Friday, July 3, 2009

CÁC TRẬN CHIẾN TRONG CUỘC CÁCH MẠNG HOA KỲ - 1776



CÁC TRẬN CHIẾN TRONG CUỘC CÁCH MẠNG HOA KỲ - 1776


Phạm Văn Tuấn.

1/ Trận Lexington, Concord và Boston.

Vào năm 1775, đã có sự chia rẽ trong dân chúng của 13 xứ thuộc địa Bắc Mỹ. Một số người dân muốn đòi hỏi nền độc lập khỏi nước Anh, họ được gọi là các nhà "ái quốc" (the Patriots). Đối lập với họ là những người "trung thành" (the Loyalists) với Vua George III, hoặc là các đảng viên Tories. Các người trung thành gồm có các thương gia và chủ đất giàu sang, họ muốn duy trì nếp sống phong lưu đang có sẵn. Họ cũng là người dân thường hãnh diện là công dân của nước Anh, hay những người không muốn bị lôi cuốn vào chiến tranh, những người dân này chống đối các nhà ái quốc, coi việc làm áp lực đối với chính quyền Anh là bất hợp pháp và vi hiến. Trong khi đó vẫn có các chương trình hòa giải sự khác biệt chính trị giữa nước Anh và các xứ thuộc địa. Lord North cho rằng nước Anh sẽ không đánh thuế các xứ này nếu họ cung cấp đầy đủ lợi tức cho binh lính Anh trú đóng tại Bắc Mỹ. Edmund Burke lại muốn các người thuộc địa tự quản trị và bỏ phiếu quyết định về thuế vụ của họ, còn William Pitt, lúc này là Lord Chatham, mong muốn xét lại các đạo luật "cố chấp" và hứa rằng Quốc Hội Anh sẽ lại đánh thuế khi có sự đồng ý của các hội đồng dân cử Bắc Mỹ. Một số chính khách người Anh khác bằng lòng về sự đại diện của các xứ thuộc địa tại Quốc Hội Anh. Cuối cùng, tất cả các kế hoạch kể trên đều thất bại và miền đất Bắc Mỹ mang bầu không khí chiến tranh.

Tới thời gian này, tại các tỉnh các nhà ái quốc đã tổ chức các toán quân Minutemen, đây là những dân quân phải sẵn sàng chiến đấu vào giờ phút thông báo. Mặt khác, các kẻ "trung thành" phải tuyên thệ với lý tưởng "ái quốc", một số người bị bắt giam, một số khác có đất đai và tài sản bị tịch thu và bị đẩy ra khỏi cộng đồng. Vào thời kỳ này, các người trung thành phải chọn lựa, hoặc là chống lại các người ái quốc, hoặc bỏ chạy. Hơn 50,000 người trung thành đã theo quân đội Anh hoặc ở lại làm các kẻ tình báo. Tại xứ New York, có 15,000 người trung thành trở nên binh lính Anh và 8,000 người là dân trung thành địa phương. Trong 8 năm tiếp theo, đã có 80,000 người trung thành rời bỏ các xứ thuộc địa, chạy qua sống tại phần đất phía bắc của Hồ Erie và sau này, họ đã lập nên xứ Canada nói tiếng Anh.

Vào thời kỳ này, dân chúng cư ngụ đông đảo nhất là tại phần đất giữa hai thành phố Boston và Philadelphia và cũng chính tại nới này mà tinh thần chống lại người Anh lên cao nhất. Đêm hôm 18 rạng ngày 19 tháng 4 năm 1775, Tướng Gage theo lệnh của Thủ Tướng Lord North, đã phái đi 800 binh lính tới thị trấn Concord cách thành phố Boston 29 cây số (vào khoảng 18 dậm) để tịch thu một số súng đạn của dân quân địa phương. Việc xuất quân này đã không tránh khỏi sự canh chừng của các nhân viên thuộc Ủy Ban An Ninh (the Committee of Safety). Một bác thợ bạc của thành phố Boston tên là Paul Revere đã cưỡi ngựa suốt đêm, đi thông báo cho dân làng biết rằng binh lính Anh đang di chuyển tới Lexington để bắt hai ông Samuel Adams và John Hancock và tới Concord để tịch thu súng đạn. Sáng ngày hôm sau, 19-4, binh lính Anh khi tới thị trấn Lexington, đã gặp một nhóm vào khoảng 70 dân quân ái quốc. Vị chỉ huy binh lính Anh là Thiếu Tá John Pitcairn đã ra lệnh cho các dân quân thuộc địa buông súng. Không ai tuân lệnh. Súng nổ. 8 dân quân bị chết và 1 người bị thương nặng là Đại Ủy John Parker thuộc toán dân quân. Sau đó, toán dân quân rút lui và binh lính Anh tiếp tục tiến đến thị trấn Concord cách đó vài dậm. Tại nơi này, súng đạn của dân quân đã được tẩu tán. Bính lính Anh lục soát vô hiệu rồi sau đó, đã đốt nhiều căn nhà và tìm cách rút lui nhưng trên đường về, họ đã bị dân quân thuộc địa núp trong các bụi cây, các tòa nhà bắn sẻ. Khi trở về tới Boston, tổn thất về phía binh lính Anh là 73 người bị chết, 174 người bị thương và 26 người mất tích. Về phía dân quân thuộc địa, chỉ có 45 người bị thương với 49 người bị chết.

Giao tranh tại Lexington và Concord đã khiến cho các xứ thuộc địa Tân Anh Cát Lợi kêu gọi mọi người dân cầm súng và hội đồng dân cử xứ Massachusetts ra lệnh cho dân quân vây hãm thành phố Boston.

Lúc khởi đầu, các người thuộc địa chưa có một quân đội thống nhất. Lực lượng quân sự của họ là các dân quân địa phương thiếu huấn luyện, chưa quen vâng lệnh cấp trên, cầm đầu bởi các người chỉ huy không có kinh nghiệm. Tổ chức quân đội này cũng chưa có một hệ thống trung ương lo nơi ăn, chốn ở, lo trả lương bổng cho các người lính chiến, lo súng đạn và quân trang cho họ. Trong khi đó 13 xứ thuộc địa chưa biết đoàn kết, còn e ngại rằng mỗi xứ phải gánh chịu các phần đóng góp nhiều hơn và tất cả các địa phương chưa biết hành động một cách thống nhất, theo kế hoạch chung. Cuộc Cách Mạng là một thứ gì mới mẻ và xa lạ.

Biến cố xẩy ra tại Lexington và Concord với các toán dân quân địa phương tham chiến, với số thiệt hại về cả hai phía khá cao, đã khiến cho sự việc này được coi là một cuộc nổi dậy có võ trang chống lại người Anh.

Ngày 10 tháng 5 năm 1775, các đại biểu của các xứ thuộc địa lại hội họp tại Philadelphia, lần này được gọi là Quốc Hội Lục Địa Thứ Hai, để đối phó với tình hình mới. Các đại biểu đã sớm chấp nhận Quốc Hội là một chính quyền trung ương của "Các Thuộc Địa Liên Hiệp Bắc Mỹ" (the United Colonies of America) và công nhận toán quân vây hãm thành phố Boston thuộc "Quân Đội Lục Địa" (Continental Army) của họ. Quốc Hội Lục Địa Thứ Hai cũng chỉ định một nhà quý tộc 43 tuổi thuộc xứ Virginia làm Tư Lệnh Quân Đội, đó là ông George Washington. Nhiều lý do đã khiến cho ông Washington được chọn lựa. Thứ nhất, ông Washington đã là nhân viên của Hội Đồng Dân Biểu Burgesses hay hội đồng dân cử của xứ Virginia và vào thời gian này, Virginia là xứ thuộc địa rộng lớn nhất. Thứ hai, các xứ thuộc địa miền bắc muốn lôi cuốn các xứ miền nam tham gia vào cuộc chiến đấu. Thứ ba, ông Washington đã là một quân nhân có kinh nghiệm, đã từng tham chiến trong Cuộc Chiến Tranh 7 Năm, đã là phụ tá của một vị tướng người Anh và đang chỉ huy toán dân quân của địa phương Virginia.

Ngoài các ưu điểm xuất sắc về lập trường chính trị và quân sự, ông George Washington còn là một nhân vật cao lớn, uy nghiêm, có tinh thần vừa táo bạo, vừa bình tĩnh và tự tin. Quốc Hội đã yêu cầu ông Washington lập ra một kế hoạch phòng thủ thành phố New York, viết ra các kế hoạch xây dựng quân đội, các quy luật cho binh lính và các phương thức để mua súng đạn.


2/ Tướng Washington chỉ huy Quân Đội Lục Địa.

Khi ông Washington nhận chức điều khiển quân đội, binh lính của ông chỉ là các nông dân, thợ rừng, các công nhân tầm thường hay thư ký cấp thấp, họ phục vụ quân đội theo hợp đồng với thời hạn ngắn hơn một năm. Họ chỉ là những người lính thiếu huấn luyện, thiếu thực phẩm, quần áo và súng đạn.

Vào giai đoạn này, Quốc Hội Lục Địa chưa có quyền đánh thuế lên các xứ thuộc địa mà chỉ dám yêu cầu từng hội đồng dân cử cung cấp ngân khoản để mua súng đạn, chưa kể tới thực phẩm và lương bổng của binh lính. Trong khi đó, người lính được trả lương thì tiền bạc của họ là loại tiền giấy rất ít giá trị do Quốc Hội Lục Địa phát hành mà các thương gia và các chủ quán rượu không muốn nhận, họ ưa các đồng tiền vàng và tiền bạc hơn. Quốc Hội Lục Địa cũng chưa thể xin được trợ giúp từ các nước bên ngoài trong khi tại Bắc Mỹ, các người giàu có đều là những kẻ trung thành và các nhà ái quốc không dám tịch thu tài sản của họ vì e ngại sẽ gây nên làn sóng chống đối.

Với tinh thần và các phương tiện chiến đấu ban đầu thiếu thốn như vậy, không có dân quân địa phương nào muốn ký kết hợp đồng phục vụ quân đội lục địa lần thứ hai. Về sau, vào năm 1776, ông George Washington đã phải bi quan mà tuyên bố rằng "tinh thần lính đánh thuê và bạc nhược như vậy đã lan tràn mọi nơi khiến cho tôi không ngạc nhiên nếu có một thảm bại xẩy ra".

Về phía quân đội Anh, do không thể tuyển mộ các binh lính tình nguyện tại nước Anh nên Vua George III đã mướn vào khoảng 30,000 lính đánh thuê giàu kinh nghiệm tác chiến, phần lớn gốc từ các miền Hesse-Kassel, Brunswick và Hesse-Hanau của nước Đức, mà người Bắc Mỹ gọi chung là các người lính Hessians. Các đạo quân Anh ngoài súng đạn, lương thực, quân trang đầy đủ, còn được yểm trợ bởi một hậu phương giàu có, với tài nguyên kỹ nghệ và kinh nghiệm quân sự, bởi một hạm đội tầu biển có thể di chuyển tự do trên mọi bờ biển mà không có một lực lượng nào chống đối.

Quân Đội Lục Địa như vậy đã có rất nhiều yếu kém, nhưng lại có một ưu điểm rất lớn, hơn hẳn địch quân, đó là tính lưu động. Họ được trang bị nhẹ nhàng, mở các cuộc đột kích rồi lẩn tránh trong miền thôn quê, nơi đã có các người dân ái quốc yểm trợ cả về thực phẩm lẫn chỗ ẩn náu.

Ngoài khó khăn phải đối phó với các vụ bắn sẻ, quân đội Anh còn gặp trở ngại về tiếp liệu. Người Bắc Mỹ địa phương đã từ chối cung cấp lương thực cho binh lính Anh khiến cho các đồ tiếp tế phải chở từ nước Anh trên các con tầu biển và cuộc hải hành phải mất từ 2 tới 3 tháng trên lộ trình dài 3,000 dậm với các trắc trở như bão táp, cướp biển. Đồ vật tiếp liệu khi được bốc dỡ lên bờ, lại phải được chuyên chở tới các căn cứ ở gần, có phòng thủ cẩn thận. Quân đội Anh còn có một nhiệm vụ khác là phải bảo vệ các người trung thành, vì vậy họ phải rút lui khỏi các căn cứ ở xa, khó tiếp tế. Thực vậy, làm sao quân đội Anh có thể kiểm soát nổi một miền đất bao la, trải dài từ xứ Maine ở phía bắc tới tận xứ Georgia ở phía nam, lại nằm sâu vào trong đất liền tới 300 dậm.

Ngày 20-6-1775, Tướng George Washington nhận nhiệm vụ do Quốc Hội Lục Địa giao phó rồi lên đường đi Boston. Trong khi đó Tướng Anh Thomas Gage mới nhận được lực lượng tăng cường, nâng quân số lên tới 8,000 người. Tướng Gage bèn cho quân lính chiếm các điểm cao nhìn xuống thành phố Boston là Charlestown ở phía bắc và Dorchester tại phía nam, khi đó quân đội Lục Địa dưới quyền của Trung Tá William Prescott đóng chốt tại Breed's Hill. Ngày 17-6, Tướng Gage sai Thiếu Tướng William Howe với 2,500 bộ binh tiến đánh quân đội Lục Địa và phải sau 3 lần tấn công, dân quân Bắc Mỹ mới bỏ chạy và thua trận tại Bunker Hill. Sau trận đánh này, tổn thất của quân đội Anh là 1,000 người vừa chết vừa bị thương, số thiệt hại của quân đội Lục Địa chỉ bằng nửa. Quân đội Bắc Mỹ đã phải bỏ chạy khỏi Breed's Hill nên bị coi là thua trận này nhưng nếu xét về số thương vong thì quân đội Anh không phải là thắng.

Trong khi trận Bunker Hill chưa xẩy ra, Quốc Hội Lục Địa đã gửi đơn thỉnh nguyện (the Olive Branch Petition) tới Vua George III của nước Anh, xác nhận lòng trung thành của người dân Bắc Mỹ đối với nhà Vua và yêu cầu nhà Vua bác bỏ các chính sách của những vị bộ trưởng dưới quyền. Lời thỉnh nguyện kể trên đã tới Vua nước Anh cùng lúc với tin tức về trận đánh Bunker Hill khiến cho Vua George III khước từ lời yêu cầu và vào ngày 23-8-1775, nhà Vua đã tuyên bố Tân Anh Cát Lợi là xứ phản loạn. Quốc Hội Anh cũng theo đó xác nhận sự phản bội của mọi người dân thuộc địa và tầu thuyền của họ đều đáng bị tịch thu. Ngoài ra, số thiệt hại của binh lính Anh tại trận đánh Bunker Hill đã làm cho chính quyền Anh thấy rằng họ đang phải đối đầu với một cuộc chiến tranh đích thực và cũng vì thế, Tướng Gage bị thay thế bởi Tướng Howe.

Ngày 2-7-1775, Tướng George Washington tổ chức và huấn luyện lại đạo quân dưới quyền, với quân số từ 13,000 tới 17,000. Ông thấy rằng không thể đánh thành phố Boston mà không có pháo binh chủ động. Tướng Washington đành phải chờ tới mùa đông, lúc tuyết đóng băng trên các con đường và giòng sông, cho phép kéo đi các cỗ súng đại bác mà hai đại tá Ethan Allen thuộc miền Vermont và Benedict Arnold thuộc xứ Connecticut, đã chiếm được từ quân đội Anh nhân trận đánh đồn Ticonderoga bên hồ Champlain.

Vào tháng 8 năm đó, lực lượng quân đội Bắc Mỹ dưới quyền Tướng Richard Montgomery đã đánh xứ Canada, chiếm thành phố Montreal vào tháng 11 và vào tháng sau, sát nhập với đạo quân của Đại Tá Arnold, nhưng rồi quân đội Bắc Mỹ đã bị thua trận tại Quebec và Tướng Montgomery tử trận.

Vào mùa đông năm 1775-76, Đại Tá Henry Knox là chỉ huy trưởng Pháo Binh của Tướng Washington đã di chuyển được 59 khẩu đại bác hạng nặng và súng cối, từ Ticonderoga tới Boston. Đêm hôm 4-3-1776, lực lượng của Tướng Washington đã chiếm được Dochester Heights, đặt các khẩu đại pháo hướng về hải cảng Boston. Bị hướng súng bất ngờ, Tướng Howe thấy rõ không thể giữ được thành phố Boston nữa nên đành ra lệnh di tản. Ngày 17-3, hơn 11,000 quân đội Anh và 1,000 người trung thành đã xuống tầu, rời đi Halifax thuộc miền Nova Scotia. Đa số những người trung thành này không bao giờ có cơ hội nhìn lại thành phố Boston của họ.

Khi quân lính Anh xuống tầu rút lui khỏi Boston, Tướng Washington đã biết rõ rằng người Anh chưa hẳn đã thua trận tại xứ thuộc địa. Thực vậy, Vua George III và Quốc Hội Anh đâu đã chịu bỏ cuộc và có nguồn tin cho biết nước Anh đang tuyển mộ các binh lính đánh thuê người Đức. Tướng Howe sở dĩ rút lui là để tổ chức lại lực lượng quân sự và chờ viện binh gửi qua. Tướng Washington đã tiên đoán rằng khi Tướng Howe trở lại thì thành phố New York với hải cảng rộng rãi, với nhiều sông rạch gần giòng sông Hudson nên rất thuận tiện cho lực lượng Anh lên bờ.

Ngày 29-6-1776, Tướng Howe tới Sandy Hook, N.J., với một đoàn tầu biển chỉ huy do Đô Đốc Richard Howe, một người anh em. Đoàn tầu này đã chở qua Bắc Mỹ một lực lượng viễn chinh của nước Anh lớn nhất từ xưa tới nay. Nểu kể cả 8,000 binh lính đánh thuê người Đức thì lực lượng quân sự này đông tới 32,000 người. Để đối đầu, Tướng George Washington chỉ có ít hơn 20,000 quân, một nửa trong số này là các người lính thiếu kinh nghiệm. Cả hai phe đang chuẩn bị trận chiến.

Vào tháng 11-1775, hy vọng hòa giải với nước Anh của các người miền Nam thuộc Tân Thế Giới đã bị tiêu tan khi Thống Đốc xứ Virginia là Lord John Dunmore đã trả tự do cho các người nô lệ nào chống lại chủ của họ và gia nhập vào quân đội Anh.


3/ Bản Tuyên Ngôn Độc Lập.

Vào thời kỳ các trận chiến xẩy ra tại Lexington và Concord, rất ít người thuộc địa muốn đòi hỏi độc lập khỏi nước Anh. Phần lớn các nhà chính trị Bắc Mỹ chỉ muốn một nền tự trị trong Đế Quốc Anh. Tháng 6 năm 1775, Tướng Washington đã hy vọng vào "nền hòa bình và hòa hợp giữa mẫu quốc và các thuộc địa", rồi ông Thomas Jefferson cũng trông đợi sự hòa giải. Trong khi đó, Quốc Hội Anh không xét lại 5 đạo luật "cố chấp", và vào tháng 8, Vua George III đã gọi các nhà "ái quốc" Bắc Mỹ là các kẻ làm loạn (rebels). Vào tháng 10-1775, quân Anh đốt phá thành phố Portland, Me., làm cho hàng ngàn người thuộc địa gặp cảnh không nhà khi mùa đông tới và có tin 20,000 lính đánh thuê Hessians đang được gửi đến Tân Thế Giới để dẹp cuộc nổi dậy cùng với sự xúi dục quấy phá của các người da đỏ tại các biên giới phía tây. Trước hoàn cảnh này, ông Thomas Jefferson đã viết :"Nhà Vua đã cưỡng đoạt các vùng biển của chúng ta, tàn phá các bờ biển, đốt cháy các thành phố và hủy diệt dân tộc chúng ta".

