chúng ta bị tấn công thì ai sẽ đứng ra cứu giúp chúng ta đây?. Hỏi “Thượng Đế” thì có lẽ lúc đó “Thượng Đế” cũng sẽ quay lưng lại với chúng ta cũng như chúng ta đã quay lưng bỏ Đông Dương để chạy như trước đây và hậu quả này là 3 nước Việt, Miên, Lào đều phải gánh chịu cho thế giới tự do được sống bình an cho đến ngày hôm nay. Ngày nay kết quả là Nam Á Châu với đại họa Cộng sản Trung Cộng với nạn diệt chủng vô cùng thê thảm cho 3 nước Việt, Miên và Lào. Giờ này không biết vùng đất nghèo nàn nhỏ bé của Việt Nam đã có bao nhiêu công ty ngoại quốc “bao thầu” và “đầu tư”. Họ buôn và bán những gì thì mọi người đều biết, chỉ có dân tộc Việt Nam là hứng chịu tất cả mọi nỗi cơ cực, cơ hàn, đau khổ, nhục nhằn, tàn phá, chết chóc mà có lẽ chẳng bao giờ nỗi đau khổ, đau thương này được hàn gắn và được bù đắp cho xứng đáng.

Chỉ có sự công minh, lòng thương yêu chân thật, việc làm chính nghĩa và trung hậu với tâm lành cứu nhân độ thế, để đem lại cơm no áo ấm cho những quốc gia nhỏ yếu nói chung và cho nhân dân Việt Nam nói riêng, thì mới có thể tạo được những nghiệp quả to lớn và phúc đức vô lượng. Ngược lại những ai tiếp tay cho cán bộ Việt Gian Cộng sản công khai hoạt động tại Hoa Kỳ này, nhằm mục đích kéo dài sự tồn tại của chế độ Việt Gian Cộng sản trong nước để họ hưởng lợi, kéo dài chế độ sài lang hà khắc đang cai trị nước Việt Nam, gây cảnh đói khổ tang thương cho gần 90 triệu người dân Việt hiện nay, thì những thế lực này họ phải hoàn toàn gánh chịu hậu quả cũng như nghiệp báo cho nhiều đời con cháu và đất nước của họ sau này. Người Tây phương thì hình như họ “không tin” vấn đề Thất Đức hay Phúc Đức và danh từ “phúc đức” hay “thất đức” cũng không có trong tự điển Anh hay Pháp hoặc những từ tương đương đồng nghĩa, cũng như “không ai có quyền trừng phạt những kẻ đã tạo ra nghiệc ác ngoài thượng đế”, cho nên dù chúng ta có cố gắng dùng danh từ “phúc đức” để giải thích thì họ cũng chẳng bao giờ hiểu được. Nhưng một điều hiện hữu là khi tai họa hay nghiệp báo đã xảy ra (trở về đòi) hay đúng lúc người ta phải “trả nghiệp”, lúc đó dù có biết hay ăn năn hối hận thì cũng đã muộn. (động đất, bão tố, nước lụt, vỡ đê.)