Vào tháng 1-1776, ông Thomas Paine đã viết ra tập sách mỏng "Lương Tri" (Common Sense) trong đó tác giả tự hỏi làm sao một dân tộc có thể vừa chống lại nhà vua, lại vừa trung thành với nhà vua? Thời kỳ hòa giải đã qua, và theo Thomas Paine, "Đây là lục địa Bắc Mỹ rộng lớn, thích hợp để trở nên quê hương của một giống người tự do. Hãy đừng để miền đất này nằm dưới chân của một vị vua không xứng đáng". Hàng ngàn người dân thuộc địa đã đọc được câu nói này và họ dần dần chấp nhận ý tưởng tách rời các xứ thuộc địa khỏi nước Anh. Trở ngại tâm lý đã được vượt qua.

Vào giai đoạn này, các xứ thuộc địa Bắc Mỹ không thể thắng được cuộc chiến nếu không có sự giúp đỡ của các quốc gia khác ở châu Âu và các nước này cũng không thể giúp các xứ thuộc địa khi mà người dân còn công nhận trung thành với Vua nước Anh. Ngoài ra, nếu không có độc lập, người dân Bắc Mỹ sẽ không thể ký kết các hiệp ước mậu dịch với các quốc gia khác, nền kinh tế sẽ bị kiềm chế và sẽ không thể phát triển đời sống no ấm của người dân.

Vào mùa xuân năm 1776, North Carolina là xứ đầu tiên gửi các đại biểu tới Quốc Hội Lục Địa để tuyên bố độc lập. Xứ Virginia và các xứ thuộc địa khác cũng tham gia vào cuộc bàn thảo. Ngày 7-6-1776, đại biểu Richard Henry Lee đã đưa ra một nghị quyết theo đó "các thuộc địa liên hiệp này là, và có quyền là các xứ tự do và độc lập, họ không trung thành với nhà Vua nữa và mọi liên hệ chính trị giữa họ và nước Anh phải bị hoàn toàn cắt đứt". Nghị quyết này chưa được các đại biểu chấp thuận ngay vì họ chưa được lệnh từ các xứ thuộc địa. Vì vậy một ủy ban khác được chỉ định để chuẩn bị một bản văn xác nhận về trường hợp tranh đấu của các xứ Bắc Mỹ. Ủy ban gồm các ông John Adams, Thomas Jefferson, Benjamin Franklin, Roger Sherman và Robert Livingston. Ông Thomas Jefferson được chọn để viết ra bản tuyên ngôn cần thiết, trình bày trước Quốc Hội vào ngày 28-6.

Ngày 2-7, nghị quyết của Henry Lee được chấp thuận và bắt đầu cuộc tranh luận về bản tuyên bố của Jefferson. Trong một danh sách các lời tố cáo Vua George III, ông Thomas Jefferson cũng chỉ trích chế độ nô lệ và nghề buôn bán nô lệ. Các đại biểu của miền Nam là các xứ dùng người nô lệ đã không chấp nhận đề mục này.

Vào ngày 4-7-1776, Bản Tuyên Ngôn Độc Lập (the Declaration of Independence) được Quốc Hội chấp nhận. Tên họ của 56 đại biểu được liệt kê bên dưới các xứ mà họ đại diện. Chủ Tịch Quốc Hội là ông John Hancok ký vào Bản Tuyên Ngôn ngày 4-7. Phần lớn các đại biểu ký tên vào ngày 2-8. Lúc đầu bản văn này chưa xác nhận nền Độc Lập của các xứ thuộc địa Bắc Mỹ mà chỉ là một lời xác định về lý thuyết của chính quyền Bắc Mỹ trong đó có 3 điểm chính : (1) Thượng Đế đã tạo ra mọi người bình đẳng và cho họ các quyền lợi về đời sống, tự do và theo duổi hạnh phúc, (2) Công việc chính của chính quyền là bảo vệ các quyền lợi này, (3) nếu một chính quyền nào tìm cách ngăn cản các quyền lợi này thì người dân được tự do nổi dậy và thiết lập một chính quyền mới. Ba điểm này đã là căn bản cho việc thành lập các chính quyền tiểu bang sau khi Bản Tuyên Ngôn Độc Lập được đồng thanh chấp thuận.

Các ý tưởng về nền độc lập và tự chủ đã được phổ biến trước kia tại nước Anh do John Locke qua tác phẩm "Về Chính Quyền Dân Sự" (On Civil Government), một lời biện hộ cho cuộc Cách Mạng Anh năm 1688 và tư tưởng của John Locke về "quyền theo đuổi tài sản" (the pursuit of property) đã được sửa đổi thành "quyền theo đuổi hạnh phúc" (the pursuit of happiness).

Ngày 8 tháng 7 năm 1776, dân chúng của thành phố Philadelphia đã nghe thấy tiếng "Chuông Tự Do" (the Liberty Bell) kêu gọi họ tới nghe đọc Bản Tuyên Ngôn Độc Lập. Súng đại bác đã nổ vang và các kỵ mã đã mang tin quan trọng này đi xa, loan báo cho mọi người biết. Tướng George Washington cũng ra lệnh đọc Bản Tuyên Ngôn cho binh lính nghe để làm tăng thêm tinh thần chiến đấu của họ.

Trong Lịch Sử của Nhân Loại, chưa bao giờ một đất nước thuộc địa với dân số nhỏ bé đã có nhiều nhà lãnh đạo tài năng hàng đầu như lúc này. George Washington là vị Tướng Tư Lệnh Quân Đội, đã duy trì được tinh thần chiến đấu bằng sự can đảm, kiên nhẫn và cứng dắn của ông trong các giờ phút đen tối nhất của lịch sử. Benjamin Franklin đã là đại biểu của Quốc Hội Lục Địa, qua nước Pháp để xin trợ giúp cho quốc gia Hoa Kỳ non trẻ, ông đã dùng tới mọi nghệ thuật ngoại giao để giành lấy thiện chí của mọi tầng lớp xã hội Pháp và ông đã trở nên một thần tượng của thành phố Paris. John Adams và Thomas Jefferson đã làm ổn định được các mối bất hòa trong Quốc Hội và đã lấy lại niềm tin của mọi người, còn Robert Morris lãnh nhiệm vụ kiếm tiền cho cuộc chiến tranh giành độc lập. Phía bên ngoài, toàn thể người dân Bắc Mỹ đã chịu đựng mọi cảnh thiếu thốn và gian nan, và nhờ tất cả các yếu tố này mà chính quyền quốc gia Hoa Kỳ được thành công.

Sau khi Bản Tuyên Ngôn Độc Lập được công bố, Bộ Trưởng Ngoại Giao của nước Pháp là ông Charles Vergennes đã trình bày với Vua Louis 16 rằng nước Anh sẽ ký hòa bình với các xứ thuộc địa Bắc Mỹ rồi sẽ cùng các xứ này chiếm các phần đất của nước Pháp tại vùng biển Tây Ấn.. Nước Pháp bèn công nhận ngay nền Độc Lập của Hoa Kỳ vào tháng 2 năm 1778 và thiết lập quan hệ đồng minh với Hoa Kỳ. Nước Pháp cũng giúp Hoa Kỳ về súng đạn và quân trang. Quân đội Pháp được gửi qua Bắc Mỹ chiến đấu giúp cuộc Cách Mạng và trong số các người tình nguyện, danh tiếng nhất là Hầu Tước De Lafayette.

Sự trợ giúp Hoa Kỳ còn tới từ các nguồn khác. Bá Tước người Đức Frederick William von Steuben đã dạy cho các sĩ quan cách mạng nghệ thuật chiến tranh và huấn luyện các binh lính trở thành các chiến sĩ tinh nhuệ.

Sức mạnh hải quân của nước Anh trên mặt biển đã khiến cho các quốc gia tại châu Âu gồm Nga, Phổ, Hòa Lan, Đan Mạch, Thụy Điển tham gia vào "Hội các Quốc Gia Trung Lập" (the League of Armed Neutrality) vào năm 1780, và sau khi nước Anh tuyên chiến với Hòa Lan thì Hoa Kỳ cũng nhận được tiền trợ giúp từ nước Hòa Lan này.

Trên mặt biển, các tầu buôn Hoa Kỳ được lệnh sẵn sàng chiến đấu và Quốc Hội Hoa Kỳ đang chuẩn bị ngân quỹ để thành lập Hải Quân. Nhiều tầu biển Hoa Kỳ được lệnh bắt giữ các tầu biển của nước Anh và đã có các vị chỉ huy Hải Quân người Hoa Kỳ tài giỏi với danh tiếng như Esek Hopkins, John Paul Jones và John Barry.

Mặt khác, sự chia rẽ trong nội bộ của nước Anh cũng làm lợi cho quốc gia non trẻ Hoa Kỳ. Vào lúc này, Vua George III là vị lãnh đạo của đảng Tory và Nhà Vua muốn lấn át quyền hành của Quốc Hội Anh. Đối lập với đảng Tory là các người Whigs, họ cho rằng Nhà Vua đã triệt hạ các tự do của người dân nước Anh và người đứng đầu đảng Whig là Lord Rockingham tin rằng không thể dẹp yên được các xứ thuộc địa, vì vậy nên giành cho họ tự do. Ngoài ra, quan niệm về kinh tế cũng đang thay đổi. Nhà kinh tế học người Anh là Adams Smith, qua tác phẩm "Tài Sản của các Quốc Gia" (the Wealth of Nations, 1776) đã chủ trương nền tự do mậu dịch với Bắc Mỹ, nhờ đó cả nước Anh và các xứ thuộc địa đều có lợi. Cuối cùng, trước các thất bại quân sự năm 1781 tại Bắc Mỹ, trước các áp lực của nhiều nhà buôn và chủ hãng bảo hiểm các con tầu biển Anh bị đánh phá và trước các cuộc nổi dậy tại Ái Nhĩ Lan và Ấn Độ, Quốc Hội Anh vào năm 1872 đã thúc giục Vua George III phải chấm dứt chiến tranh tại vùng đất Tân Thế Giới.


3/ Các trận đánh tại miền Bắc.

Trong khi các đại biểu Quốc Hội đang thảo luận về Bản Tuyên Ngôn Độc Lập thì một lực lượng quân đội Anh vào khoảng 30,000 lính, kể cả các binh lính đánh thuê Hessians, đổ bộ lên đảo Staten, gần thành phố New York. Để chống cự lại, Tướng Washington chỉ có 15,000 quân sĩ, dàn trận một cách yếu ớt tại hai địa điểm là Manhattan và Long Islands.

Vào ngày 26-8-1776, Hải Quân Anh giả vờ tiến tới thành phố New York nhưng thực ra bộ binh Anh tấn công vào Brooklyn, làm cho quân đội Hoa Kỳ bị 1,000 người chết, 2,000 người bị bắt. May nhờ có sương mù và đêm tối mà Tướng Washington cùng với các người còn sống sót mới vượt qua giòng sông East (the East River), bỏ chạy về nơi an toàn. Đây là một bài học vô giá cho ông Washington. Từ nay trở về sau, ông sẽ không bao giờ dùng chiến thuật đương đầu với một kẻ thù hùng mạnh hơn, được trang bị đầy đủ hơn. Sau cuộc rút lui tại làng White Plains, Tướng Washington còn phải chạy dài qua xứ New Jersey, tới giòng sông Delaware trước cuộc săn đuổi của các binh lính áo đỏ người Anh.

Tháng 11 năm 1776 là thời gian đen tối nhất của vị danh tướng Washington. Các tổn thất, bệnh tật và đào ngũ đã làm cho lực lượng quân sự của ông giảm đi còn 6,000 người, với các quân nhân có hợp đồng phục vụ sắp hết hạn. Công cuộc kháng chiến của Hoa Kỳ đang đứng trước thảm cảnh sụp đổ hoàn toàn! Nhưng vào một đêm mùa Giáng Sinh lạnh giá, bằng một lực lượng 2,400 người và 18 khẩu đại bác, Tướng Washington đã dẫn đầu quân lính băng qua giòng sông Delaware đóng băng, đánh vào đồn Trenton, bắt được hơn 900 tù binh người Hessians. Một tuần lễ sau, lực lượng phục thù của binh lực Anh tiến tới, điều khiển bởi Lord Cornwallis. Tướng Washington đã để lại 400 quân bên lửa trại, còn đa số binh lính đi vòng phía sau, đánh tập hậu quân đội Anh tại trận Princeton. Trong cuộc tấn công bất ngờ này, 2 trung đoàn Anh phải tháo chạy, để lại cho Quân Đội Lục Địa kiểm soát toàn vùng New Jersey.

Chiến lược quân sự năm 1777 của quân đội Anh do Lord George Germain, Bộ Trưởng Bộ Mỹ Châu (the American Department) soạn ra, có mục đích cắt xứ Tân Anh Cát Lợi khỏi các thuộc địa phía nam. Theo kế hoạch này, một đạo quân Anh dưới quyền Thiếu Tướng John Burgoyne đổ bộ lên Canada và tiến về phía nam từ Montreal tới Albany, N.Y. Một đạo quân khác gồm các các người da đỏ do Đại Tá Bary St. Leger chỉ huy, di chuyển sang phía đông từ hồ Ontario, qua thung lũng Mohawk để gặp đạo quân của Tướng Burgoyne tại Albany. Do cách hành quân quá phức tạp lại ở trên một địa thế khó khăn với phương tiện thông tin nghèo nàn, nên cánh quân của Đại Tá St. Leger khi tiến tới đồn Stanwix, đã không thể triệt hạ được đồn lũy này và rồi bị thua trận tại Oriskany trước lực lượng của Thiếu Tướng Benedict Arnold. Tướng St. Leger đành phải rút quân về Montreal. Còn cánh quân kia với 7,000 lính do Tướng Burgoyne chỉ huy, lúc đầu đã chiến thắng, chiếm được đồn Ticonderoga vào ngày 6-7 rồi vào ngày 29-7, đã tới được phần trên của giòng sông Hudson. Khi lực lượng lính đánh thuê Hessians tiến vào xứ Vermont thì đã bị dân quân Vermont và New Hampshire đánh tan tại trận Bennington. Do thiếu tiếp liệu và quân tiếp viện, đạo quân của Tướng Burgoyne đã băng qua giòng sông Hudson, tiến về phía nam để tìm chỗ an toàn hơn nhưng vào tháng 9 năm đó, quân đội Lục Địa và dân quân địa phương dưới quyền của Thiếu Tướng Horatio Gates đã tiến đánh quân Anh gần Saratoga. Ngày 17-10, Tướng Burgoyne với gần 5,000 quân đã xin đầu hàng Tướng Gates.

Ngày 25-8-1777, đạo quân của Tướng Howe đổ bộ lên phần đầu của Vịnh Chesapeake để tiến về phía Philadelphia trong khi đó Tướng Washington không thể ngăn cản nổi đạo quân này tại Brandywine Creek, Pa. Ngày 26-9, Tướng Howe tiến vào thành phố Philadelphia. Quốc Hội Lục Địa phải bỏ chạy qua York, Pa., rối tới Baltimore, Md. Ngày 4-10, quân của Tướng Washington tấn công đạo quân của Tướng Howe tại Germantown, phía bắc của thành phố Philadelphia nhưng rồi bị thất bại, phải rút lui về Valley Forge với 11,000 quân. Đây là một giai đoạn cay đắng của Quân Đội Lục Địa. Hàng trăm ngựa và bò chết đói vì không có thực phẩm. 3,000 người lính của Tướng Washington không có giầy dép. Nơi trú ngụ của họ chỉ là các túp lều dựng lên tạm bợ bằng cành cây! Nhiều người lính đã chết vì lạnh và thiếu thốn. 2,000 lính đã đào ngũ. Chính vào lúc gần như tuyệt vọng này, một chuyên viên quân sự người Đức, đã từng phục vụ dưới thời Đại Đế Frederick của nước Phổ, đến huấn luyện binh sĩ và sĩ quan Hoa Kỳ, đó là Bá Tước Von Steuben.

Năm 1777 đánh dấu một khúc quanh về thắng lợi của Hoa Kỳ trong cuộc Cách Mạng giành độc lập. Ngay sau cuộc Cách Mạng xẩy ra, nước Pháp đã bí mật gửi tiền bạc và đồ tiếp liệu giúp đỡ các người thuộc địa Bắc Mỹ. Tới khi quân đội Lục Địa chiến thắng tại Saratoga và khi Tướng Washington đang tấn công quân đội Anh tại Germantown, thì những chiến tích này đã khiến cho nước Pháp không cần che dấu các trợ giúp quân sự nữa. Vào lúc này, Tướng Washington trông đợi hạm đội Pháp tại bờ biển Hoa Kỳ.

Vào tháng 4-1887, Hạm Đội Pháp dưới quyền của Đô Đốc Charles Hector Théodat, tức Bá Tước D 'Estaing, rời hải cảng Toulon thuộc Pháp, để qua Bắc Mỹ. Tại Philadelphia, Trung Tướng Sir Henry Clinton, người thay thế Tướng Howe, e sợ rằng hạm đội Pháp sẽ tiến vào sông Delaware để cắt đường, không cho đạo quân Anh rút về New York, vì vậy Tướng Clinton cùng với các người trung thành di tản khỏi thành phố Philadelphia, rút lui qua xứ New Jersey. Đạo quân của Tướng Washington đuổi theo, tấn công đoàn quân Anh tại Monmouth Courthouse ngày 28-6 nhưng thắng bại của trận này không rõ rệt.

Hạm đội Pháp gồm 12 tầu chiến tới cửa sông Delaware vào ngày 8-7-1778 thì thấy quân đội Anh đã rút lui, nên sau đó đã di chuyển tới Sandy Hook vào ngày 14-7. Vị Đô Đốc người Pháp đã bắt liên lạc với bộ chỉ huy của Tướng Washington và lập kế hoạch đánh hạm đội Anh nhưng vì mực nước quá cạn và thời tiết xấu nên kế hoạch kể trên phải bỏ dở. Cuối cùng, ngày 4-11, đoàn tầu chiến Pháp nhắm vùng biển Tây Ấn ra đi.

Tại miền tây, một lực lượng quân đội Lục Địa do Tướng Geoge Rogers Clark chỉ huy đã chiếm được đồn Vincennes (ngày nay thuộc tiểu bang Indiana) của lực lượng Anh, nhờ đó quân đội Lục Địa kiểm soát được cả vùng phía bắc của thung lũng Ohio. Đồng thời, Tướng Washington cũng phái đi một lực lượng hùng hậu do Tướng John Sullivan chỉ huy, tới miền tây của xứ New York để đánh phá các làng da đỏ Iroquois. Đồn lũy Stony Point của người Anh trên bờ sông Hudson cũng bị Tướng "Mad Anthony" Wayne chiếm vào tháng 7 rồi Thiếu Tá Henry Lee chiếm trại quân Anh Paulus Hook trên bờ biển Jersey vào tháng 8-1779.


4/ Các trận đánh tại Miền Nam.

Vào năm 1778, các bộ trưởng của Vua nước Anh phải đối đầu với nhiều vấn đề, nào là sự đầu hàng của Tướng Anh Burgoyne, sự tham gia của nước Pháp vào trận chiến, nào là các áp lực của Quốc Hội Anh, đòi hỏi phải dùng chiến lược mới.

Vào thời gian này, các người trung thành miền Nam đề nghị rằng một chiến dịch tại phía nam có họ tham gia, sẽ dùng đến ít nhân lực hơn. Ngày 29-12-1778, một đoàn quân viễn chinh Anh gồm 3,500 người từ New York, đã di chuyển xuống Georgia và chiếm thành phố Savannah. Quốc Hội Lục Địa đã phái Thiếu Tướng Benjamin Lincoln xuống Charleston, S.C., để chỉ huy mặt trận phía nam. Ngày 9-10-1779, cánh quân của Tướng Lincoln cùng với Hải Quân Pháp của Đô Đốc D 'Estaing vây hãm thành phố Savannah nhưng nơi này không bị thất thủ và khi Hải Quân Pháp rút đi theo lệnh từ Paris, 3,500 quân của Tướng Lincoln bị 8,000 quân của Tướng Clinton người Anh bao vây rồi phải đầu hàng vào tháng 5-1780. Sau đó, Tướng Lincoln trở về New York, giao lại quyền chỉ huy cho Trung Tướng Charles Cornwallis điều khiển 7,000 lính Anh chính quy cùng với các toán quân trung thành, để bình định hai xứ thuộc địa Carolinas.

Vào thời gian này, ngoài sự trợ giúp về tiền bạc, tiếp liệu và hải quân, nước Pháp còn gửi tới Bắc Mỹ vào tháng 7-1780, 5,000 quân với quân trang và đạn dược đầy đủ, 106 khẩu đại bác và 17 nhân viên y tế, đặt dưới quyền chỉ huy của Tướng Jean Baptiste de Vimeur và Bá Tước De Rochambeau. Sự tham gia của quân lực Pháp đã làm quân đội Lục Địa lên tinh thần và cũng làm cho các nhà buôn địa phương vui lòng khi những người lính tình nguyện này đã tiêu xài bằng các đồng tiền vàng. Khi đoàn quân Pháp sang giúp đỡ quân đội Lục Địa thì mặt trận đã chuyển về các xứ miền nam.

Ngày 16-8-1780, Tướng Cornwallis đã thắng được Tướng Gates tại Camden, S.C., nhưng cũng từ nay bắt đầu các trận đánh du kích của dân quân Lục Địa. Tháng 3 năm 1781, Thiếu Tướng Cornwallis dàn quân, đánh đạo quân của Thiếu Tướng Nathanael Greene nhưng vì thiếu tiếp liệu và với hơn 500 binh lính bị giết, đạo quân Anh phải rút về Wilmington, N.C. Khi được tăng cường vào tháng 4-1781, Tướng Cornwallis đã di chuyển quân lên phía bắc để vây Tướng De Lafayette, lúc đó đang chỉ huy 3,000 quân tại Richmond, Va. Vì không thể đối đầu do lực lượng chỉ bằng nửa, Tướng De Lafayette đã rút lui về phía tây bắc và được Tướng Wayne đem 1,000 quân tăng cường. Sợ bị vây hãm, Tướng Cornwallis đành kéo quân về phòng thủ tại Yorktown là một nơi gần bờ biển, dễ dàng cho Hải Quân Anh đến tiếp cứu.


5/ Chiến thắng cuối cùng của Quân Đội Lục Địa.

Khi sống tại nước Pháp, ông Benjamin Franklin vẫn thường xuyên báo cáo về Hoa Kỳ các biến cố xẩy ra tại nước Pháp và nước Anh đối với cuộc Chiến Tranh Cách Mạng. Khi đó, cuộc thất trận của quân đội Anh tại Saratoga đã khiến cho dân chúng Anh đòi hỏi Nhà Vua và các bộ trưởng Anh phải lo việc dàn xếp hòa bình và công nhận nền Độc Lập của các xứ thuộc địa.

Mặt khác, Tướng George Washington biết rõ rằng quân đội Anh không thể đóng quân trong đất liền sau nhiều tháng mà phải trở ra bờ biển để lấy tiếp liệu và quân đội Anh sẽ đầu hàng nếu bị ép giữa hai lực lượng của quân đội Lục Địa và Hải Quân Pháp từ ngoài biển. Rất may mắn cho các xứ thuộc địa Bắc Mỹ vì vào thời gian này, các bộ trưởng của nước Pháp muốn phục thù việc mất đi các phần đất nhường cho nước Anh, vì vậy Hải Quân Pháp được tăng cường và binh lính Pháp được luyện tập tinh nhuệ.

Vào tháng 9-1779, các hạm đội của hai nước Pháp và Tây Ban Nha đã đánh phá pháo đài Gibraltar của người Anh. Đây là một cửa ải rất quan trọng tại miền Địa Trung Hải, nếu xét cả về hai mặt chiến thuật và kinh tế. Vì thành phố Gibraltar chỉ có thể tiếp tế và tăng cường bằng đường biển, nên trách nhiệm phải bảo vệ pháo đài này rất lớn lao.

Từ xưa, nguyên tắc chiến lược của người Anh trong cuộc chiến tranh với người Pháp là duy trì một lực lượng hải quân thật hùng hâu và tìm cách phong tỏa hai quân cảng của nước Pháp là Brest trên Đại Tây Dương và Toulon trên Địa Trung Hải. Nhưng vào năm 1781, Hải Quân Hoàng Gia Anh không có đủ tầu chiến để vừa phong tỏa hai quân cảng của nước Pháp, vừa tiếp tế và bảo vệ pháo đài Gibraltar. Hạm đội Pháp ra đi từ quân cảng Toulon vào năm 1778 là một chứng tỏ sự yếu kém của Hải Quân Anh. Tới năm 1781, nhân khi pháo đài Gibraltar bị công phá, 29 tầu chiến của Pháp, chỉ huy do Đô Đốc Francois Joseph Paul, tức Bá Tước De Grasse, đã ra khơi vào ngày 22-3 để tiến về vùng biển Tây Ấn và Bắc Mỹ.

Ngày 14-8-1781, Tướng George Washington nhận được tin Đô Đốc De Grasse đã mang hạm đội Pháp tiến vào Vịnh Chesapeake, ông liền quyết định đánh Tướng Cornwallis tại Yorktown, Va. Hai đoàn quân của Tướng Washington và Tướng Jean Rochambeau, người Pháp, cùng tiến về phía nam trong khi ngoài biển, Hạm Đội Anh dưới quyền Đô Đốc Thomas Graves đã phải bỏ chạy trước Hạm Đội Pháp đang tiến tới. Rồi 16,000 quân Hoa Kỳ, Pháp và dân quân địa phương đã ở dưới quyền của Tướng Washington, vây quanh Yorktown. Trước tình thế tuyệt vọng này, Tướng Cornwallis với 7,247 binh lính đã đầu hàng trước Tướng George Washington vào ngày 19-10-1781.

Cuộc đầu hàng của quân đội Anh tại Yorktown đã chấm dứt cuộc Chiến Tranh Cách Mạng tại Bắc Mỹ nhưng các thương thuyết hòa bình còn kéo dài tới khi Hòa Ước Paris được ký kết.

Sau chiến thắng Yorktown, Lord North từ chức và vị thủ tướng Anh thay thế đã có thiện cảm với nền độc lập của Hoa Kỳ. Hội nghị hòa bình được trù liệu tại Paris. Quốc Hội Lục Địa đã cử đi dự 5 ủy viên, gồm các ông John Adams, John Giay, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson và Henry Laurens, nhưng ông Jefferson không đi còn ông Laurens đã tới châu Âu 2 ngày trước ngày ký hòa ước.

Vào ngày 03-9-1783, Hòa Ước Paris được ký kết theo đó nước Anh công nhận các thuộc địa cũ của mình là Quốc Gia Hoa Kỳ được độc lập, có biên giới tại phía bắc là xứ Canada, có giòng sông Mississippi ở phía tây và xứ Florida là biên giới phía nam.

Cuộc Cách Mạng Hoa Kỳ là một biến cố rất lớn lao về nền dân chủ và tính bình đẳng. Sau cuộc chiến tranh này, các phần đất rộng lớn của Vua nước Anh, của các địa chủ trung thành đã bỏ xứ ra đi, đều thuộc về các chính quyền địa phương, hoặc được phân chia nhỏ để bán lại cho các dân quân ái quốc. Từ nay, các tiểu bang được thành lập và việc xây dựng quốc gia Hoa Kỳ được bắt đầu.

Phạm Văn Tuấn.


ABRAHAM LINCOLN-VĨ NHÂN GIẢI PHÓNG NÔ LỆ -Phạm Văn Tuấn.

ABRAHAM LINCOLN (1809 - 1865 )

VĨ NHÂN GIẢI PHÓNG NÔ LỆ



Phạm Văn Tuấn.



Ông Abraham Lincoln luôn luôn đặt tin tưởng vào nền Dân Chủ và đã chứng tỏ rằng chế độ Dân Chủ là một hình thức chính quyền tốt đẹp và tồn tại rất lâu dài, bởi vì chế độ Dân Chủ đã cung cấp cho mọi người dân cuộc sống đầy đủ Tự Do và nhiều hy vọng phát triển. Các niềm tin và mục đích của ông đã được ông xác nhận trong bài Diễn Văn Gettysburg, trong bài diễn văn nhậm chức Tổng Thống lần thứ hai, trong các buổi nói chuyện và các bài viết khác nhau.

Ông Abraham Lincoln là đảng viên Cộng Hòa đầu tiên đắc cử chức vụ Tổng Thống nhưng lại xuất thân từ một nguồn gốc tầm thường để đạt tới chức vụ cao cấp nhất của quốc gia Hoa Kỳ. Ông đã chứng tỏ một bản tính cao thượng, khiến cho mọi người trên Thế Giới phải kính trọng.

Ông Abraham Lincoln đã giúp công rất nhiều vào việc chấm dứt chế độ nô lệ. Ông là kiến trúc sư chính của cuộc chiến thắng vẻ vang khi xẩy ra cuộc Nội Chiến Nam-Bắc Mỹ (1861-65). Đây là cuộc khủng hoảng chính trị và quân sự lớn lao nhất trong lịch sử của nước Hoa Ky,ø thời đó còn đang cần được củng cố và ổn định. Ông Lincoln là một vị lãnh tụ chiến tranh sáng suốt, đã ra lệnh cho các đạo quân Bắc Mỹ tiến đánh mọi mặt trận vào cùng một thời gian để tiêu diệt các đạo quân Miền Nam đối nghịch mà không cần chiếm giữ đất đai. Trong nhiều lần, ông đã thay đổi các tướng lãnh chỉ huy vì các vị này đã không theo đúng đường hướng chiến lược do ông đặt ra, cho tới khi ông gặp Tướng Ulysses S. Grant, một vị tướng mà ông Lincoln yểm trợ hết lòng.

Trong cuộc chiến tranh Nam-Bắc Mỹ, nhiều gia đình người Mỹ đã gặp cảnh anh em chém giết lẫn nhau. Ông Abraham Lincoln đã thúc đẩy tinh thần chiến đấu của người dân vì lý tưởng Tự Do, vì nền Dân Chủ, vì chủ trương giải phóng nô lệ. Cuộc Nội Chiến Hoa Kỳ này là trận chiến đẫm máu nhất. Chỉ riêng trong trận Gettysburg, số tổn hại lên tới trên 45,000 người, gồm những người bị giết, bị thương, bị bắt và mất tích. Nếu phe Miền Bắc do Tổng Thống Abraham Lincoln điều hành bị thất trận trong cuộc Nội Chiến này, thì ngày nay Hoa Kỳ không còn là một quốc gia cường thịnh và quan trọng bậc nhất trên Thế Giới, mà đã bị phân chia thành 2 nước, hay có thể thành nhiều nước nhỏ, như vậy ông Abraham Lincoln đã gây ảnh hưởng mạnh mẽ tới chiều hướng của Lịch Sử Thế Giới.

Đời sống của người dân Hoa Kỳ dưới thời của Tổng Thống Abraham Lincoln đã bị quay vòng theo chiến cuộc nhưng chính trong các năm chinh chiến này, việc phát triển kinh tế đã đóng một vai trò quan trọng. Ngân Hàng Quốc Gia đã cung cấp các loại tiền giấy và việc kiểm soát tài chính liên bang đã bảo đảm dịch vụ ngân hàng và tín dụng. Chính quyền Liên Bang thời đó đã đánh thuế lên các hàng hóa nhập cảng từ châu Âu để giới hạn sự cạnh tranh từ bên ngoài và khuyến khích việc phát triển kỹ nghệ trong nước. Chính quyền Hoa Kỳ cũng nâng đỡ việc thành lập liên đoàn công nhân (labor unions), cung cấp đất đai canh tác miễn phí cho các người định cư và trợ giúp di dân. Đất công cũng được phân chia cho các Đại Học nhờ đó các Đại Học lớn của tiểu bang được thành lập. Cũng vào thời gian này, đường xe lửa xuyên liên bang được xây dựng và thuế lợi tức được áp dụng để có ngân khoản dùng cho chiến tranh.

Dưới thời Nội Chiến của Tổng Thống Abraham Lincoln, văn hóa vẫn phát triển với các tác phẩm tiêu biểu như bài thơ “Barbara Frietchie” của nhà thơ John Greenleaf Whittier, cuốn truyện “Một người không quê hương” (the Man Without a Country) của Edward Everett Hale, tác phẩm hội họa “Các tù binh từ chiến tuyến” (Prisoners from the Front) của Winslow Homer và cũng vào thời kỳ khủng hoảng này, nhiếp ảnh gia Mathew Brady cùng với các phụ tá, đã chụp hơn 3,500 tấm ảnh mô tả đầy đủ về con người, cảnh vật, trại quân, bãi chiến trường . . . cùng các biến cố lịch sử khác.

Trước khi được bầu vào chức vụ Tổng Thống Hoa Kỳ, rất ít người dân Mỹ biết tới tên tuổi của ông Lincoln. Ông Abraham Lincoln đã nhận được dưới 40 phần trăm phiếu bầu phổ thông (popular vote) trong cuộc tranh cử năm 1860 nhưng tới năm 1865, hình ảnh của ông Abraham Lincoln đã ở tầm vóc quan trọng ngang bằng với ông George Washington.


1- Thuở thiếu thời.

Abraham Lincoln chào đời ngày 12-2-1809 tại Hardin, ngày nay thuộc hạt Larue trong tiểu bang Kentucky. Ông nội và cha của Abraham tên là Thomas, đã sinh ra tại hạt Rockingham, Va., còn ông tổ tên là Samuel Lincoln làm nghề dệt vải, đã từ miền Hingham nước Anh tới Hingham, Massachusetts, năm 1637 và lập nên dòng họ Lincoln tại nơi này. Người con của ông cụ Samuel tên là Mordecai, đã di chuyển xuống New Jersey, Pennsylvania, rồi xuống Virginia và vì vậy, ông nội của Abraham Lincoln cũng tên là Abraham, đã có một nông trại tại thung lũng Shenandoah, Va.

Năm 1782, ông cụ Abraham cùng vợ và 5 người con nhỏ di chuyển tới miền hoang vu thuộc Kentucky rồi tại nơi này, ông cụ Abraham bị người da đỏ giết chết vào năm 1786. Một trong các người con của ông cụ này tên là Thomas, là cha đẻ của vị Tổng Thống tương lai, sinh năm 1778 và đã sống thời niên thiếu không học vấn và hành nghề thợ mộc. Năm 1806 vào tuổi 28, ông Thomas Lincoln đã kết hôn với bà Nancy Hanks có nguồn gốc bình dân. Cặp vợ chồng này sinh sống trong 18 tháng đầu tại Elizabethtown, thuộc hạt Hardin, Ky., và tại nơi đây đã ra đời người con gái đầu tiên tên là Sarah. Năm sau, ông Thomas Lincoln đã mua một nông trại tại South Fork, gần dòng sông Nolin, cách Elizabethtown 8 cây số về phía nam. Chính tại nông trại nhỏ này, Abraham Lincoln đã ra chào đời.

Khi Abraham được 2 tuổi, gia đình Lincoln lại dọn tới Knob Creek, xa hơn 16 cây số và tại nơi này, 2 chị em Sarah và Abraham đã học tập đọc, tập viết và tập làm toán trong một căn nhà gỗ dùng làm lớp học. Cũng tại nơi định cư mới này, một người con thứ ba tên là Thomas đã chào đời nhưng chẳng may chết sớm.

Năm 1816, ông Thomas Lincoln lại quyết định di chuyển sang Indiana là nơi nông dân có thể mua đất đai trực tiếp từ chính phủ. Gia đình Lincoln đã chất đồ đạc lên một toa xe, di chuyển lên mạn bắc, vượt qua dòng sông Ohio để tới hạt Spencer ở phía tây nam của miền Indiana. Tại nơi này, ông Thomas đã khai phá 65 mẫu rừng thành nông trại. Mùa đông tới làm cho gia đình Lincoln thêm cơ cực. Ông Thomas và cậu con trai Abraham đã chặt cây rừng, dựng nên một căn nhà gỗ để gia đình dọn vô cư ngụ vào tháng 2 năm 1817. Đây là một miền hoang dã, gấu, chó sói và các loài dã thú khác thường lai vãng quanh vùng. Chính trong khung cảnh sơn lâm này, Abraham Lincoln dù mới 8 tuổi, đã giúp đỡ cha trong việc chặt cây, bửa củi. Cuộc sống đơn sơ nơi núi rừng này càng trở nên dễ chịu thì bất ngờ, bà Nancy Lincoln bị “bệnh sữa” (milk sickness) và qua đời vào tháng 10-1818. Bệnh này có lẽ gây ra do chất độc trong sữa bò khi con bò sữa ăn phải loại lá cây nguy hiểm. Ông Thomas đã chôn vợ bên sườn đồi, gần căn nhà gỗ.

Từ khi bà Nancy chết đi, gia đình Lincoln không còn hạnh phúc như trước nữa. Chị gái Sarah với tuổi 12, đã phải đảm đương việc bếp núc trong hơn một năm cho tới khi ông Thomas quay trở về Kentucky. Trong chuyến viếng thăm này, ông Thomas đã cưới bà góa phụ Sarah Bush Johnston, một người quen cũ. Bà Johnston đã mang 3 người con riêng 12, 8 và 5 tuổi về sống chung với gia đình Lincoln và làm cho cuộc sống của tất cả trở nên đầm ấm, hạnh phúc.


2- Thời thanh niên của Abraham Lincoln.