Cộng sản Hà Nội và Cộng sản Bắc Kinh đã tàn sát và giết chóc người Việt Nam gần như diệt chủng trong hơn 60 năm qua, hay là từ năm 1945 cho đến nay thì bất cứ một người Việt Nam nào cho dù ngu cũng đều hiểu như vậy. Duy chỉ có các “quốc gia” nhân danh “tự do dân chủ” và “lòng thánh thiện” thì lại “không hiểu” như vậy. Cũng từ ngày Việt Gian Cộng sản “Cướp Chính Quyền” cho đến nay, chúng đã theo lệnh của Nga, Tầu ép buộc thanh niên Việt Nam phải lao đầu vào hai cuộc chiến khiến cho gần khoảng 10 triệu người miền Bắc (chỉ riêng miền Bắc) phải bị giết vì bom đạn chiến tranh, hàng nhiều triệu người Việt Nam cả nước phải bị tù đày, đói khổ, nhà tan cửa nát. Từ các vụ đấu tố cải các ruộng đất”, các trại tập trung tù cải tạo với chủ ý là để tiêu diệt cho hết các tinh hoa của người Việt Nam từ Bắc vào Nam, tiêu diệt các thành phần ưu tú, các giới lãnh đạo, giới trí thức và cuối cùng là tiêu diệt văn hóa của người Việt Nam dưới sự chỉ thị, chỉ đạo của các cán bộ Cộng sản Trung Cộng qua bàn tay của bọn Việt Gian Cộng sản. Các cán bộ Cộng sản Trung Cộng cũng có cả một kế sách chỉ đạo để biến người Việt Nam thành một “lũ ngợm” ngu dốt, thất học và bần cùng. Trung Cộng cũng đã và đang tiêu diệt người Việt trong sự thầm lặng. Họ đã âm thầm với nhiều mưu kế thâm độc lóc thịt người dân Việt đến tận xương bằng đủ cách, đủ kiểu. Trung Cộng cũng muốn cho đất nước Việt Nam suy thoái trên mọi phương diện rồi từ sự đói khổ đó người Việt Nam đi đến ăn mày, ăn xin, làm đĩ, làm điếm cho người Tầu và các “ông chủ” ngoại quốc ngay trên đất nước của họ. Thành phần thanh thiếu niên thì nghiện ngập xì ke, ma túy, tàn phá xã hội cũng như giáo dục và cuối cùng là người Việt Nam phải làm nô lệ cho Tầu Trung Cộng đó là điều hẳn nhiên.

Những chức vụ cao trong guồng máy cầm quyền hiện nay đều do người Tầu hoặc người lai Tầu nắm giữ, bọn này nói rất sõi tiếng Việt và lấy vợ Việt hoặc chúng dùng những tên Việt thuộc loại bần cố nông ngu dốt để dễ sai bảo. Tiền bạc nước ngoài “đầu tư” và các khoảng tiền khác kể cả khoảng 10 tỷ người Việt gởi về cho thân nhân trong nước mỗi năm đều chạy vào túi của Bắc Kinh. Tiền xuất cảng hàng hóa, xuất cảng lao động (một hình thức bán nô lệ) hàng trăm tỷ đô la mỗi năm cũng được Bắc Kinh “giữ dùm” cho “đảng”. Bắc Kinh cũng đã ra “chỉ tiêu” cho bọn Việt Gian Cộng sản phải ký các hiệp ước đầu tư và phải thu khoảng 80 tỷ cho mỗi năm hay là khoảng 1000 tỷ từ bây giờ cho đến hết năm 2015. Hiện nay Trung Cộng đang dành độc quyền về mọi mặt trong đất nước Việt Nam . Theo một bản tin của đài VOA đánh đi vào sáng ngày 29 tháng 3/2009 thì đã có khoảng 70% các công ty đầu tư ngoại quốc đã hủy hợp đồng và bỏ chạy khỏi Việt Nam .

Khoảng tháng 12 năm 2005 Bắc Kinh đã ra lệnh cho Việt Gian Cộng sản phải khỏi công xây đập thủy điện Sơn La cao khoảng 150 mét, vì quá ngu dốt nên bọn cầm quyền Việt Gian Cộng sản đã “hồ hỡi thi đua” để cho hoàn tất. Về mặt chiến lược nếu đập Sơ La vì một lý do gì đó bị không quân Trung Cộng có thể “đánh nhầm mục tiêu” (vì xài bản đồ cũ, kiểu bản đồ của CIA xài mấy năm trước ở Kosovo), hoặc “răng” Bắc Kinh lỡ cắn “môi” Hà Nội, thì tất cả người dân Hà Nội sẽ làm mồi cho cá ở biển Đông, hàng chục triệu người Việt ở các vùng sông Hồng cũng sẽ lãnh hậu quả tương tự. Khi khởi công dự án xây đập Sơn La có khoảng 60 ủy viên ban chấp hành Trung Ương Cộng sản đã bỏ phiếu chống lại công trình xây đập này của Trung Cộng và kết quả là hầu như tất cả 60 ủy viên này sau đó đều bị các tên tình báo Trung Cộng giết hết. Sau đó Bắc Kinh còn ra lệnh cho đám đầu não của đảng Việt Gian Cộng sản phải chi khoảng 500 triệu để xây một số cây cầu bắc qua sông Hồng, vì Bắc Kinh cũng cần đem hàng triệu quân để tiến xuống chiếm đóng toàn vùng Nam Á Châu. Như vậy Trung Cộng chiếm đóng Việt Nam là chuyện thật chứ không phải chỉ là chuyện “tuyên truyền” như một vài “nhà báo” nào đó ở vùng Nam Calif đã đặt câu hỏi với người viết. Cho nên những người “làm báo”, “làm truyền thông” cũng phải cần có kiến thức về chính trị hay tình báo và quan trọng là cần có Cái Đầu Biết Suy Luận. Chứ không thể lúc nào cũng căn cứ theo những bản tin của ngoại quốc đưa ra để làm con số chính xác hay “kiến thức” chuyên môn của mình.