Từ 7 tới 21 tuổi, Abraham Lincoln lớn lên tại miền biên giới hoang vu, một nơi không được phát triển về giáo dục. Sách và giấy rất khan hiếm. Nền học vấn chính thức của Abraham vì thế chỉ kéo dài được một năm. Ngoài các hiểu biết căn bản về tập viết và làm toán, Abraham chỉ có vài cuốn sách để tập đọc như các truyện Robinson Crusoe, truyện ngụ ngôn Aesop. Abraham vì muốn đọc sách nên thường phải đi bộ vài cây số mới mượn được các cuốn truyện.

Năm 1823 khi Abraham lên 14 tuổi, ông bà Thomas đã tham gia vào nhà thờ Pegeon Creek Baptist. Vào thời gian này, đã có sự cạnh tranh giữa nhiều hệ phái như Baptist, Methodist, Presbyterian. Trước các ảnh hưởng tôn giáo, Abraham Lincoln đã không theo một nhà thờ nào và cũng không đi lễ nhà thờ một cách đều đặn mặc dù có niềm tin tôn giáo.

Khi chưa đủ 20 tuổi, Abraham Lincoln đã là một thanh niên cao 6 feet 4 inches (193 cm) với thân hình gầy gò nhưng rất mạnh mẽ, nhất là về 2 cánh tay. Cậu Abraham có khuôn mặt xấu trai, nước da đậm, tóc đen và thô nhưng lại có một biệt tài, đó là khả năng nói năng, thuyết phục. Nhiều người trong vùng đã từng được nghe cậu Abraham kể chuyện rất hấp dẫn.

Với vóc người cao lớn, khỏe mạnh lại siêng năng, cậu Abraham rất dễ kiếm được việc làm gần nhà : cậu rất giỏi về bửa củi, chặt cây làm hàng rào, cày ruộng, đập lúa. Dòng sông Ohio cách nhà 24 cây số là nơi hấp dẫn trí tìm hiểu của cậu. Abraham thường chở đò cho khách tới con tầu thủy bỏ neo giữa dòng sông. Năm 1828, Abraham cùng với bạn chở nông phẩm trên một cái bè, xuôi dòng sông tới tận New Orleans. Lần viễn du này đã khiến cho Abraham Lincoln ra khỏi được nơi làng mạc nhỏ bé, nhìn thấy thế giới bên ngoài. Cũng tại New Orleans, Abraham Lincoln được chứng kiến cảnh chợ mua bán người nô lệ. Vào thời kỳ đó, chế độ nô lệ được coi là hợp pháp tại các miền đất phía nam của dòng sông Ohio. Abraham đã thấy từng đoàn người da đen bị xiềng xích và dẫn tới các đồn điền.

Năm 1830, ông Thomas Lincoln lại quyết định di chuyển vì công việc khẩn hoang tại Indiana không khả quan, ngoài ra “bệnh sữa” đã làm cho một số dân định cư sợ hãi. Các người bà con tại Illinois đã rủ gia đình Lincoln về miền đồng cỏ phía tây vì thế ông Lincoln cùng với một vài gia đình khác đã dọn nhà và định cư tại 16 cây số phía tây của Decatur, trên bờ phía bắc của dòng sông Sangamon. Vào thời gian này, Abraham Lincoln đã 21 tuổi, cậu giúp cha làm nhà, dựng hàng rào, trồng vụ hoa màu đầu tiên. Cậu cũng làm công cho các người định cư khác trong vùng.

Mùa xuân năm 1831, một người lái buôn tên là Denton Offutt đã mướn Abraham Lincoln cùng 2 thanh niên trẻ tuổi khác chèo một cái bè chở hàng xuống New Orleans. Sau đó nhờ tin cẩn, ông Offutt đã mướn Abraham làm thư ký riêng trông coi cửa hàng mới tại New Salem, thuộc Illinois, cách Springfield 32 cây số về phía tây bắc. Cũng vào thời gian này, ông bà Thomas Lincoln đã dọn nhà qua hạt Coles.

New Salem là một ngôi làng nhỏ gồm nhiều căn nhà gỗ xây dựng chung quanh một nhà máy xay lúa. Trong làng có vài cửa hàng, một tiệm làm thùng gỗ, một tiệm chải và dệt len . . . Chính tại nơi này Abraham Lincoln đã sống trong 6 năm, từ tháng 7-1831 tới mùa xuân năm 1837 và đã học hỏi được nhiều hiểu biết nhờ ông Jack Kelso đã dạy cho Abraham về các tác phẩm của đại kịch gia William Shakespeare và về thơ phú của Robert Burns, một thi sĩ Tô Cách Lan. Abraham Lincoln cũng tìm học về Thánh Kinh nhờ vậy, sau này khi đã trở thành Tổng Thống, ông Lincoln đã dẫn chứng các câu Thánh Thư trong các bài diễn văn và bài viết khác nhau.

Năm 1831, chính quyền Liên Bang đã ra lệnh dời các nhóm dân da đỏ Sauk và Fox từ Illinois sang Iowa. Mùa xuân năm 1832, tù trưởng da đỏ Black Hawk đã dẫn hàng trăm quân da đỏ, vượt sông Mississippi, cố chiếm miền đất gần Rock Island. Trước tình trạng khẩn trương này, chính phủ Hoa Kỳ phải tuyển mộ dân quân và Abraham Lincoln đã tình nguyện nhập ngũ. Đại đội của Abraham gồm các thanh niên từ vùng New Salem. Họ đồng thanh bầu Abraham làm cấp chỉ huy vì các đức tính thật thà, thân mật và tài kể chuyện. Họ cũng kính phục trước sức mạnh của Abraham trong các cuộc đấu vật và đọ sức khác. Đây là cơ hội chứng tỏ Abraham Lincoln có tài về chỉ huy và dẫn đạo.

Sau thời gian đầu quân 30 ngày chấm dứt, Abraham Lincoln phục vụ quân đội trong 90 ngày nữa với cấp bậc binh nhì và dù không tham gia trận chiến nào nhưng Abraham đã nhìn thấy các tử thi của dân chúng bị bọn da đỏ giết chết. Chính nhờ thời gian này mà Abraham Lincoln hiểu rõ các cực khổ của người lính trên chiến trường để về sau, khi đã trở thành vị Tổng Tư Lệnh Quân Đội, ông Lincoln đã đối xử với tất cả binh sĩ bằng tấm lòng thông cảm.


3- Tham gia ngành Lập Pháp và nghề Luật Sư.

Abraham là con người ham học hỏi và thích tự học. Ông rất quan tâm đến ngành luật pháp và thường mượn các sách Luật của miền Indiana để đọc trong nhiều đêm trường. Ông cũng đã đi bộ nhiều dậm đường, tới các tòa án địa phương để nghe các luật sư biện hộ trong các vụ tranh tụng. Những kinh nghiệm này đã dạy cho Abraham Lincoln biết các phương thức làm việc của luật sư, hiểu rõ nhiều câu chuyện tranh tụng và cách giải quyết các vấn đề pháp lý.

Trước thời kỳ quân dịch, nhiều người đã khuyên Abraham nên ra tranh cử trong ngành lập pháp địa phương vì thế ông đã ghi danh vào tháng 3-1832 nhưng cuộc chiến tranh Black Hawk đã khiến ông vắng nhà. Lúc trở về vào tháng 7 năm đó, Abraham Lincoln bị thất cử dù rằng người dân quanh vùng đã dồn cho ông 277 phiếu trong tổng số 300 phiếu.

Lúc bấy giờ, một người bạn tên là William F. Berry rủ Abraham Lincoln mua chung bằng tín khoản một cửa tiệm tại New Salem. Việc kinh doanh thất bại sau vài tháng khiến cho cả hai người mắc nợ.

Tháng 5-1833, Abraham Lincoln được đề cử làm trạm trưởng bưu điện tại New Salem rồi viên trưởng ngành đo đạc địa phương lại đề nghị Lincoln làm phó ban. Abraham đã cố gắng học hỏi môn học mới và nhờ 2 công việc, ông đã kiếm đủ sống. Năm 1835, người bạn Berry qua đời, dồn tất cả các món nợ chung vào khoảng 1,100 mỹ kim cho Abraham lãnh. Trong nhiều năm, ông Lincoln đã cố gắng thanh toán dần các nợ cũ và nhờ thế, mọi người đã gọi ông là “Abe lương thiện” (Honest Abe). Cũng tại New Salem, Abraham đã làm quen được với cô Anne Rutledge nhưng cô Anne này chẳng may qua đời vào mùa hè năm 1834, để lại nỗi buồn sâu đậm cho Abraham Lincoln. 18 tháng sau, Abraham lại quen với cô Mary Owens, người miền Kentucky và đã đề nghị hôn nhân nhưng đã bị cô này cự tuyệt.

Vào năm 1834, Abraham Lincoln lại ra tranh cử ngành lập pháp, lần này ông được nhiều người biết tiếng nên đã thắng cử. Ông đã phục vụ 4 nhiệm kỳ 2 năm liên tiếp tại Hạ Viện Illinois (the Illinois General Assembly). Trong nhiệm kỳ đầu tiên, ông Lincoln đã gặp một nhà lập pháp trẻ tuổi thuộc đảng Dân Chủ tên là Stephen A. Douglas. Ông Lincoln đã sớm trở nên người lãnh đạo nhóm Whig. Ông cũng đứng đầu các công trình thiết lập ngân hàng Illinois, chương trình xây dựng các đường xe lửa, các sông đào và các công cuộc vận động dời thủ phủ của tiểu bang từ Vandalia tới Springfield.

Cũng vào năm 1834, khi ông Lincoln vận động tranh cử chức vụ lập pháp lần thứ hai, ông John T. Stuart đã đốc thúc ông Lincoln theo học Luật Khoa. Ông Stuart là một luật sư tại Springfield và là nhân vật dẫn đầu về lập pháp. Vào thời kỳ đó, chỉ có vài trường Luật trên toàn Bắc Mỹ. Các sinh viên luật chỉ "đọc Luật" tại văn phòng một luật sư và được một luật sư thực thụ dạy bảo bằng các lời khuyên, các chỉ dẫn cần thiết. Để vượt qua sự yếu kém về giáo dục, ông Abraham Lincoln đã mượn các sách Luật để tự học. Đối với phương pháp học hành, ông Lincoln đã nói rằng :”ta nên luôn luôn nhớ trong đầu óc rằng quyết định thành công của chính mình thì quan trọng hơn tất cả các yếu tố khác”. Vì thế, nhiều khi ông Lincoln đã phải đi bộ 32 cây số từ New Salem tới Springfield để mượn sách về học. Một luật sư cộng tác với ông Stuart là ông Henry E. Dummer đã nhớ lại như sau :”Đôi khi ông ta đi bộ, nhưng thường thì cưỡi ngựa. Ông Lincoln là một thanh niên trông quê mùa nhất mà tôi đã từng gặp. Ông ta có vẻ ít nói, e thẹn, với vẻ hơi buồn rầu nhưng khi ông ta nói năng thì tất cả những điều kể trên đã tan biến đi và ông Lincoln đã chứng tỏ cả về sức mạnh lẫn sự chính xác. Ông Lincoln làm chúng tôi ngạc nhiên thêm sau mỗi lần thăm viếng”.

Ngày 9-9-1836, ông Abraham Lincoln nhận được giấy phép hành nghề luật sư nhưng tới ngày 1-3-1837, tên của ông mới xuất hiện trên danh sách luật sư đoàn. Do dân số của thị trấn New Salem giảm bớt, ông Lincoln đã dọn văn phòng tới Springfield vào ngày 15-4-1837 và tham gia vào Văn Phòng Luật Sư Stuart & Lincoln. Cuộc hợp tác này kéo dài tới mùa Xuân năm 1841. Sau đó, ông Lincoln lại cộng tác với luật sư Stephen T. Logan, là một trong các luật sư tài giỏi nhất đã từng làm việc tại Illinois. Công việc mở văn phòng chung thứ hai này chấm dứt vào mùa thu năm 1844. Sau đó, ông Abraham Lincoln đã mời ông William H. Herndon, một luật sư trẻ hơn 9 tuổi, cộng tác tại một văn phòng do ông Lincoln đứng đầu. Hai nhân vật này đã không giải tán văn phòng ngay cả 16 năm sau khi ông Lincoln rời Springfield để tới Washington D.C. nhậm chức vụ Tổng Thống. Vào thời kỳ của ông Lincoln, các luật sư chưa được phân chia thành các ngành chuyên môn nên ông Lincoln đã cãi tại các tòa án địa phương của hạt Sangamon, tại Tòa Liên Bang của Illinois và Tòa Tối Cao của tiểu bang. Ông cũng biện hộ cho các thân chủ tại các tòa án hòa giải và chỉ tính lệ phí nhẹ.

Năm 1837, các ông Abraham Lincoln và Dan Stone, một nhà lập pháp khác, đã vận động và phản đối chế độ nô lệ. Cả hai ông đã tuyên bố rằng “căn bản của chế độ nô lệ được đặt trên sự bất công và chính sách xấu xa” (the institution of slavery is founded on both injustice and bad policy). Vấn đề nô lệ này 23 năm về sau đã trở thành một đề tài gây sóng gió khi ông Abraham Lincoln đắc cử chức vụ Tổng Thống.

Một thời gian ngắn sau khi dọn tới Springfield, ông Abraham Lincoln đã gặp cô Mary Todd (1818-82), một cô gái Kentucky sống với người chị đã có gia đình. Hai người quen nhau và đã có lần hủy bỏ ước hẹn hôn nhân nhưng cuối cùng, họ đã làm đám cưới vào ngày 4-11-1842, khi đó ông Lincoln 32 tuổi còn cô Todd 23.

Bà Mary Todd Lincoln là một người tính khí bất thường lại nhiều tham vọng. Bản tính tương khắc của 2 vợ chồng này đã gây nên nhiều vụ va chạm. 18 tháng sau ngày cưới, ông Lincoln đã mua một căn nhà gỗ và dọn gia đình tới đây cho tới khi trở nên Tổng Thống. Họ đã có 4 người con : Robert Todd, Edward Baker sinh năm 1846 nhưng đã chết 4 năm sau, William Wallace sinh năm 1850 nhưng rồi qua đời tại Tòa Bạch Cung năm 11 tuổi và Thomas, thường được gọi là Tad, chết năm 1871 ở tuổi 18 vì bị bệnh.


4- Chính khách quốc gia.

Sau 4 nhiệm kỳ lập pháp tại miền Illinois, ông Abraham Lincoln ước muốn được bầu vào Quốc Hội. Năm 1840, ông Lincoln đi tới nhiều tiểu bang để vận động tranh cử Tổng Thống cho ông William Henry Harrison. Ông đã dùng đề tài “Hệ Thống Ngân Hàng” và ủng hộ giải pháp Ngân Hàng Hoa Kỳ (the Bank of the U.S.). Các vận động tranh cử của ông vào Hạ Viện vào các năm 1843 và 1844 đã không giúp ông thành công.

Năm 1844, ông Abraham Lincoln lại ủng hộ ông Henry Clay, một ứng viên Tổng Thống thuộc đảng Wig. Trong kỳ vận động này, ông Lincoln đã chọn đề tài thuế vụ (tariff) theo đó một loại thuế cần được áp đặt vào các hàng hóa nhập cảng để giúp đỡ kỹ nghệ Hoa Kỳ phát triển. Hai năm sau, ông Lincoln đã thắng cử vào Viện Dân Biểu. Đối thủ của ông là ông Peter Cartwright, một nhân vật Methodist rất danh tiếng.

Ông Abraham Lincoln vào ngồi trong Quốc Hội từ ngày 6-12-1847, lúc mà Hoa Kỳ đã thắng cuộc chiến tranh Mễ Tây Cơ nhưng hiệp ước hòa bình giữa Hoa Kỳ và Mễ Tây Cơ chưa được ký kết. Vào thời gian này, ông Lincoln đã cùng các bạn Whig đồng viện trách cứ Tổng Thống James K. Polk về chiến tranh và ông đã bỏ phiếu cần phải cung cấp cho quân đội Hoa Kỳ đầy đủ phương tiện. Ông Lincoln cũng ủng hộ chương trình Wilmot Proviso theo đó chế độ nô lệ phải bị tiêu hủy tại các miền đất mà Hoa Kỳ chiếm được của Mễ Tây Cơ. Ông cũng vận động tranh cử chức vụ Tổng Thống năm 1848 cho ông Zachary Taylor.

Tới ngày 4-3-1849, nhiệm kỳ dân biểu của ông Lincoln chấm dứt. Ong Lincoln đã không thành công trong việc vận động để đạt chức vụ Bộ Trưởng Đất Dai (Commissioner of the General Land Office) trong khi lại từ chối chức vụ Thống Đốc tiểu bang Oregon. Ông Abraham Lincoln trở về Springfield, Illinois, với nghề luật sư. Vào thời kỳ này, các công ty lớn đang phát triển tại miền Illinois và các tiểu bang lân cận. Ông Lincoln đã tranh cãi trong nhiều vụ kiện nhờ đó lợi tức của ông rất khả quan. Thù lao cao nhất của ông là 5,000 mỹ kim khi ông biện hộ cho Công Ty Đường Sắt Trung Ương Illinois (the Illinois Central Railroad) trong một vụ kiện liên quan tới thuế vụ. Sau vụ này, nhờ danh tiếng vang lừng, ông Abraham Lincoln trở nên một trong các luật sư hàng đầu của miền Illinois.

Vào năm 1820 về trước, đạo luật hòa giải Missouri (the Missouri Compromise) đã cấm chỉ chế độ nô lệ tại các miền đất mới phía bắc của con đường đông tây, là đường kéo dài của biên giới phía nam của tiểu bang Missouri. Nhưng rồi tới đầu năm 1854, Thượng Nghị Sĩ Stephen A. Douglas của tiểu bang Illinois lại đề ra một đạo luật tổ chức các miền đất Kansas và Nebraska. Đạo luật Kansas-Nebraska này đã xét lại đạo luật hòa giải Missouri và cho phép các người định cư tại các tiểu bang mới được quyền quyết định duy trì hay không duy trì chế độ nô lệ. Ông Abraham Lincoln và một số người khác đã tin tưởng rằng chế độ nô lệ đã bị giới hạn để rồi suy tàn trong tương lai. Chính sách mới kể trên như thế có thể làm sống lại chế độ tàn nhẫn đó và điều này đã khiến ông Abraham Lincoln bất bình.

Ông Abraham Lincoln đã tin tưởng vào các vị lập quốc khi viết ra “Bản Tuyên Ngôn Độc Lập” theo đó Tự Do và Bình Đẳng đã được hứa hẹn. Có lần ông Lincoln đã nói :”Tôi không có một tư tưởng chính trị nào không bắt nguồn từ Bản Tuyên Ngôn Độc Lập” và ông hướng về ông Thomas Jefferson vì các nguyên tắc chính trị dân chủ và về ông Alexander Hamilton do các nguyên tắc kinh tế. Ông Lincoln cũng tin rằng Hiến Pháp Hoa Kỳ đã bảo vệ việc chống lại chế độ nô lệ vì chế độ này là điều xấu xa, đang dần dần bị hủy diệt. Cũng vì thế, ông Lincoln đã quyết định vận động triệt tiêu Đạo Luật Kansas-Nebraska.