Bắc Kinh thì luôn luôn tính “chắc ăn” như vậy, nhưng Bắc Kinh có thành công để tiêu diệt và đồng hóa dân tộc Việt Nam hay không thì lại là một vấn đề khác mà ta không nên bàn ở đây, vì tai mắt bọn Tầu đỏ Trung Cộng đang có mặt khắp nơi. Hiện nay Trong Cộng có lẽ đang câu giờ mua thời gian hoặc có thể bất ngờ tấn công Mỹ cũng như phương Tây. Trong khi đó tại các cộng đồng người Việt hải ngoại, Bắc Kinh đã xử dụng nhiều hình thức lừa bịp với một lũ Việt gian cũng như tay sai cam tâm bán nước cho Tầu Trung Cộng qua nhiều hình thức, chúng ru ngủ để bịt miệng bịt mồm người dân trong nước và ở hải ngoại hầu đánh lạc hướng chính trị của người dân Việt Nam tại Hoa Kỳ nói riêng. Mặt khác tung tiền mua chuộc các thành phần “phản chiến” để đưa người Mỹ vào sự lơ là quay lưng lại với người Việt Nam, mặt khác lợi dụng hệ thống truyền thông và bọn tay sai người Việt chúng tung tin rằng: “Mỹ đã bỏ chạy khỏi Việt Nam một lần rồi, thì ngày nay Mỹ chẳng còn bụng dạ nào để vào lại Việt Nam. Vì chính quyền Mỹ đã bị hội chứng Việt Nam ám ảnh”, khiến số đông người Việt không hiểu nhiều về chính trị không muốn hợp tác với Hoa Kỳ trong công cuộc chống lại Trung Cộng, chống lại sự tiêu diệt đồng hóa người Việt Nam của bọn xâm lăng Bắc phương. Ngoài vấn đề này ra Trung Cộng và Việt Gian Cộng sản cũng đã cho rầm rộ tổ chức “dạy Việt Ngữ” cho lớp trẻ người Việt ở Hoa Kỳ và ở khắp nơi các cộng đồng có người Việt hải ngoại, các sách vở tiếng Việt được Tầu cho in từ trong nước gởi sang với mục đích tuyên truyền nhồi sọ tư tưởng Cộng sản Tầu cho trẻ em người Việt.

Nếu đọc kỹ các sách vở của chúng ta thấy chúng đã viết sai lạc lịch sử Việt Nam rất nhiều, chúng ngang nhiên cho xóa tên các anh hùng danh nhân người Việt đã có công đánh Tầu để giữ nước, với mục đích làm cho trẻ em quên đi nguồn gốc Việt Nam và các vị anh hùng trong sử Việt. Điểm khó cho chúng ta là: Khối người Việt quốc gia thầm lặng lại không có báo chí, TV, radio như chúng và chúng ta không thể tổ chức thành những hội đoàn chống Cộng, vì chổ nào cũng có mặt bọn tay sai Việt Gian nằm vùng len lõi vào để đánh phá chúng ta. Nhưng một điều may cho chúng ta là khối người Việt thầm lặng họ cũng không dại gì để cho bọn cán bộ Tầu Trung Cộng và bọn Việt Gian Cộng sản nằm vùng “đoàn ngũ hóa” hay “nắm bắt” được họ. Điều may mắn nữa cho chúng ta là một số lớn người Việt tị nạn họ đã có rất nhiều kinh nghiệm về sự tàn ác, lưu manh, tráo trở của đám nằm vùng tuyên vận hải ngoại, tuy người Việt Quốc Gia chưa thành lập tổ chức nào gọi là lớn để kết hợp người Việt hải ngoại thành một khối, cũng như một lực lượng chống Cộng mạnh mẽ, nhưng họ đã từng trãi và có nhiều kinh nghiệm, kế hoạch khôn ngoan để chống Cộng và chắc chắn họ sẽ trao truyền lại cho lớp người đi sau. Nói tóm lại Việt Gian Cộng sản đã có hậu thuẫn từ Nga sô và nhất là Tầu Trung Cộng trong 60 năm qua (1949-2009) cho nên muốn tiêu diệt chúng không dễ dàng.

Nhưng chuyện đời, chuyện thay đổi hay những biến chuyển bất ngờ của lịch sử thì ai mà biết được và dĩ nhiên là: “bệnh quỷ thì có thuốc tiên”, và rồi chúng sẽ bị tiêu diệt và sẽ bị chết và còn nhiều điều bất ngờ không thể tiết lộ nhưng có thể nói chắc rằng: Đế quốc xâm lăng, xâm thực Trung Cộng và nhiều “đế quốc” khác sẽ bị đào thải và tiêu diệt. Đất nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam sẽ mãi mãi trường tồn và rồi nhân loại này sẽ không còn có những kẻ đầu trâu mặt ngựa tham lam, lừa bịp, tàn ác, tàn bạo nửa. Thế giới này sẽ tiến lên cao hơn với nền khoa học kỹ thuật mới, văn minh mới sẽ trỗi dậy, mọi dân tộc sẽ vượt qua những khó khăn trước mắt để sống trong hòa bình, hạnh phúc.

Vân Anh

Xin xem tiếp bài 3

Monday, March 2, 2009

Lam The Nao De Tau Khong Gay Chien VN - A Chau - RFA 2009-03--02

Dân Biểu Loretta Sanchez :Hãy lên tiếng vì tự do internet ở Việt Nam




“Hãy lên tiếng vì tự do internet ở Việt Nam”

Hãy bảo vệ quyền tự do ngôn luận tại Việt Nam


2009-03-02

Nhiều người trẻ ở Mỹ đang tích cực hưởng ứng chiến dịch mang tên “Hãy lên tiếng vì tự do internet ở Việt Nam” bằng cách gọi điện, email, hoặc viết thư cho các dân biểu Hoa Kỳ yêu cầu họ ký tên vào thỉnh nguyện thư đề nghị các đại công ty internet như Microsoft, Google, và Yahoo! hãy bảo vệ quyền tự do ngôn luận của người dân tại Việt Nam, không hỗ trợ chính quyền Hà Nội trong việc kiểm soát internet.



“Hãy lên tiếng vì tự do internet ở Việt Nam”

Hãy bảo vệ quyền tự do ngôn luận tại Việt Nam

Người đề xướng bức thư ngỏ này là nữ dân biểu liên bang kiêm Chủ Tịch Ủy Ban Quân Vụ Hạ Viện Hoa Kỳ, bà Loretta Sanchez, từ Quận Cam (Bang California), nơi có đông đảo người Việt định cư.