Từ năm 1854, ông Abraham Lincoln đã diễn thuyết hùng hồn tại Springfield, Peoria và Chicago, và là nhà lãnh đạo phong trào chống đối đạo luật kể trên. Ông được bầu vào Viện Lập Pháp Illinois nhưng sau đó từ chức để tranh cử chức vụ Thượng Nghị Sĩ. Trong cuộc bầu cử lần đầu, ông Lincoln bị thiếu 5 phiếu và để không cho ông Douglas đắc cử, ông đã quay sang ủng hộ ông Lyman Trumbull và ông Trumbull này đã thắng lợi.

Trong thập niên 1850, đảng Whig bị phân hóa vì các đảng viên tại các miền đất khác nhau đã bất đồng ý kiến về chế độ nô lệ. Năm 1856, ông Lincoln tham gia đảng Cộng Hòa chủ trương chống nô lệ, lúc đó đảng này mới được 2 tuổi. Ông Lincoln đã vận động giúp ông John C. Fremont, một đảng viên Cộng Hòa, bằng hơn một trăm bài diễn thuyết giá trị nhưng rồi ông này đã bị thua trước ông James Buchanan, thuộc đảng Dân Chủ.

Năm 1858, ông Lincoln được đề cử ra tranh chức Thượng Nghị Sĩ với ứng viên Douglas. Trong bài diễn văn nhận lãnh trách nhiệm, ông Lincoln đã nói “một căn nhà bị chia rẽ không thể đứng vững được. Tôi tin rằng chính phủ này không thể tồn tại mãi với một nửa nô lệ, một nửa tự do. Tôi không mong đợi Liên Bang bị giải thể. Tôi không mong đợi căn nhà sụp đổ, tôi chỉ mong đợi không còn bị chia rẽ nữa". Cũng nhân dịp này, ông Lincoln đã thách đố ông Douglas tranh luận và ông Douglas đã nhận lời, nêu ra 7 nơi tụ họp. Nơi đầu tiên vào ngày 21-8-1858 tại Ottawa, Illinois, và nơi sau cùng tại Alton, Illinois, vào ngày 25-10. Mỗi ứng viên nói trong một giờ rưỡi. Thính giả rất đông. Các tranh luận tập trung vào việc nới rộng chế độ nô lệ tại các tiểu bang mới. Ông Douglas đã bênh vực đạo luật Kansas-Nebraska và cho rằng người dân của bất cứ miền đất nào có thể chối bỏ chế độ nô lệ bằng cách không chấp nhận các đạo luật địa phương bênh vực chế độ đó. Luận điệu này được gọi là Chủ Thuyết Freeport (the Freeport Doctrine). Trong khi đó, ông Abraham Lincoln lại nhấn mạnh rằng chế độ nô lệ là một điều xấu xa về luân lý, xã hội và chính trị (a moral, social and political evil).

Trong các cuộc tranh luận, ông Lincoln đã vượt trội hơn ông Douglas nhưng vì tiểu bang được chia thành các khu vực nên các đại biểu của ông Stephen Douglas đã đoạt được đa số phiếu và ông Douglas đã thắng cử. Dù sao, cuộc tranh luận đã khiến cho ông Lincoln trở nên một nhân vật có danh tiếng, thuộc tầm vóc quốc gia.

Vào ngày 16-5-1860 đã diễn ra Đại Hội Toàn Quốc Đảng Cộng Hòa họp tại Chicago. Các nhân vật ứng cử gồm Thượng Nghị Sĩ William H. Seward của thành phố New York, ông này được sự ủng hộ mạnh nhất nhưng cũng có nhiều kẻ thù, Thượng Nghị Sĩ Salmon P. Chase thuộc tiểu bang Ohio, nhân vật chưa từng giữ một chức vụ quốc gia cao cấp nào. Quá trình bình dân của ông Lincoln đã được dùng để vận động các cử tri. Sau 3 lần bỏ phiếu, ông Abraham Lincoln đã thắng và được đề cử làm ứng viên Tổng Thống. Ứng viên Phó Tổng Thống là Thượng Nghị Sĩ Hannibal Hamlin, thuộc tiểu bang Maine.

Về phía đảng Dân Chủ, đã có sự chia rẽ. Các đảng viên miền Bắc đề cử Thượng Nghị Sĩ Stephen Douglas làm ứng viên Tổng Thống còn miền Nam chọn lựa ông John C. Breckinridge. Ngoài ra còn có một đảng thứ tư gọi là Đảng Hiến Pháp Liên Bang (the Constitutional Union Party), họ đã đề cử cựu Thượng Nghị Sĩ John Bell của tiểu bang Tennessee. Sau khi kiểm phiếu, ông Lincoln được 1,865,593 phiếu; ông Douglas được 1,382,713 phiếu còn ông Breckinridge được 848,356 phiếu. Như vậy ông Abraham Lincoln là đảng viên Cộng Hòa đầu tiên đắc cử chức vụ Tổng Thống Hoa Kỳ và là vị Tổng Thống thứ 16.


5- Vị Tổng Thống kiên nhẫn và cương quyết.

Khi nghe tin ông Abraham Lincoln thắng cử chức vụ Tổng Thống, các tiểu bang Miền Nam của Hoa Kỳ đã báo động. Họ nghĩ rằng một Tổng Thống Cộng Hòa sẽ không tôn trọng các tài sản và quyền lợi của họ, như vậy đối với họ, chỉ còn một cách cứu vãn là ly khai khỏi Liên Bang Hoa Kỳ.

Ngày 20 tháng 12 năm 1860, tiểu bang South Carolina thông qua đạo luật ly khai (an Ordinance of Secession) và vào lúc ông Abraham Lincoln tuyên thệ nhậm chức, 6 tiểu bang Miền Nam tuyên bố ly khai khỏi Liên Bang Thống Nhất (the Union) rồi sau đó còn có 4 tiểu bang nữa tham gia. Các tiểu bang ly khai đã tạo nên các Tiểu Bang Liên Minh Hoa Kỳ (the Confederate States of America).

Ngày 11-2-1861, khi từ biệt các người quen biết tại Springfield, Illinois, để lên đường đi nhậm chức, ông Abraham Lincoln đã nói “Tôi đã sống ở đây một phần tư thế kỷ và đã trải qua thời kỳ từ trẻ tới già. Các con của tôi đã sinh ra tại nơi này và có đứa đã chôn tại nơi này. Bây giờ tôi phải ra đi, không biết bao giờ mới có thể trở lại, ra đi với một nhiệm vụ trước mặt còn lớn lao hơn thứ của ông Washington”. Rồi hành trình của chuyến xe lửa chở ông Lincoln tới Washington D.C. đã được trù liệu cẩn thận để ngừng lại tại các thành phố lớn miền Đông, làm sao cho hàng ngàn dân chúng có cơ hội nhìn thấy mặt vị Tổng Thống tương lai của họ. Tại thành phố Philadelphia, ông Lincoln nghe tin có một âm mưu ám sát, vì vậy chuyến đi đã được thay đổi tại Harrisburg, Pa., và ông Abraham Lincoln đã tới Thủ Đô vào sáng sớm ngày 23-2.

Ngày 4-3-1861, ông Abraham Lincoln đã tuyên thệ nhậm chức Tổng Thống Hoa Kỳ thứ 16. Trong bài diễn văn khai mạc, ông Lincoln đã nói : “Tôi không có chủ đích nào can thiệp vào bản chất của vấn đề nô lệ của các tiểu bang mà thứ đó đang tồn tại. Hỡi các đồng bào bất mãn của tôi, trong tay các bạn và không phải là trong tay tôi, là vấn đề trầm trọng vì nội chiến. Chúng ta không phải là kẻ thù.”. Ông Abraham Lincoln đã xác định không có ý muốn can thiệp vào các tiểu bang khác, bởi vì vấn đề “nô lệ” hay “tự do” đã được Hiến Pháp quy định và bảo vệ. Ông chỉ muốn sự thống nhất Liên Bang.

Non 6 tuần lễ sau ngày nhậm chức hay vào ngày 12-4-1861, khi mà cuộc nội chiến đã bắt đầu và khi ông phải đảm nhiệm trọng trách đưa các tiểu bang ly khai trở về với đại gia đình quốc gia và duy trì sự thống nhất, ông Abraham Lincoln đã viết : “Mục tiêu chính của tôi trong cuộc tranh đấu này là duy trì Liên Bang, không phải là duy trì hay tiêu hủy chế độ nô lệ. Nếu tôi có thể duy trì Liên Bang mà không giải phóng một người nô lệ nào, tôi sẽ làm điều đó, và nếu tôi có thể duy trì Liên Bang mà lại giải phóng tất cả các nô lệ, tôi cũng sẽ làm điều đó”, và ông Lincoln đã xác nhận điều ước muốn của ông là “mọi người ở mọi nơi phải được Tự Do”. Ông Lincoln đã cảnh cáo rằng ông sẽ dùng tất cả sức mạnh của quốc gia để chiếm giữ các “tài sản và địa điểm” thuộc về chính quyền Liên Bang. Danh từ này ám chỉ các pháo đài, công xưởng, tòa nhà quan thuế.

Một ngày sau lễ tuyên thệ nhậm chức, Tổng Thống Abraham Lincoln đã công bố danh sách các nhân vật nội các, gồm cả hai đối thủ chính trị của ông trong cuộc tranh cử Tổng Thống là ông William H. Seward, Bộ Trưởng Ngoại Giao và ông Salmon P. Chase, Bộ Trưởng Ngân Khố. Như vậy Nội Các của đảng Cộng Hòa đã gồm nhiều sắc thái chính trị khác nhau, đây là một nhóm nhân vật có các khả năng đặc biệt để phục vụ quốc gia và ông Lincoln đã khéo léo duy trì Nội Các một cách lịch duyệt. Ông cần tới sự giúp đỡ của họ, không phải các lời khen ngợi của họ.

Nhờ các kinh nghiệm của một luật sư, Tổng Thống Lincoln đã cứu xét mọi vấn đề theo mọi khía cạnh trước khi đi tới một quyết định. Ông đã nói với một người bạn : "đầu óc tôi làm việc chậm chạp nhưng khi nó đã tiến hành, nó đi về phía trước", và khi ông đã quyết định xong một điều quan trọng nào, không ai có thể khiến ông đổi ý.

Ngay khi các tiểu bang Miền Nam ly khai, họ đã chiếm giữ các đồn lũy nằm trong biên giới của họ khiến cho ông Lincoln phải quyết định hoặc là củng cố các đồn lũy còn lại hay giành chiếm các địa điểm đã lọt vào vòng kiểm soát của phe Miền Nam. Tại hải cảng Charleston, đồn Sumter (Fort Sumter) là một biểu tượng của Liên Bang Thống Nhất (the Union). Người chỉ huy đồn này là thiếu tá Robert Anderson. Nếu Tổng Thống Abraham Lincoln ra lệnh rút quân đội ra khỏi đồn này, sẽ có một làn sóng phản đối tại Miền Bắc, còn nếu ông tăng cường đồn lũy đó, phe Miền Nam sẽ coi đây là một hành động chiến tranh. Để dung hòa cả hai, ông Lincoln đã quyết định chỉ gửi lương thực tới đồn Sumter là thứ mà nơi đây đang cần. Tổng Thống Lincoln đã thông báo việc làm này cho tiểu bang South Carolina biết, nhưng phe Miền Nam vẫn coi đó là một hành động thù nghịch và ra lệnh cho thiếu tá Anderson phải đầu hàng. Viên thiếu tá này từ chối nên vào ngày 12-4, Tướng Pierre G.T. Beauregard đã ra lệnh cho pháo binh Liên Minh oanh tạc đồn Sumter. Ngày hôm sau, Anderson phải quy hàng và từ nay bắt đầu cuộc Nội Chiến Nam Bắc Mỹ.

Trước cuộc khủng hoảng này, Tổng Thống Abraham Lincoln đã hành động một cách cương quyết. Ông tuyên bố sẽ phong tỏa các hải cảng miền Nam, bành trướng quân đội ra khỏi giới hạn quy định bởi Luật Pháp, dùng các ngân khoản của Liên Bang mà không chờ đợi sự chấp thuận của Quốc Hội, và các người miền Bắc nhưng có cảm tình với phe Miền Nam bị tước đi “quyền bảo thân” (habeas corpus). Ông Lincoln tin tưởng rằng các hành động này nằm trong quyền hạn mà Hiến Pháp đã dành cho Tổng Thống lúc chiến tranh, và ông đã chứng tỏ các hành động đó là đúng khi Quốc Hội họp lần đầu tiên vào tháng 7 năm 1861. Bản văn gửi Quốc Hội của ông Lincoln được coi là một trong các văn thư quan trọng nhất. Khi vị Chánh Án Tòa Tối Cao Roger B. Taney phản đối ông Lincoln về vấn đề tước đoạt “quyền bảo thân”, Tổng Thống Lincoln đã đặt câu hỏi mà cho tới ngày nay, việc trả lời hợp lý vẫn còn là một vấn đề khó khăn : “Nếu chỉ có một luật lệ trong tất cả các luật lệ khác không được thi hành và chính quyền bị phân hóa ra từng mảnh, thì có nên tránh vi phạm luật lệ đó không ?”.

Tổng Thống Abraham Lincoln cho rằng sẽ là một thảm cảnh nếu quốc gia Hoa Kỳ bị tan vỡ, khi đó không phải chỉ có người Mỹ là bị tổn hại mà về sau này, mọi người đều bị thiệt thòi bởi vì đối với ông Lincoln, Hoa Kỳ tượng trưng cho một kinh nghiệm theo đó người dân có thể quản trị lấy chính mình. Nếu loại chính quyền này thất bại thì các vua chúa, các kẻ độc tài và những người ủng hộ họ sẽ nói rằng người dân không thể tự quản trị được và cần phải có một loại người nào đó đứng ra điều khiển dân chúng. Và ông Abraham Lincoln đã coi trung tâm của vấn đề Nội Chiến là Số Phận của nền Dân Chủ trên Thế Giới.


6- Điều hành chiến tranh.

Hai ngày sau khi đồn Sumter thất thủ, Tổng Thống Lincoln đã gọi nhập ngũ 75,000 người. Các người tình nguyện vào Quân Đội đã đông hơn số quân sĩ mà chính quyền có thể trang bị. Tháng 7-1861, một đạo quân được tập họp quanh thủ đô Washington. Một lực lượng quân sự tương đương của phe Miền Nam cũng được huy động tại phía bên kia dòng sông Potomac, thuộc tiểu bang Virginia.

Vào thời kỳ đó, nhiều người Miền Bắc tin rằng các lực lượng quân sự của họ có thể đánh bại phe Miền Nam trong một trận chiến. Các báo chí hô hào “tiến tới Richmond”. Tổng Thống Lincoln bèn ra lệnh xung trận. Đạo quân Miền Bắc ở dưới quyền Tướng Irvin McDowel. Trận đánh Bull Run đầu tiên diễn ra vào ngày 21-7 với phe Miền Bắc bị thất bại. Tới lúc này các người Miền Bắc mới nhận thức được rằng đây là một cuộc chiến lâu dài.

Vì là vị Tổng Tư Lệnh Quân Đội, Tổng Thống Lincoln phải chọn lựa vị tướng lãnh nào có khả năng tổ chức các người tình nguyện thành những đạo quân mang về chiến thắng. Tướng George B. McClellan là một nhà tổ chức quân đội tài giỏi nhưng chiến dịch Peninsular năm 1862 của ông đã gặp thất bại. Đây là kế hoạch đánh chiếm Richmond, Va., thủ đô của phe Miền Nam. Tống Thống Lincoln sau đó đã chỉ định Tướng John Pope làm chỉ huy trưởng các đạo quân nhưng Tướng Pope cũng bị thua trong trận đánh Bull Run thứ hai, diễn ra vào ngày 29 tới 30 tháng 8 năm 1862, khiến cho Tổng Thống Lincoln phải gọi tới Tướng McClellan bảo vệ thủ đô Washington. Khi Tướng McClellan không chịu tiến quân vào đầu tháng 11, Tổng Thống Lincoln đành phải cất chức Tướng McClellan và đặt Tướng Ambrose E. Burnside vào chức vụ chỉ huy. Nhưng vào ngày 13-12, Tướng Burnside cũng thua trận Fredericksburg và người kế tiếp là Tướng Joseph Hooker cũng thất bại vào ngày 1 tới ngày 4 tháng 5 năm 1863 trong trận đánh Chancellorsville.

Trong phần lớn thời kỳ Nội Chiến này, các báo chí và dân chúng đã chỉ trích các chính sách của Tổng Thống Lincoln một cách cay đắng, nhưng ông Lincoln đã không biện hộ vì tin rằng ông đang thi hành các công việc có lợi cho Liên Bang. Tại Tòa Bạch Cung, mỗi ngày các thư ký mang tới Tổng Thống Lincoln các bản tin chiến trường, và một cách cô đơn, Tổng Thống phải nghĩ ra các giải pháp. Ông Lincoln đã ngồi vào bàn giấy trước 7 giờ mỗi sáng, cố gắng tìm cách chiến thắng và duy trì sự thống nhất Liên Bang. Các giấy tờ tràn ngập văn phòng của ông. Nỗi khổ tâm nhất của ông Lincoln là phải đọc hay nghe các đơn xin ân xá của các binh lính bị kết tội “tử hình” vì đào ngũ hay vì không làm tròn nhiệm vụ, và mỗi khi tìm ra được một lý lẽ nào, ông Lincoln đều tha tội cho các người lính. Có một lần, ông Abraham Lincoln đã nói một cách buồn rầu : “Trong 4 năm, tôi gặp nhiều vụ phải giải quyết liên quan tới sống và chết hơn tổng số các vụ mà các vị khác ngồi vào chiếc ghế này gặp phải. Không ai hiểu nổi nỗi phiền muộn của tâm hồn tôi". Quả vậy, không ai cảm thấy được thảm cảnh của chiến tranh hơn ông Abraham Lincoln. Đã có lần ông nói với nhà văn Harriet Beecher Stowe một cách mệt mỏi rằng “không rõ cuộc xung đột này sẽ chấm dứt theo cách nào, nhưng tôi có cảm tưởng rằng tôi sẽ không tồn tại được lâu sau cuộc kết thúc”.

Trong hoàn cảnh mệt nhọc vì suy tính của ông Lincoln, cậu Tad đã luôn luôn ở gần bên cha và là niềm vui cho ông. Cậu trai nhỏ nhất này thường xuyên thức khuya trong văn phòng làm việc của cha cho tới khi ngủ gục. Ông bà Lincoln lúc này có 3 con trai là William Wallace hay “Willie”, Thomas hay “Tad” nhưng Willie đã chết vào ngày 20-2-1862 khiến cho ông bà Lincoln buồn rầu vô hạn, còn cậu con trai lớn Robert Lincoln là một sinh viên Đại Học Harvard, sau đó phục vụ trong ban tham mưu của Tướng Grant với cấp bậc đại úy.