Phát biểu với đài RFA, tác giả bức thỉnh nguyện thư nói rằng:

Mối quan tâm của chúng tôi liên quan đến Việt Nam là chính phủ Hà Nội luôn tìm cách kiểm duyệt quyền tự do internet của công dân, đặc biệt là đàn áp những tiếng nói trên mạng nhằm cổ vũ dân chủ và đòi hỏi quyền tự do cho người dân. Bức thư ngỏ do tôi và tân dân biểu liên bang người Việt Joseph Cao Ánh sẽ đựơc gửi đến các công ty như Microsoft, Yahoo! và Google, những đại công ty đã gia nhập vào "Sáng kiến mạng toàn cầu"

Mối quan tâm của chúng tôi liên quan đến Việt Nam là chính phủ Hà Nội luôn tìm cách kiểm duyệt quyền tự do internet của công dân, đặc biệt là đàn áp những tiếng nói trên mạng nhằm cổ vũ dân chủ và đòi hỏi quyền tự do cho người dân. Bức thư ngỏ do tôi và tân dân biểu liên bang người Việt Joseph Cao Ánh sẽ đựơc gửi đến các công ty như Microsoft, Yahoo! và Google, những đại công ty đã gia nhập vào "Sáng kiến mạng toàn cầu", tức quy tắc nhằm bảo vệ quyền tự do internet của người dân tại các quốc gia độc tài. Chúng tôi đã nhận được một số chữ ký của các dân biểu liên bang và đang tíêp tục kêu gọi thêm sự ủng hộ của nhiều đồng nghiệp khác trước khi gửi đi.

Với kỳ vọng internet tại Việt Nam sẽ được xem là một diễn đàn rộng mở và tự do đối với mọi người dân như ở các nước tiến bộ khác, chúng tôi mong rằng các đại công ty internet sẽ nghiêm túc tôn trọng những gì đã cam kết trong "Sáng kiến mạng toàn cầu.”

Còn những bạn trẻ Việt Nam ở hải ngoại có tâm tư gì muốn chia sẻ khi tham gia hưởng ứng lời kêu gọi này? Mời quý vị cùng gặp gỡ với hai vị khách mời trong chương trình hôm nay:

Thông : Mình là Quốc Thông, mình đang ở ....... , tốt nghiệp ngành sinh hoá, và bây giờ mình đang học lên tiến sĩ.

Quân : Quân ở vùng New England. Quân cũng vừa học xong và bắt đầu đi làm.

Trà Mi : Cảm ơn hai anh rất là nhiều. Chủ đề ngày hôm nay nói về chiến dịch lên tiếng yêu cầu các dân biểu Hoa Kỳ ký tên vào thỉnh nguyện thư kêu gọi các công ty internet quốc tế không hỗ trợ Việt Nam trong việc ngăn chận kiểm soát Net. Hai anh là những người trẻ đã hưởng ứng chiến dịch này thì các anh có thể cho biết động lực nào đã thúc đẩy các anh tham gia vào chiến dịch này.

Người dân Việt Nam bị bóp nghẹt quyền tự do thông tin

Thông : Có hai động lực. Thứ nhất là Thông thấy người dân Việt Nam bị bóp nghẹt quyền tự do thông tin, tự do bày tỏ ý tưởng hay là tư tưởng, bị chính quyền ngăn cấm sử dụng internet hoặc ngăn cấm những ai sử dụng blog. Thông thấy người dân Việt Nam bị chà đạp nên Thông đáp lại lời kêu gọi qua internet (mà) tham gia kêu gọi.

Thông thấy người dân Việt Nam bị bóp nghẹt quyền tự do thông tin, tự do bày tỏ ý tưởng hay là tư tưởng, bị chính quyền ngăn cấm sử dụng internet hoặc ngăn cấm những ai sử dụng blog. Thông thấy người dân Việt Nam bị chà đạp nên Thông đáp lại lời kêu gọi qua internet (mà) tham gia kêu gọi.

Trà Mi : Dạ vâng. Chiến dịch này mang tên là "Hãy lên tiếng vì tự do internet tại Việt Nam" mà theo các anh thì tại sao người Việt hải ngoại, đặc biệt là những người trẻ như các anh, cần phải lên tiếng về vấn đề này?