Sống tại Tòa Bạch Cung, bà Mary Todd Lincoln cũng gặp nhiều bất mãn. Bản tính của bà hay ghen tị và nóng nẩy khiến cho bà Mary mất đi các bạn thân. Người em trai trẻ nhất của bà, 2 người anh em khác dòng và chồng của các em gái khác cha/mẹ đều phục vụ trong quân đội của phe Miền Nam, vì vậy bà Mary Lincoln thường bị nghi ngờ về lòng trung thành. Còn đối với ông Abraham Lincoln, chức vụ Tổng Thống là tham vọng cao nhất của mọi công dân Mỹ nhưng cuộc Nội Chiến đã làm cho đời sống trong Tòa Bạch Cung của ông thiếu hạnh phúc. Ông thường xuyên viếng thăm các bệnh viện quân đội và điều này đã khiến ông rất đau lòng.

Ngoài nhiệm vụ điều hành Nội Các, điều khiển Lục Quân, Hải Quân và quản trị đất nước, Tổng Thống Abraham Lincoln còn phải lo việc bổ nhiệm hàng ngàn chức vụ chính trị và quân sự, chuẩn bị các bài diễn văn, tự viết các bức thư, tìm đọc các sách báo về khoa học quân sự và tìm kiếm các vị tướng lãnh có tài, có thể mang lại chiến thắng.

Sau một thời gian dài thất bại, lực lượng quân sự Miền Bắc mới đạt được một số chiến thắng nhỏ tại thung lũng dòng sông Mississippi. Ngày 6-2-1862, Tướng Ulysse S. Grant chiếm được đồn Henry rồi đồn Donelson vào ngày 16-2. Tới tháng 4, đội quân Miền Nam đã phải rút lui sau trận Shiloh nhưng quân Miền Bắc cũng bị thiệt hại nặng nề.

Tổng Thống Lincoln còn phải lo mặt đối ngoại. Từ năm 1861, Bộ Trưởng Ngoại Giao William Seward đã đề nghị gây chiến với vài quốc gia của châu Âu để đoàn kết trong nước nhưng Tổng Thống Lincoln đã làm ngơ trước ý kiến này. Tới tháng 11-1861, Đại Tá Charles Wilkes của Hải Quân Miền Bắc đã ngăn chặn chiếc tầu chiến Trent của nước Anh và bắt 2 vị bộ trưởng Miền Nam là James M. Mason và John Slidell. Nước Anh đã phản đối dữ dội sự việc này và muốn gây chiến. Để tránh chiến tranh tai hại, Tổng Thống Lincoln đã ra lệnh thả 2 ông Mason và Slidell.

Vào thời kỳ đầu của cuộc Nội Chiến, đã có một số người cực đoan tại Miền Bắc chống đối chế độ nô lệ. Nếu những người này thắng thế thì Miền Bắc sẽ mất đi sức ủng hộ của các tiểu bang biên giới như Kentucky, Missouri, Delaware và Maryland, và việc đánh bại phe Miền Nam không thể nào thực hiện được nếu không có sự yểm trợ của các tiểu bang này. Vì thế Tổng Thống Lincoln phải duy trì sự ôn hòa, cố gắng làm sao có được sự ủng hộ của đa số dân chúng, bảo vệ sự thống nhất của Liên Bang hơn là sớm giải phóng nô lệ. Tổng Thống Lincoln đã tuyên bố : “Mục tiêu chính của tôi là duy trì Liên Bang và không phải duy trì hay hủy bỏ chế độ nô lệ”. Nhưng tới cuối mùa hè năm 1862, Tổng Thống Lincoln nhận thấy đã tới thời cơ phải thay đổi chiến lược. Nhiều quốc gia bên ngoài có cảm tình với phe Miền Nam nhưng lại lên án chế độ nô lệ là xấu xa và như vậy, họ không thể ủng hộ phe ly khai trong khi đó nhiều người Miền Bắc trước kia dửng dưng với chế độ nô lệ thì nay lại tin rằng cần phải chấm dứt sự bất công đó. Ngoài ra, các người nô lệ được giải phóng có thể tham gia vào quân đội Miền Bắc. Tổng Thống Lincoln đã bàn ý kiến này với vài nhân vật nội các và theo lời khuyên của ông Seward, ông chưa công bố Bản Tuyên Bố Giải Phóng Nô Lệ cho tới khi quân đội Miền Bắc tạo được chiến thắng thích hợp.

Ngày 17-9-1862 diễn ra trận đánh Antietam. Đây là chiến thắng đầu tiên của phe Miền Bắc. Ngày 22-9, Tổng Thống Lincoln ban ra một bản tuyên bố mà ông gọi là “hành động chính của chính quyền của tôi và cũng là biến cố lớn nhất trong thế kỷ 19”. Bản Tuyên Bố Giải Phóng sơ khởi hứa hẹn Tự Do dành cho các nô lệ bị giữ trong các tiểu bang Miền Nam nào không trở về với Liên Bang vào cuối năm đó. Bản Tuyên Bố này đã ảnh hưởng tới 3 triệu người nô lệ. Các tiểu bang Miền Nam và các chủ nhân sở hữu nô lệ đã không quan tâm tới Bản Tuyên Bố sơ khởi nên vào ngày 01-01-1863, Tổng Thống Lincoln lại công bố Bản Tuyên Bố Giải Phóng cuối cùng. Văn bản này không ảnh hưởng tới các tiểu bang biên giới là các nơi không nổi loạn chống Liên Bang. Từ khi đó, mỗi khi quân đội Miền Bắc chiếm được một miền đất nào, các nô lệ tại miền đất mới đó được giải thoát ngay và nhiều người trong bọn họ đã gia nhập vào quân đội Liên Bang.

Bản Tuyên Bố Giải Phóng (the Emancipation Proclamation) của ông Abraham Lincoln đã tạo nên một ảnh hưởng dài hạn. Đối với các quốc gia bên ngoài, bản văn này đã cung cấp cho cuộc chiến tranh một lý tưởng mới và đã giúp công vào tinh thần chiến đấu của phe Miền Bắc. Bản Tuyên Bố cũng tạo nên một hướng đi cho Tu Chính Án thứ 13 của Hiến Pháp, được phê chuẩn vào ngày 18-12-1865 theo đó chế độ nô lệ bị chấm dứt theo Luật Pháp trên toàn lãnh thổ Hoa Kỳ.


7- Chiến thắng và thắng cử lần thứ hai.

Sau thắng lợi tại Chancellorsville vào tháng 5 năm 1863, Tướng Robert E. Lee nhận thấy phe Miền Bắc dần dần có lợi thế hơn nên ông đã quyết định đưa quân đánh sang tiểu bang Pennsylvania, gây ảnh hưởng tâm lý tới nhân dân Miền Bắc. Ngày 01-7-1863, đạo quân của tướng Lee đụng trận với quân đội Miền Bắc dưới quyền Tướng George G. Meade gần một thị trấn nhỏ tên là Gettysburg. Trong 3 ngày, trận tuyến giằng co tại các dải đất hẹp thuộc miền nam Pennsylvania rồi cao điểm giao tranh xẩy ra vào ngày mồng 3 khi 15,000 quân Miền Nam do Tướng George Pickett tấn công dữ dội vào các vị trí của quân đội Miền Bắc nhưng đã gặp thất bại. Sáng sớm ngày 5-7, Tướng Lee đành phải ra lệnh rút lui, không còn hy vọng đánh Miền Bắc nữa. Đạo quân của Tướng Lee tại phía bắc Virginia khi đó lên tới 75,000 người, gồm cả sĩ quan và binh lính trong khi Tướng Meade có 88,000 quân thuộc đạo quân Potomac. Phe Miền Nam thiệt hại tại Gettysburg vào khoảng 28,000 người trong khi tổn thất của phe Miền Bắc là 23,000, gồm cả các người chết, bị thương và mất tích.

Ngày 19-11-1863 tại nghĩa trang Gettysburg trên ngọn đồi Cemetery thuộc tiểu bang Pennsylvania, đã diễn ra lễ truy điệu các tử sĩ. Diễn giả chính của buổi lễ là ông Edward Everett, một trong các nhà hùng biện danh tiếng nhất thời đó. Ông Everett đã nói liền trong 2 giờ, sau đó Tổng Thống Lincoln được mời nói vài lời. Ông Abraham Lincoln đứng lên, từ từ rút cặp kính ra và một mẫu giấy nhỏ rồi nói bằng một giọng rõ ràng. Trong 3 phút ngắn ngủi, Tổng Thống Lincoln đã hoàn tất Bài Diễn Văn Gettysburg lừng danh với câu mở đầu : “Cách đây 87 năm, ông cha của chúng ta đã thành lập trên lục địa này một quốc gia mới, thành hình trong Tự Do và với chủ đích rằng mọi người được sinh ra bình đẳng”. Và lời kết luận của Tổng Thống Abraham Lincoln đã trở thành một câu danh ngôn quen thuộc với tất cả mọi người: “Chính quyền của Dân, do Dân, vì Dân sẽ không bao giờ suy tàn trên mặt đất”.

Nhiều nhà khảo cứu nói rằng Tổng Thống Lincoln đã phác thảo bài diễn văn bất hủ kể trên, trên chuyến xe lửa đi tới Gettysburg. Thực ra ông Lincoln đã suy nghĩ rất nhiều về buổi lễ, rồi do chuẩn bị cẩn thận, lại đúc kết trong một khung cảnh bi thương, Bài Diễn Văn Gettysburg đã trở nên một văn bản lừng danh của Lịch Sử và Văn Chương Hoa Kỳ.

Trong khi Tướng Lee thua trận tại phía bắc thì tại phía tây vào ngày 4-7-1863, đạo quân của Tướng Grant đã chiếm được địa điểm Vicksburg khiến cho toàn thể khu vực dòng sông Mississippi, các tiểu bang Arkansas, Texas và Louisiana bị cắt ra khỏi quyền kiểm soát của phe Miền Nam. Hai chiến thắng Gettysburg và Vicksburg đã hứa hẹn việc kết thúc chiến tranh.

Vào năm 1864, các đảng viên Cộng Hòa và đảng viên Dân Chủ ủng hộ chính sách quân sự của Tổng Thống Lincoln (War Democrats) đã lập ra đảng Thống Nhất Quốc Gia (the National Union Party). Tháng 6 năm đó, đảng này đề cử ông Abraham Lincoln ra tranh chức vụ Tổng Thống với ứng viên Phó Tổng Thống là Thượng Nghị Sĩ Andrew Johnson của tiểu bang Tennessee. Các đảng viên Dân Chủ chọn Tướng George B. McClellan làm ứng viên Tổng Thống và Dân Biểu Geoge H. Pendleton của tiểu bang Ohio làm ứng viên Phó Tổng Thống. Ngoài ra còn có một nhóm thứ ba tự gọi là các đảng viên Cộng Hòa Cấp Tiến (Radical Republicans) , họ đề nghị Tướng John C. Fremont, nhưng ông này đã rút lui một tháng trước cuộc bầu cử.

Mùa hè năm đó, Tổng Thống Lincoln không đạt được nhiều ủng hộ. Ông Lincoln đã phải thú nhận nơi riêng tư vào tháng 8 rằng chính quyền của ông sẽ không được bầu lại. Nhưng các thắng lợi quân sự đã làm thay đổi niềm tin của dân chúng Hoa Kỳ thời bấy giờ. Ngày 5 tháng 8, Phó Đề Đốc David G. Farragut đã chiến thắng tại Vịnh Mobile trong khi tại phía nam, Tướng William T. Sherman đã chiếm được Chattanooga rồi tới ngày 2-9-1864, kéo quân tới Atlanta, Ga., và sau đó, băng qua tiểu bang Georgia, tới tận bờ biển là thành phố Savannah. Trên đường tiến quân, đạo quân Miền Bắc này đã đốt sạch các nhà máy, kho hàng, đã tàn phá các đường xe lửa và cầu cống. Sau khi tới được Savannah, đạo quân của Tướng Sherman lại quay lên mạn bắc, vượt qua các tiểu bang South Carolina và North Carolina, chủ đích phối hợp với đạo quân của Tướng Grant để đánh tới Richmond, Virginia.

Khi cuộc bầu cử Tổng Thống diễn ra, ông Lincoln đã đánh bại ông McClellan bằng 212/21 phiếu cử tri đoàn (electoral vote) và thắng hơn 400,000 phiếu bầu phổ thông (popular votes). Ngày 4 tháng 3 năm 1865, ông Abraham Lincoln ở tuổi 56, đã tuyên thệ nhậm chức Tổng Thống nhiệm kỳ 2 và nhiệm vụ của ông là đoàn kết lại quốc gia. Trong bài diễn văn kỳ này, Tổng Thống Lincoln đã trình bày rằng nhờ cuộc Nội Chiến, chế độ nô lệ mới được hủy bỏ và cả miền Bắc và miền Nam cùng nhau phải trả giá cho chế độ đó.

Vào mùa xuân năm 1865, đạo quân Miền Nam của Tướng Lee vừa thiếu người lại hết tiếp liệu trong khi các cánh quân của Tướng Grant và Tường Sherman đang đánh tới. Ngày 9 tháng 4 năm 1865, Tướng Robert E. Lee đã đầu hàng trước Tướng Ulysse S. Grant tại Tòa Án Appomattox của Virginia, rồi tới ngày 11-4, lá cờ Sao và Sọc của Hoa Kỳ đã được kéo lên tại Đồn Sumter, nơi mà cuộc Nội Chiến đã bắt đầu.

Cuộc Nội Chiến Nam-Bắc Mỹ là trận chiến tranh bi thảm và tàn phá nhất trong Lịch Sử Hoa Kỳ. Đã có vào khoảng 2.5 triệu người phục vụ trong lục quân và hải quân. Hơn 618,000 người Mỹ bị giết trên chiến trường hay bị chết vì thương tích. Nhưng mặc dù các tổn thất rất lớn lao về nhân mạng và tài sản, cuộc Nội Chiến đã giải quyết được hai vấn đề chính, đó là Liên Bang Hoa Kỳ được duy trì và chế độ Nô Lệ đã bị chấm dứt.


8- Tổng Thống Lincoln bị ám sát.

Nhân vì ăn mừng việc chấm dứt chiến tranh, Tổng Thống Lincoln cùng với vợ và 2 vị khách đã tới Rạp Hát Ford tại Thủ Đô Washington để tham dự buổi trình diễn vở hát “Người bà con Mỹ của chúng tôi” (Our American Cousin). Vài phút sau 10 giờ đêm, một tiếng súng đã nổ vang trong rạp hát đông người này. John Wilkes Booth là một trong các kịch sĩ danh tiếng nhất, đã dùng súng lục bắn từ phía sau vào đầu Tổng Thống Lincoln. Tên Booth đã ám hại Tổng Thống để trả thù cho phe Miền Nam. Tổng Thống Lincoln nằm bất tỉnh. Gia đình ông và một số nhân viên cao cấp vây quanh ông, tìm cách cứu chữa. Ông Abraham Lincoln qua đời lúc 7 giờ 22 sáng ngày 15-4-1865.

Khi còn sống, Tổng Thống Abraham Lincoln đã bị nhiều người chỉ trích cay đắng nhưng sau khi ông đã qua đời, mọi người kể cả các kẻ thù cũ của ông cũng phải ca ngợi tấm lòng tử tế và không vị kỷ của ông. Hàng triệu người đã gọi ông là “Người Cha Abraham” (Father Abraham). Chiếc xe lửa chở quan tài của ông Lincoln, khởi hành từ thủ đô Washington hướng về phía tây, đã làm đau lòng hàng trăm ngàn người đứng chờ đón tại hai bên đường. Ngày 4 tháng 5, thi hài của ông Abraham Lincoln được chôn cất tại Nghĩa Trang Oak Ridge ở Springfield, Illinois. Đài kỷ niệm trên ngôi mộ của ông Lincoln đã là nơi hành hương của dân chúng và nhiều người còn tưởng nhớ tới ông Abraham Lincoln tại các điểm kỷ niệm thuộc các tiểu bang Illinois, Kentucky, Indiana, và nhất là tại Gettysburg, Pa., và tại Thủ Đô Washington D.C.

Chỉ sau khi đã qua đời, Thế Giới mới nhận ra ông Abraham Lincoln là một bậc vĩ nhân. Ông Lincoln đã là một chính khách siêu đẳng, một nhà lý tưởng cương quyết, một con người kiên nhẫn và giàu lòng thương kẻ khác.

Ngày nay ở nhiều nơi trên thế giới, các học sinh, các sinh viên, các người tranh đấu cho Tự Do và Dân Chủ, tranh đấu chống lại các chế độ độc tài, đàn áp dân chúng, vẫn thường nhắc nhở tới câu nói bất hủ của ông Abraham Lincoln, vị Tổng Thống thứ 16 của Hoa Kỳ, đó là câu: “Chính quyền của Dân, do Dân, vì Dân sẽ không bao giờ suy tàn trên mặt đất”.


THƯ VIỆN QUỐC HỘI HOA KỲ-Phạm Văn Tuấn.



THƯ VIỆN QUỐC HỘI HOA KỲ

Phạm Văn Tuấn.

Thư Viện Quốc Hội của Hoa Kỳ là thư viện lớn nhất và có nhiều sách nhất thế giới. Thư viện này chứa khoảng 100 triệu đơn vị thư tịch, gồm 29 triệu cuốn sách mỏng và dày, hàng triệu bản thảo, biểu đồ, bản khắc, bản đồ, hình chụp, bản nhạc, bản ghi âm, bản ghi hình… Thư Viện Quốc Hội cũng sở hữu một bộ sưu tập lớn nhất về các sách cổ bản (incunabula) , hay 5,600 các sách được in trước năm 1501 của vùng Tây Bán Cầu, kể cả ấn bản Thánh Kinh do Gutenberg thực hiện và đây là cuốn sách quan trọng đầu tiên được in ấn tại thế giới tây phương.

Vào năm 2000, Thư Viện Quốc Hội (The Library of Congress) hưởng tròn 200 tuổi. Thư viện này là cơ sở văn hóa quốc gia lâu đời nhất của Hoa Kỳ, là nơi lưu trữ kiến thức rộng lớn nhất trên thế giới và là biểu hiện của sự kết nối thiết yếu giữa kiến thức và nền dân chủ. Nhà sáng lập ra Thư Viện Quốc Hội là ông Thomas Jefferson. Các sách thuộc thư viện riêng của ông Jefferson cùng với sự quan tâm rộng lớn về nhiều bộ môn học thuật, cùng với lý tưởng dân chủ của ông, đã là nền móng cho bản chất và các hoạt động của Thư viện Quốc Hội. Ông Thomas Jefferson đã tin tưởng rằng một chính quyền tự quản lệ thuộc vào các công dân có kiến thức, có tự do theo đuổi sự thật, biết tham dự vào các hoạt động của chính quyền, và chính sự hiểu biết cùngø các quyết định thực tế của mọi công dân đã làm hoạt động nền dân chủ. Lý tưởng về tự do, về cách theo đuổi sự thật mà không bị kiềm chế trong một xã hội được xây dựng trên kiến thức, đã là một phần di sản của ông Thomas Jefferson.