Thông : Thông thấy chính quyền Việt Nam hồi nào tới giờ đã ra những luật rất là vô lý. Người dân Việt Nam từ hồi nào tới giờ bị chính quyền độc tài bưng bít thông tin, không cho người dân góp ý kiến để xây dựng đất nước. Cho nên Thông thấy nếu mình không lên tiếng thì họ sẽ được nước làm tới.

Quân : Theo Quân, đây là một cơ hội mà người trẻ mình có thể cùng nhau lên tiếng bằng cách nhờ qua những người đại diện của mình, tức những dân biểu của mình, họ có thể lên tiếng cho mình trong thời điểm này. Mình nên nhờ họ lên tiếng thì được rộng rãi hơn, nhất là họ đang làm việc trong Quốc Hội Mỹ.

Trà Mi : Những người trong nước (thì) chính họ là nạn nhân trực tiếp, vậy nếu phải lên tiếng thì chính họ phải là người lên tiếng chớ? Tại sao lại là người Việt hải ngoại, đặc biệt là những người trẻ hải ngoại?

Thông : Người trẻ Việt Nam ở bên đây mình có thông tin dầy đủ, mình cũng nên lên tiếng. Thông thấy người trẻ ở Việt Nam họ cũng lên tiếng vậy.

Bày tỏ chính kiến chỉ để góp phần xây dựng cho đất nước

Quân : Theo Quân thiết nghĩ thì mình là người ở nước ngoài, mình được quyền tự do ngôn luận, mình nên sử dụng quyền tự do của mình để lên tiếng cho đất nước Việt Nam của mình. Còn những người bạn trong nước hiện nay thì họ đang bị bịt miệng bởi một chế độ độc tài nên họ rất khó có thể lên tiếng từ trong nước. Mặc dù vậy, trong những năm gần đây mình cũng đã thấy được là những bạn trẻ trong nước đã tiếp xúc được với thế giới internet và blog cho nên rất nhiều bạn đã lên tiếng. Các bạn trẻ trong nước vẫn lên tiếng đó chứ.

Trà Mi : Như anh Quân cũng vừa mới nói là vì người trẻ ở nước ngoài có cơ hội rộng hơn so với người trẻ trong nước cho nên việc lên tiếng này tương đối dễ dàng hơn thì tại sao mình không lên tiếng. Vậy nhân đây xin được hỏi các anh là các anh ở nước ngoài thì các anh so sánh cái tự do internet của Việt Nam, theo chỗ các anh ghi nhận được, với tự do internet của các quốc gia tiến bộ thì các anh thấy những khác biệt nào đáng chú ý? Mời các anh chia sẻ thêm.

Theo Quân thì có sự khác biệt, đó là gần đây Việt Nam đã ra nghị định không cho các blogger bàn về vấn đề chính trị. Chính trị là vấn đề mà các bạn trẻ cần phải tham gía để xây dựng đất nước. Đó là điều rất khác biệt quá rõ.

Quân : Theo Quân thì có sự khác biệt, đó là gần đây Việt Nam đã ra nghị định không cho các blogger bàn về vấn đề chính trị. Chính trị là vấn đề mà các bạn trẻ cần phải tham gía để xây dựng đất nước. Đó là điều rất khác biệt quá rõ.

Thông : Thông cũng có suy nghĩ giống như anh Quân, nhưng mà Thông muốn thêm một điều là ở bên các nước văn minh thì chính quyền lúc nào cũng khuyến khích người dân, đặc biệt là giới trẻ, lên tiếng, góp ý để xây dựng đất nước, nhưng ở Việt Nam thì chính quyền lúc nào cũng muốn bóp nghẹt tiếng nói của người dân; chính quyền không muốn cho những người bất đồng chính kiến lên tiếng, cho nên Thông thấy cái đó là điều bất lợi trong việc xây dựng đất nước đó. Điều 69 Hiến Pháp của Việt Nam cũng có ghi rõ là người dân có quyền lên tiếng, có tự do tư tưởng, tự do bày tỏ ý kiến, và có luôn những điều khoản cho người dân biểu tình này kia. Hiến pháp thì ghi như vậy thôi, còn thực tế thì rất trái ngược.