Thư Viện Quốc Hội chiếm 3 tòa kiến trúc trên đồi Capitol, gần Quốc Hội của Thủ Đô Hoa Kỳ. Tòa nhà Jefferson mở cửa vào năm 1897, là một dấu tích của nền văn hóa, văn minh của Hoa Kỳ. Tòa nhà John Adams bằng đá hoa trắng, được khánh thành vào năm 1939, là kiến trúc thứ hai rồi vào năm 1980, hoàn thành tòa nhà James Madison, một công trình xây dựng rộng lớn nhất. Ba kiến trúc này có diện tích mặt bằng tổng cộng là 29 mẫu (hectares). Mỗi năm có vào khoảng 2 triệu nhà khảo cứu, học giả và du khách tới thăm hoặc tìm kiếm tài liệu tại Thư Viện Quốc Hội, và còn có hàng triệu người khác ở xa xử dụng các dịch vụ mà thư viện này cung cấp.


1/ Thời kỳ ban đầu.

Ngay từ khởi đầu, Thư Viện Quốc Hội được thành lập để phục vụ cho Quốc Hội Hoa Kỳ, tức là ngành lập pháp của chính quyền. Vào ngày 24 tháng 4 năm 1800, Tổng Thống John Adams đã phê chuẩn một quyết định dành 5,000 mỹ kim để mua “các quyển sách có thể cần thiết cho Quốc Hội” và khi đó Thủ Đô Hoa Kỳ được dọn từ thành phố Philadelphia về thành phố Washington, là một địa điểm mới, đang được xây dựng. Các cuốn sách đầu tiên được đặt mua từ London đã tới nơi vào năm 1801 và được cất giữ tại Điện Capitol. Bộ sưu tập đầu tiên của Thư Viện gồm 740 cuốn và 3 bản đồ. Tới ngày 26-1-1802, Tổng Thống Thomas Jefferson đã phê chuẩn đạo luật đầu tiên xác định các vai trò và chức năng của Thư Viện Quốc Hội, đã ấn định chức vụ của vị quản thủ thư viện và cho Quốc Hội, qua Uûy Ban Liên Hợp về Thư Viện (Joint Committee on the Library) thẩm quyền xác định ngân quỹ, các quy luật và luật lệ. Như vậy ngay từ khởi đầu, Thư Viện Quốc Hội đã là một thư viện của ngành lập pháp với vị quản thủ do Tổng Thống bổ nhiệm, và Tổng Thống, Phó Tổng Thống có quyền mượn các sách từ thư viện này.

Tổng Thống Thomas Jefferson là môt nhân vật tin tưởng mãnh liệt rằng sức mạnh của trí tuệ có thể tạo nên một xã hội dân chủ và tự do. Là một nhân vật không thể sống mà thiếu sách, ông Thomas Jefferson rất quan tâm tới các bộ sách của Thư Viện Quốc Hội và trong nhiệm kỳ từ năm 1801 tới năm 1809, chính Tổng Thống Thomas Jefferson đã từng đề nghị mua các sách cho thư viện và đã bổ nhiệm 2 vị quản thủ thư viện. Năm 1814, quân đội Anh đã đánh chiếm Thủ Đô Washington, đốt cháy Điện Capitol kể cả 3,000 cuốn sách của Thư Viện Quốc Hội. Vì lý do này, ông Jefferson khi đó đã hồi hưu, đề nghị bán lại thư viện riêng của mình cho Quốc Hội Hoa Kỳ để bắt đầu lại Thư Viện Quốc Hội. Vào thời bấy giờ, thư viện của cựu Tổng Thống Jefferson có các sách quý nhất với số lượng nhiều nhất. Quốc Hội Hoa Kỳ đã chi ra 23,940 mỹ kim để mua lại 6,487 cuốn sách vào năm 1815.

Số sách mà cựu Tổng Thống Jefferson bán lại cho Quốc Hội Hoa Kỳ không những lớn gấp hai lần những sách đã bị thiêu hủy vì chiến tranh mà còn thuộc về các phạm vi học thuật vượt ra ngoài những bộ môn luật pháp, kinh tế và lịch sử mà thư viện lập pháp đó đã từng chủ trương. Ông Thomas Jefferson là một nhân vật có tầm hiểu biết bách khoa nên thư viện riêng của ông đã sưu tầm các tác phẩm về nghệ thuật, kiến trúc, văn chương, khoa học, địa dư, ngoài ra còn các sách viết bằng các ngoại ngữ La Tinh, Hy Lạp, Pháp, Đức, Tây Ban Nha và một bộ sách gồm 3 quyển viết về thống kê bằng tiếng Nga.
Sở dĩ ông Thomas Jefferson quan tâm về nhiều ngoại ngữ vì ông tin tưởng rằng để có thể quản trị đất nước theo tinh thần dân chủ, ngành lập pháp rất cần tới nhiều tư tưởng và thông tin về mọi môn học, viết bằng nhiều ngoại ngữ. Ông Thomas Jefferson đã từng nói : “không có môn học nào mà một thành viên của Quốc Hội sẽ không có dịp cần tới”.

Việc Thư Viện Quốc Hội mua lại thư viện riêng của cựu Tổng Thống Thomas Jefferson đã là căn bản cho việc bành trướng các chức năng của thư viện. Quan niệm toàn diện, lòng tin tưởng vào sức mạnh của kiến thức, vào sự liên hệ trực tiếp giữa kiến thức và nền dân chủ của ông Thomas Jefferson đã là nền móng triết học của Thư Viện Quốc Hội, chỉ hướng cho thư viện trong việc sưu tập các sách vở và tài liệu cũng như thực hiện các dịch vụ. Ngoài ra, vào thời kỳ bấy giờ, nhiều người Mỹ đã nhận thức được sự lệ thuộc văn hóa của Hoa Kỳ vào nước Anh và châu Âu nên đã lo ngại và muốn thiết lập nên các truyền thống và định chế riêng cho vùng Bắc Mỹ. Bài xã luận phổ biến vào ngày 15-7-1815 trên tờ nhật báo “Thông tin quốc gia” (National Intelligencer) đã viết : “mọi quốc gia văn minh của châu Âu đều có các thư viện quốc gia. Tại quốc gia có trình độ thông minh phổ biến như Hoa Kỳ thì Thư Viện Quốc Hội phải trở nên một kho lưu trữ lớn lao nền văn chương của thế giới”.

Trong 3 thập niên kể từ 1802, Thư Viện Quốc Hội đã phục vụ cho cả ngành Tư Pháp và các cơ quan khác của chính quyền. Tới năm 1832, một phân khoa Luật (law department) của thư viện được chấp thuận với số tiền dành riêng để mua các sách Luật học, đặt dưới sự chỉ huy của vị chánh án tối cao.

Trong khi Thư Viện Quốc Hội bắt đầu hoạt động thì Viện Smithsonian lại mong trở thành một thư viện quốc gia của Hoa Kỳ. Vào đầu thập niên năm 1850, vị quản thủ thư viện vừa đa tài,vừa hăng hái là ông Charles Coffin Jewett, đang cố gắng hướng Viện Smithsonian thành một trung tâm thư tịch có tầm vóc quốc gia (national bibliographic center). Tuy nhiên, các cố gắng của ông Jewett đã bị vị Giám Đốc Viện là ông Joseph Henry phản đối, vì cho rằng Viện Smithsonian phải chuyên chú vào khảo cứu khoa học và xuất bản. Thực ra, ông Joseph Henry đã tin rằng Thư Viện Quốc Hội nên là nền móng thích hợp để phát triển thành một thư viện quốc gia, để sưu tập các bộ sách giá trị, xứng đáng với một chính quyền lệ thuộc vào sự khôn ngoan của nhân dân. Ngày 10-7-1854, ông Joseph Henry đã bãi chức ông Jewett, chấm dứt mọi hy vọng Viện Smithsonian có thể trở nên một thư viện quốc gia và hơn nữa, 12 năm sau, ông Henry còn đồng ý chuyển toàn bộ 40,000 cuốn sách của Viện Smithsonian cho Thư Viện Quốc Hội.

Trong các thập niên 1830 và 1840, Thư Viện Quốc Hội bắt đầu phân phối các tài liệu công (public documents) cho các cơ quan trên khắp đất nước Hoa Kỳ và trao đổi sách báo và tài liệu với các cơ quan nước ngoài để có các thông tin dùng cho chính phủ Mỹ. Thập niên 1850 là thời kỳ bất lợi cho Thư Viện Quốc Hội. Sự phân chia Nam-Bắc đã làm yếu đi mọi cơ sở của quốc gia và vào năm 1851, trận hỏa hoạn tai hại nhất trong lịch sử của thư viện đã đốt cháy 2 phần 3 tổng số 55,000 cuốn sách, gồm cả các sách của Thư Viện Jefferson. Nhưng rồi Quốc Hội Hoa Kỳ đã đáp ứng vào năm 1852 một cách nhanh chóng và rộng lượng bằng cách cấp cho Thư Viện Quốc Hội 168,700 Mỹ kim để tu sửa các căn phòng trong Điện Capitol và mua lại các sách đã bị thiệt hại. Nhưng vào thời kỳ này, chính sách bảo thủ do vị quản thủ thư viện là ông John Silva Meehan và Thượng Nghị Sĩ James A. Pearce thuộc tiểu bang Maryland đã giới hạn các hoạt động bành trướng của Thư Viện Quốc Hội.

Vào năm 1857, một quyết định của Quốc Hội đã chuyển trách nhiệm phân phối tài liệu công cho Bộ Nội Vụ và giao trách nhiệm trao đổi sách báo và tài liệu ngoại quốc cho Bộ Ngoại Giao. Ngoài ra, kể từ năm 1859, mọi hoạt động tác quyền đều phải tập trung về Cơ Quan Đăng Kiểm Sáng Chế (the Patent Office), có nghĩa là Thư Viện Quốc Hội và Viện Smithsonian không còn nhận được nạp bản xin tác quyền của các sách in và tập sách mỏng, một việc làm thuộc Thư Viện này kể từ năm 1846.


2/ Thời kỳ phát triển.

Khi ông Abraham Lincoln lên làm Tổng Thống năm 1861, ông đã thay thế vị quản thủ thư viện cũ Meehan bằng ông John G. Stephenson, một bác sĩ gốc tiểu bang Indiana. Nhiệm kỳ 4 năm tại Thư viện Quốc Hội của ông Stephenson không có gì đặc biệt và Thư Viện Quốc Hội vào thời kỳ này chỉ có 7 nhân viên với 80,000 cuốn sách. Thế nhưng tinh thần Jefferson về phát triển văn hóa đã được vị quản thủ thư viện kế tiếp thực hiện, đó là ông Ainsworth Rand Spofford, trước kia đã từng là một nhà báo và cũng là một chủ tiệm sách tại thành phố Cincinnati.Trong 2 năm từ 1865 tới 1867, ông Spofford đã hoàn tất được nhiệm vụ liên kết các chức năng lập pháp và quốc gia của Thư Viện Quốc Hội bằng 4 công trình phát triển : (1) cả 2 đảng Cộng Hòa và Dân chủ đều yểm trợ Thư Viện Quốc Hội vì đây là thư viện mang tính lập pháp và có tầm vóc quốc gia, (2) công cuộc sưu tầm về châu Mỹ (Americana) được bắt đầu, (3) xây dựng kiến trúc thư viện giống như đài kỷ niệm quốc gia, (4) văn phòng của vị quản thủ thư viện có đủ tính cách độc lập và quyền lực. Nhờ sự kiên nhẫn, tài khéo léo và mối quan tâm của ông Spofford, Thư Viện Quốc Hội đã nắm giữ một vai trò có tầm vóc quốc gia rồi từ đó, các vị quản thủ kế tiếp đã làm phát triển tinh thần văn hóa căn bản theo đúng niềm tin tưởng của ông Thomas Jefferson, tức là một hình thức chính quyền dân chủ lệ thuộc vào căn bản thông tin và hiểu biết của người dân.

Ngay sau khi cuộc Nội Chiến Nam Bắc Mỹ chấm dứt, xã hội Hoa Kỳ bắt đầu thay đổi với sự bành trướng của chính quyền liên bang. Ông Spofford đã lợi dụng thời điểm thuận lợi về chính trị và văn hóa này để phát triển Thư Viện Quốc Hội. Ông luôn luôn tin tưởng rằng Thư Viện Quốc Hội phải là một thư viện quốc gia và ông đã thuyết phục được Uûy Ban Liên Hợp về Thư Viện (the Joint Committee on the Library) và các vị nghị viên Quốc Hội, chấp thuận 6 nghị định mang tính lập pháp : (1) một ngân khoản phát triển thư viện trong Điện Capitol được chấp thuận vào đầu năm 1865, (2) tu chính án về tác quyền (the copyright amendment) của năm 1865 đã xác định các nạp bản phải gửi tới Thư Viện Quốc Hội, (3) văn khố (deposit) của Viện Smithsonian gồm rất nhiều tài liệu khoa học phải được chuyển qua Thư Viện Quốc Hội vào năm 1866, (4) Thư Viện Quốc Hội đã bỏ ra số tiền 100,000 mỹ kim để mua lại thư viện tư của nhà sử học và lưu trữ văn khố Peter Force (archivist), nhờ đó thiết lập nên nền móng của công cuộc sưu tầm về châu Mỹ (Americana) và các sưu tập cổ bản (incunabula collections) , (5) nghị định trao đổi tài liệu quốc tế đã cho phép Thư Viện Quốc Hội sưu tập các tài liệu công ngoại quốc, (6) đạo luật về tác quyền năm 1870 (the copyright act of 1870) đã cho Thư Viện Quốc Hội quyền nhận đăng ký tác quyền và mọi hoạt động lưu trữ văn khố.

Tại Hoa Kỳ, tác quyền được chấp thuận từ năm 1790 nhưng sự bảo vệ tác quyền chỉ được thi hành nghiêm chỉnh kể từ năm 1846 khi Viện Smithsonian và Thư Viện Quốc Hội có được đặc quyền này. Thư Viện Quốc Hội do đó đã nhận được một ấn bản để lưu trữ từ năm 1846 tới năm 1859, rồi nhờ ông Spofford, mọi công tác đăng ký và lưu trữ văn khố đều tập trung về Thư Viện Quốc Hội, không còn thuộc chức năng của Cơ Quan Đăng Kiểm Sáng Chế (the Patent Office) và các tòa án địa phương. Sau đó, đạo luật 1870 đã cho phép Thư Viện Quốc Hội tiếp tục phát triển các bộ sưu tập về châu Mỹ và quy định rằng Thư Viện này nhận 2 nạp bản để đăng kiểm về các loại sách dày, sách mỏng, bản đồ, bản in (print), hình chụp, bản nhạc. Sau đó vào năm 1891, đạo luật quốc tế về tác quyền (the international copyright law of 1891) càng làm cho Thư Viện Quốc Hội thêm quyền lực.

Theo thống kê của Bộ Giáo Dục Hoa Kỳ vào năm 1876, tại Hoa Kỳ chỉ có 2 thư viện lớn nhất là Thư Viện Quốc Hội và Thư Viện Công Lập Boston (the Boston Public Library), có vào khoảng 300,000 cuốn sách. Tới năm 1897, Thư Viện Quốc Hội đã dọn qua một tòa nhà mới nhờ đó đứng đầu về số lượng sách và các đơn vị thư tịch khác. Thư Viện này đã có số sách lên tới 840,000 cuốn với 40 phần trăm nhờ vào công tác nạp bản, còn về các bản đồ, bản nhạc, đồ họa (graphic arts), 90 phần trăm tài liệu do việc nạp lưu trữ. Thư Viện Quốc Hội còn có bộ sưu tập Nhiếp Aûnh do Mathew Brady thực hiện cùng với toán nhiếp ảnh gia của ông suốt trong thời kỳ Nội Chiến.

Trong các năm từ 1865 tới 1897, công tác nạp bản đã không những là nguồn cung cấp các sách in và tài liệu cho Thư Viện Quốc Hội mà còn ảnh hưởng đến việc xây dựng các tòa nhà lưu trữ. Năm 1871, ông Spofford trong bản báo cáo hàng năm, đã đề cập tới một tòa nhà lớn biệt lập khác. Ông đã vận động rất nhiềù chính khách và các nhân vật có thế lực : thượng nghị sĩ, dân biểu, các nhà lãnh đạo văn hóa, các nhà báo và ngay cả Tổng Thống. Hai vị thượng nghị sĩ và cũng là bạn thân của ông Spofford là các ông Justin S. Morrill, thuộc tiểu bang Vermont và Daniel W. Voorhees, thuộc tiểu bang Inidana, đã hết lòng yểm trợ ông Spofford. Tháng 3 năm 1879, ông Morrill đã đọc một bài diễn văn, cổ động cho quan niệm về thư viện quốc gia của ông Spofford và đề cập tới sự cần thiết của một tòa nhà thật lớn. Thượng nghị sĩ Voorhees, chủ tịch của Uûy Ban Liên Hợp về Thư Viện (the Joint Committee on the Library) còn mô tả niềm tin của Tổng Thống Thomas Jefferson về giá trị tinh thần rất cần thiết của các sách vở và các hoạt động trí tuệ : “Kiến thức là sức mạnh, sức mạnh để duy trì một chính quyền tự do và để bảo vệ Tự Do theo Hiến Pháp”. Nhờ công sức của các ông Morrill, Voorhees và Spofford, một tòa dinh thư mới được khởi công xây cất năm 1889 và mở cửa cho dân chúng xử dụng vào năm 1897, đó là Tòa Nhà Thomas Jefferson, một đài kỷ niệm quốc gia có kiến trúc theo kiểu Phục Hưng Y,Ù với Phòng Đọc Sách Chính ở trung tâm, với các trang trí rực rỡ tại khắp nơi, là biểu tượng của tính phổ cập về kiến thức.

Ông Spofford còn bắt đầu một truyền thống của thư viện, đó là mở rộng công tác phục vụ dân chúng. Từ năm 1865, ông đã tăng thêm giờ hoạt động nhờ đó Thư Viện Quốc Hội đã mở cửa vào mọi ngày trong suốt năm. Ông còn cổ võ cho việc phục vụ thư viện vào ban đêm nhưng không được Quốc Hội chấp thuận, cho tới năm 1898. Năm 1870, ông Spofford khởi đầu chính sách cho mượn các sách đọc nếu người đọc sách chịu đặt cọc một số tiền và phương cách này được duy trì tới năm 1894. Có vài sự việc mà ông Spofford đã không tiên liệu, là Thư Viện Quốc Hội sẽ trở nên trung tâm của mạng lưới các thư viện của Hoa Kỳ và là tụ điểm, cung cấp cho các thư viện khác các dịch vụ về tổng kê (cataloging) và thư tịch (bibliographic) .