Trà Mi : Thế nhưng nếu có ý kiến rằng chính quyền Việt Nam cho phép tự do trao đổi, tự do truy cập thông tin trên mạng, chỉ ngăn chận những thông tin có tính độc hại hay là mang tính đe doạ đến an ninh quốc gia, trật tự xã hội, cũng giống như chính quyền Mỹ ngăn cấm những thông tin khủng bố đó thôi. Tuỳ từng hoàn cảnh của mỗi quốc gia mà có những luật lệ riêng biệt. Thì ý kiến của các anh ra sao?

Quân : Theo Quân thì việc các bạn trẻ lên tiếng cho vấn đề chính trị ở Việt Nam không có gì liên quan tới an ninh quốc gia, nhất là gần đây các bạn trẻ cũng lên tiếng về vấn đề như Trung Quốc lấn chiếm Hoàng Sa - Trường Sa hay là biên giới Việt Nam, thì các bạn bị bắt như blogger Điếu Cày, hay là blogger Ngô Quỳnh. Họ vẫn bị bắt đó thôi. Họ không làm hại gì cho quốc gia cả.

Trà Mi : Đó là ví dụ anh Quân đưa ra để phản biện lại. Thế còn anh Thông ? Anh có ý kiến nào để bổ sung không?

Quân cũng hy vọng rằng các bạn trẻ ở Việt Nam được sử dụng quyền tự do của mình, đó là quyền tự do ngôn luận để bày tỏ chính kiến của mình để góp phần xây dựng cho đất nước Việt Nam mình được tốt đẹp hơn, được sử dụng quyền tự do ngôn luận rộng rãi hơn qua những trang blog hoặc là internet.

Thông : Thực sự những người Việt Nam đó rất là yêu nước. Nếu mà muốn đất nước mình phát triển thì không có ai lợi dụng internet và blog để mà chống phá nhà nước theo như nhà nước nói. Người Việt Nam mình rất là hiền hoà, đâu có ai muốn dùng internet mà đưa tin khủng bố này kia.

Trà Mi : Thế nhưng những thông tin mà nhà nước cho rằng có thể đe doạ đến an ninh quốc gia, trật tự xã hội thì nhà nước phải ngăn cấm, phải ngăn chận, thì cái đó là điều dễ hiểu thôi. Vậy các anh thấy sao?

Thông : Đó là biện luận của nhà nước để mà lấy cớ chớ không có thật đâu.

Quân : Quân cũng hy vọng rằng các bạn trẻ ở Việt Nam được sử dụng quyền tự do của mình, đó là quyền tự do ngôn luận để bày tỏ chính kiến của mình để góp phần xây dựng cho đất nước Việt Nam mình được tốt đẹp hơn, được sử dụng quyền tự do ngôn luận rộng rãi hơn qua những trang blog hoặc là internet.

Trà Mi : Đó là kỳ vọng của anh Quân, một người trẻ ở nước ngoài được hưởng quyền tự do internet ở môi trường rộng rãi hơn thì anh kỳ vọng cho những người bạn trẻ ở Việt Nam cũng được như thế. Còn anh Thông, anh có gì muốn nhắn gửi đến các bạn trẻ hải ngoại cũng như giới trẻ ở Việt nam ?

Thông : Thông muốn nhắn tới những bạn trẻ ở Việt Nam là chhúng ta đừng sợ hãi, chúng ta hãy đấu tranh vì dân chủ, chúng ta phải quyết những gì mà chúng ta nghĩ là đúng, không có sợ gì cả.

Dân chủ ở nước nào cũng giống nhau

Trà Mi : Anh kêu gọi là hãy đấu tranh vì dân chủ, nhưng nếu những người trẻ trong nước có câu trả lời rằng cái dân chủ theo như quan niệm của người bên ngoài có khác với cái dân chủ theo hoàn cảnh ở trong nước, thì anh sẽ trả lời họ như thế nào?

Thông : Thật sự người dân ở Việt Nam bây giơ họ bị bưng bít thông tin, dân chủ của họ là theo những gì mà nhà nước dạy cho họ mà thôi. Nó không giống như những nền dân chủ ở các nước văn minh trên thế giới. Họ nên tìm hiểu để hiểu rõ dân chủ thực sự là gì. Họ nên lên internet truy cập những thông tin đa chiều, chứ không nên nghe theo những thông tin một chiểu do báo đài nhà nước loan truyền.

Quân : Quân cũng muốn góp ý thêm. Đó là vấn đề dân chủ thì không thể một nước này khác nước kia mà vấn đề dân chủ ở nước nào cũng giống nhau, và quyền quan trọng nhất là mỗi người được quyền nói lên tiếng nói của mình để bày tỏ quan điểm của mình để góp phần xây dựng đất nước tốt đẹp hơn. Nói lên những điều xấu của nhà cầm quyền thì không thể bị kết tội là nói xấu quốc gia hay là bôi nhọ quốc gia, mà đó là một cách làm cho đất nước tốt đẹp hơn bằng cách khắc phục những điều xấu đó.

Trà Mi : Đó cũng chính là thông diệp mà các người trẻ như anh Quân cũng như anh Thông ở đây đã ký tên vào thỉnh nguyện thư để kêu gọi lên tiếng về tự do internet tại Việt Nam.

Trà Mi một lần nữa xin chân thành cảm ơn hai anh dẫ dành thời gian góp tiếng trong chương trình ngày hôm nay.

Quân và Thông : Cảm ơn Trà Mi. Xin chào ạ.

Đến đây Diễn Đàn Bạn Trẻ xin nói lời chia tay với quý vị. Hẹn gặp lại quý vị trong buổi tái ngộ tối Thứ Hai tuần tới. Trà Mi thân ái kính chào.


Quý thính giả muốn đóng gớp ý kiến, xin email về vietweb@rfa.org, hoặc để lại lời nhắn trong hộp thư thoại 001- (202) 530 7775. Để trực tiếp tham gia thảo luận trên Diễn Đàn Bạn Trẻ, xin vui lòng để lại số phone để chúng tôi tiện liên lạc. Ngoài ra, quý vị cũng có thể trao đổi quan điểm trên diễn đàn của trang nhật ký điện tử tại địa chỉ http://www.rfavietnam.com/trami.

*****

Ghi Chú Của Thời Sự Kỷ Nguyên 2000
địa chỉ liên lạc văn Phòng Dân Biểu Loretta Sanchez


Loretta Sanchez
Loretta Sanchez

Văn phòng Dân Biểu Loretta Sanchez:

Ghi truc tiep tren Internet .

http://www.lorettasanchez.house.gov/index.php?option=com_content&task=view&id=218&Itemid=17

Office Addresses




Dân Biểu Sanchez hiểu rằng rất nhiều cử tri không thể xin nghỉ việc để đến văn phòng của bà trình bày nguyện vọng hoặc ưu tư. Dân Biểu Sanchez tin rằng cử tri Bà luôn cần có một người đại diện biết lắng nghe và giúp giải quyết những vấn đề chính đáng của họ. Vì vậy, hàng tháng vào thứ Bảy, bà thường đích thân đến các siêu thị và các chợ trong địa hạt để lắng nghe mối quan tâm của cử tri khi họ đi mua sắm vào dịp cuối tuần.

Xin kính mời quý vị đến với mọi ý kiến, hay những vấn đề cần giúp đỡ với các cơ quan chính quyền liên bang. Dân Biểu Sanchez sẽ có các phụ tá đặc trách về các vấn đề như an sinh xã hội, trợ cấp housing, y tế, v.v. Nếu quý vị không đến được, xin quý vị vui lòng liên lạc văn phòng Dân Biểu Loretta Sanchez tại số (714) 621-0102.


Lilly Ngoc Hieu Nguyen
Field Representative
Office of Congresswoman Loretta Sanchez
12397 Lewis Street, Suite 101
Garden Grove, CA 92840