Năm 1896, trước khi dọn qua địa điểm mới, Ủy Ban Liên Hợp Thư Viện (the Joint Library Committee) đã nghe điều tràân về các tình trạng và cách tổ chức lại Thư Viện Quốc Hội. Cuộc điều trần này đã cung cấp cho Quốc Hội từng chi tiết về lịch sử và các chức năng hiện tại của Thư Viện Quốc Hội cùng các nhiệm vụ mới mà Thư Viện này sẽ thực hiện khi có cơ sở mới. Lúc bấy giờ, Tổng Hội Thư Viện Hoa Kỳ (the American Library Association) đã cử đi họp 6 vị, gồm cả các ông Herbert Putnam thuộc Thư Viện Công Lập Boston và về sau là nhà quản thủ Thư Viện Quốc Hội, và ông Melvil Dewey thuộc Thư Viện New York. Các nghị viên Quốc Hội đã nghe 2 ông Putnam và Dewey trình bày rằng dịch vụ có tầm vóc quốc gia của Thư Viện Quốc Hội cần phải được bành trướng. Ông Dewey nhận định rằng Thư Viện Quốc Hội phải là một trung tâm mang tầm vóc quốc gia thực sự, là trung tâm để các thư viện rải rác trên đất nước Hoa Kỳ hướng về, xin chỉ dẫn, giúp đỡ và đây là cách tiết kiệm nhất và hữu hiệu nhất.

Cuộc điều trần về thư viện năm 1896 đã ảnh hưởng lớn lao tới việc tổ chức lại Thư Viện Quốc Hội. Do Đạo Luật Ngân Khoản Hành Pháp (the Legislative Appropriations Act) được chấp thuận vào ngày 19-2-1897 và có hiệu lực từ ngày 1-7-1897, Thư Viện Quốc Hội có từ 42 người được tăng lên 108 nhân viên, và các đơn vị quản trị mới được thiết lập tại các phòng đọc sách cũng như tại các phân khoa ấn loát, bản đồ và biểu đồ, tổng kê, tác quyền, thủ bản (manuscript) , âm nhạc và ấn phẩm định kỳ (periodicals) .

Trách nhiệm điều hành các công tác quan trọng của Thư Viện Quốc Hội, theo đúng các quy luật và luật lệ về thư viện, đã khiến cho chức vụ của vị quản thủ Thư Viện Quốc Hội phải được chỉ định do Tổng Thống và được Quốc Hội phê chuẩn. Năm 1897, Tổng Thống William McKinley đã chỉ định một vị quản thủ thư viện mới, để lo dọn thư viện qua Tòa Nhà Thomas Jefferson và lo việc tổ chức, sắp xếp lại. Vì vậy, ông John Russell Young đã nhậm chức từ ngày 1-7-1897 cho tới khi ông qua đời vào tháng 1 năm 1899. Nguyên là nhà báo và nhà ngoại giao, ông Young là một quản trị gia khéo léo, đã bành trướng tầm hoạt động của Thư Viện Quốc Hội, mở rộng các bộ sưu tập của thư viện. Tháng 2 năm 1898, ông Young đã gửi tới các tòa đại sứ và lãnh sự Hoa Kỳ trên khắp thế giới, lời yêu cầu họ cung cấp cho “thư viện quốc gia” các nhật báo, tạp chí, tập sách, tài liệu của các quốc gia khác nhau, cùng “tất cả những gì đóng góp vào kiến thức của nhân loại”, nhờ thế vào cuối năm 1898, đã có nhiều sách báo và tài liệu gửi về từ 11 tòa đại sứ và 7 tòa tổng lãnh sự.

Ông John Russell Young còn sáng suốt bổ nhiệm các ông Thorvald Solberg, nhân viên đăng kiểm đầu tiên về tác quyền và các ông J.C.M.Hanson và Charles Martel, các tổng kê viên, các vị này bắt đầu một công tác mới là xếp loại các bộ sưu tập mà trong gần một thế kỷ, đã theo hệ thống phân loại của cựu Tổng Thống Thomas Jefferson. Là một nhân vật không có đầu óc đảng phái, ông John Russell Young đã thành công trong việc đưa Thư Viện Quốc Hội ra khỏi thế giới chính trị của nước Mỹ. Và việc làm nổi tiếng nhất của ông Young là khánh thành dịch vụ thư viện dành cho người mù và người tàn tật. Vào tháng 11 năm 1897, Thư Viện Quốc Hội bắt đầu một chương trình đọc sách tại “khu dành cho người khiếm thị” cùng với phần thư viện riêng dành cho những người thiệt thòi này, rồi tới năm 1913, Quốc Hội Hoa Kỳ đã điều hành nhà in các ấn bản chữ nổi.


3/ Thư Viện Quốc Hội qua Thế Kỷ 20.

Người kế nghiệp ông Young là ông Herbert Putnam, được Tổng Thống William McKinley bổ nhiệm vào mùa xuân năm 1899. Trong suốt 40 năm trường, ông Putnam đã làm bành trướng dịch vụ thư viện tới mọi người dân Mỹ. Ông đã nói về đặc tính của Thư Viện Quốc Hội là “Tầm vóc quốc tế, Dịch vụ quốc gia” (Universal in Scope, National in Service). Nhờ ông Putnam, Thư viện Quốc Hội đã phục vụ tích cực các học giả, công chúng và các thư viện khác.

Từ thập niên 1870, các trường chuyên nghiệp và đại học tại Hoa Kỳ đã phát triển, cung cấp nhiều trình độ học vấn cao cấp, đồng thời đã xuất hiện các hiệp hội chuyên môn. Chính quyền liên bang từ thời kỳ này phải yểm trợ các hoạt động về giáo dục, khoa học, nghiên cứu, cho nên năm 1900 là năm bắt đầu của thời đại các thư viện cỡ lớn, với các giá sách khổng lồ, các phương pháp tổng kê và phân loại theo khoa hoc cùng với nhóm chuyên viên toàn thời gian.

Vào cuối năm 1901, Thư Viện Quốc Hội là thư viện đầu tiên của Hoa Kỳ có một triệu cuốn sách cùng với các bộ sưu tập giá trị, đã trở nên thư viện dẫn đầu các thư viện Mỹ. Ong Putnam cũng cho thiết lập vào năm 1901 hệ thống lưu hành sách giữa các thư viện (the inter-library loan system), và các phiếu thư mục được in sẵn (printed catalog cards) bắt đầu được Thư Viện Quốc Hội bán ra và phân phối. Kể từ nay, các sách không còn bị giữ trong phạm vi thư viện nữa, mà còn được gửi ra bên ngoài để mọi người xử dụng. Để biện hộ cho công việc này, vị quản thủ Thư Viện Quốc Hội đã nói : “một cuốn sách được xử dụng, là đã làm tròn nhiệm vụ cao cả của nó, còn hơn là một cuốn sách chỉ được để dành vì sẽ dùng trong tương lai”. Các việc làm của ông Putnam đã khuyến khích sự cộng tác giưã các học giả và các thư viện, thiết lập nên các tiêu chuẩn thư tịch (bibliographic standards), giúp công vào các hoạt động trí tuệ tại Hoa Kỳ, làm “dân chủ hóa” kiến thức trên bình diện quốc gia và quốc tế và nhờ đó, đã khiến cho Thư Viện Quốc Hội có một địa vị lãnh đạo trong các viện nghiên cứu của thế giới.

Các tài liệu hữu ích của Hoa Kỳ dùng vào nhiều công trình nghiên cứu lịch sử, được ông Putnam làm phát triển qua cách cung cấp các văn bản gốc. Năm 1903, ông Putnam đã đề nghị với Tổng Thống Theodore Roosevelt, nguyên là một người bạn và cũng là một vị yểm trợ cho Thư Viện Quốc Hội, ban hành một sắc lệnh di chuyển từ Văn Khố của Bộ Ngoại Giao nhiều tư liệu của các vị lập quốc Hoa Kỳ, kể cả của các cựu tổng thống George Washington, Thomas Jefferson và James Madison, qua phân bộ thủ bản (manuscript division) của Thư Viện Quốc Hội. Từ năm 1904, thư viện này cũng bắt đầu phổ biến các bản văn lịch sử quan trọng, chẳng hạn như các Tập San của Quốc Hội Lục Địa (the Journals of the Continental Congress) và ông Putnam cho rằng vai trò của thư viện là bảo vệ các nguồn tài liệu gốc của lịch sử.

Theo đúng chủ trương của ông Thomas Jefferson là không một bộ môn học thuật nào ở bên ngoài sự quan tâm của Quốc Hội hay dân chúng Hoa Kỳ, ông Putnam còn đặc biệt nhìn xa trông rộng trong việc thu lượm các tài liệu nghiên cứu về các quốc gia và các nền văn hóa khác. Ông đã không bỏ lỡ một cơ hội nào mà không mua sắm các bộ tài liệu cần thiết cho việc khảo cứu quan trọng về sau. Năm 1906, bộ sách nổi danh gồm 8,000 cuốn về văn chương Nga của ông G.V.Yudin ở Siberia đã được mua cho Thư Viện Quốc Hội và ông Putnam còn cử một nhân viên qua nước Nga để trông coi việc đóng thùng và chuyên chở. Tới năm 1908, bộ sưu tập Schatz về nhạc kịch thuở ban đầu (opera librettos) được mua từ nước Đức. Ngoài ra còn bộ Hebraica và các sách quý của Trung Hoa, Nhật Bản. . .

Để yểm trợ cho ngành Lập Pháp, Sở Dịch Vụ Tham Khảo Lập Pháp (the Legislative Reference Service) được thành lập vào năm 1914 như là một đơn vị hành chính riêng biệt của Thư viện Quốc Hội, bởi vì vào giai đoạn này, nhiều nhà trí thức đã vận động việc dùng các thông tin một cách khoa học để giải quyết nhiều vấn đề. Trong bản điều trần trước Thượng Viện Hoa Kỳ vào năm 1913, ông Putnam đã trình bày về chức năng của Sở Dịch Vụ Tham Khảo là chọn lựa ra trong số 2 triệu cuốn sách mỏng và dày, các tài liệu mà Quốc Hội có thể cần tới. Nói một cách khác, Thư Viện Quốc Hội sẽ cung cấp cho Quốc Hội một dịch vụ về khảo cứu với các đề tài như hệ thống ngân quỹ quốc gia, các đóng góp quỹ tranh cử, chính quyền Phi Luật Tân, trợ cấp của liên bang trong việc làm đường lộ, vấn đề di dân, vấn đề hàng hải thương thuyền . . .

Ông Herbert Putnam còn hướng Thư Viện Quốc Hội về các định hướng khác. Nhờ các vận dộng của ông, đạo luật về Uûy Ban Ngân Khoản Uûy Tặng năm 1925 (the Trust Fund Board of 1925) được ban hành, cho phép Thư Viện Quốc Hội nhận vào các quà tặng và di sản từ các tư nhân, tạo nên một vai trò văn hóa mới của Thư Viện. Khởi đầu, một tư nhân là bà Elizabeth Sprague Coolidge đề nghị ủy tặng cho Thư Viện Quốc Hội một món tiền lớn để làm phát triển kiến thức và trình độ thưởng thức âm nhạc. Bà Coolidge cũng tặng tiền để thiết lập nên một sảnh đường hòa nhạc (concert hall) bên trong tòa nhà của Thư Viện Quốc Hội, trợ cấp cho các công trình mới về âm nhạc và trả thù lao trọng hậu cho vị trưởng khoa âm nhạc của Thư Viện. Từ thời gian này, các nhân vật lỗi lạc cũng theo bước của bà Coolidge, trở nên ân nhân của Thư Viện Quốc Hội, như các vị James B. Wilbur, Archer Huntington, John D. Rockefeller, Gertrude Clarke Whittall. Đăc biệt bà Gertrude Clarke Whittall còn tặng cho Thư Viện 5 cây vĩ cầm Stradivari vô giá và một ngân khoản về hòa nhạc, giúp cho Thư Viện Quốc Hội trở thành một nơi bảo trợ các nghệ thuật, làm đúng theo ước nguyện của ông Thomas Jefferson, một chính trị gia xuất sắc và cũng là một nhạc sĩ vĩ cầm và hồ cầm (cello).

Cũng nhờ có Ngân Quỹ Uûy Tặng (the Trust Fund), Thư Viện Quốc Hội có thể lập nên cơ sở cho các học giả và các nhà tham vấn về thơ phú. Ông Putnam còn cẩn thận xác định cách xử dụng ngân khoản để bổ túc, mà không thay thế số tiền từ chính quyền dành cho Thư Viện. Ông Putnam đã tiên liệu vai trò văn hóa và giáo dục của Thư Viện và lập nên một bộ phận riêng, thuộc tư nhân để yểm trợ cho Thư Viện.

Do lòng mong muốn Thư Viện Quốc Hội trở thành chiếc nôi của nền dân chủ theo lý tưởng của ông Thomas Jefferson, năm 1921, ông Putnam còn ra lệnh cho 2 văn bản quý giá nhất của Hoa Kỳ là “Bản Tuyên Ngôn Độc Lập” và “Bản Hiến Pháp Hoa Kỳ” chuyển về lưu giữ và trưng bày tại Đại Sảnh (Great Hall) của Thư Viện. Trong buổi lễ chuyển giao này, có tham dự Tổng Thống Calvin Coolidge và các nhân vật cao cấp khác. Thư Viện Quốc Hội đã bảo quản 2 tài liệu lịch sử đó cho tới năm 1952 mới chuyển lại cho Cơ Quan Văn Khố Quốc Gia (the National Archives), tuy nhiên vẫn còn sở hữu bản nháp viết tay “Tuyên Ngôn Độc Lập” của ông Thomas Jefferson. Nhà sử học James Truslow Adams trong cuốn sách “Thiên Anh Hùng Ca của Hoa Kỳ” (the Epic of America) xuất bản năm 1931, đã biết rằng Thư Viện Quốc Hội là một biểu tượng của nền dân chủ, đã được tạo lập do người dân và hoạt động vì người dân.

Trong 40 năm giữ trọng trách quản thủ thư viện, ông Putnam đã làm phát triển các bộ sưu tập cùng các dịch vụ thư viện khiến cho các tòa nhà đọc sách và chứa sách cần tới thêm diện tích. Nghị định cho phép mua thêm đất đai để xây dựng nên một kiến trúc mới được chấp thuận năm 1928 và Tòa Nhà John Adams được khởi công vào năm 1930, nhưng vì các năm suy thoái kinh tế, công trình xây cất bị đình hõan và chỉ hoàn thành vào năm 1938 rồi năm sau, 1939, mới mở cửa tiếp đón dân chúng.

Người kế nghiệp ông Putnam là nhà văn kiêm nhà thơ Archibal MacLeish, được Tổng Thống Franklin Roosevelt bổ nhiệm năm 1939. Ông MacLeish đã làm quản thủ thư viện cho tới cuối năm 1944, khi ông trở nên Thứ Trưởng Ngoại Giao. Là một nhân vật biện hộ cho việc tham dự của Hoa Kỳ vào Thế Chiến II, ông MacLeish đã dùng văn phòng Thư Viện Quốc Hội để nói về nền dân chủ, hô hào các nhà trí thức phải bảo vệ nền văn hóa Mỹ trước sự đe dọa của chế độ độc tài. Ông MacLeish là vị quản thủ nổi rõ nhất trong lịch sử của thư viện này.

Ông MacLeish cũng yêu cầu nghệ sĩ Ezra Winter trang hoàng 4 bức tường của Phòng Đọc Sách Jefferson theo các chủ đề là Tự Do, Lao Động, Giáo Dục, “thế hệ đang sống” và chính quyền Dân Chủ. Tại “phần kiến trúc dân chủ” (the democracy alcove) của Phòng Đọc Sách chính, các nhà khảo cứu thấy có trưng bày các văn bản cổ điển của truyền thống Mỹ, gồm Bản Tuyên Ngôn Độc Lập, Bản Hiến Pháp, Các Luận Văn Liên Bang và các bài viết của nhiều chính khách Hoa Kỳ.

Năm 1943, Thư Viện Quốc Hội tổ chức lễ tưởng niệm 200 năm sinh của ông Thomas Jefferson. Một thư mục chú giải liệt kê các sách của thư viện riêng của ông Jefferson đã được nhà thư tịch học E.Millicent Sowerby biên soạn và phổ biến bằng 5 cuốn, xuất bản từ năm 1952 tới năm 1959, đồng thời Thư Viện Quốc Hội cũng bắt đầu thực hiện vi phim (microfilming) bộ sưu tập các văn bản của ông Thomas Jefferson. Vị quản thủ thư viện MacLeish còn tổ chức lại cách quản trị hành chánh, một việc làm hữu hiệu trong 3 thập niên, thiết lập các liên lạc giữa các văn sĩ và học giả Mỹ, tạo nên ngành tham vấn về thơ phú (consultantship in poetry) và các chương trình học bổng cho các học giả trẻ. Thư Viện Quốc Hội vào lúc này đã xác định chủ trương “sưu tập mọi hồ sơ được ghi chép của các tổ chức và nhân vật nào có các công trình mà nhân dân Hoa Kỳ quan tâm tới nhất”.


4/ Thư Viện Quốc Hội sau Thế Chiến II.

Do ông MacLeish từ chức vào năm 1944 nên năm sau, Tổng Thống Harry Truman đã bổ nhiệm vị phụ tá quản thủ là ông Luther H. Evans, một nhà khoa học chính trị. Ông Evans đã phục vụ Thư Viện Quốc Hội tới năm 1953. Vào giai đoạn này, ảnh hưởng của Thế Chiến II đã cho thấy mọi nơi trên trái đất không còn xa lạ đối với người Mỹ. Ông Evans đã diễn tả sự cần thiết của thật nhiều tài liệu nghiên cứu về các quốc gia khác, cho nên trong các năm này, đã phát triển các dịch vụ thu mua, tổng kê và thư tịch. Ông Evans cũng chủ trương rằng Thư Viện Quốc Hội phải phục vụ đắc lực các thư viện khác và các kế hoạch hợp tác để thu mua và tổng kê các tài liệu đã được thực hiện trên bình diện vùng và toàn quốc. Thư Viện Quốc Hội cũng tăng cường các hoạt động về tác quyền và tự do trí tuệ.

Trong các đóng góp của ông Evans vào Thư Viện Quôc Hội còn có kế hoạch thư viện quốc tế và cộng tác văn hóa quốc tế. Năm 1945, cùng với giám đốc thu mua Verner W. Clapp, ông Evans tổ chức Đoàn Công Tác Thư Viện Quốc Hội tại châu Au (the Library of Congress Mission in Europe) để tìm mua các sách báo xuất bản tại châu Âu cho Thư Viện Quốc Hội và các thư viện khác, và từ đây ra đời các hợp đồng mua sách tự động (automatic book purchase agreements) cùng các giao ước trao đổi các tài liệu chính thức. Năm 1945, khi Liên Hợp Quốc bàn thảo tại San Francisco, Thư Viện Quốc Hội cũng lập nên tại thành phố đó một thư viện tham khảo để giúp đỡ các vị tham dự hội nghị. Năm 1947, Đoàn Công Tác Thư Viện Quốc Hội tại Nhật Bản đã giúp đỡ nước này thiết lập nên Thư Viện Quốc Hội Nhật (the National Diet Library). Ngoài ra ông Evans còn chủ trương hoàn trả nhiều thủ bản quan trọng về các quốc gia gốc.

Người kế nghiệp ông Luther H. Evans là vị giám đốc Thư Viện Công Lập của thành phố Cleveland, ông L.Quincy Mumford, được Tổng Thống Dwight D.Eisenhower bổ nhiệm năm 1954. Ông Mumford khởi đầu kế hoạch xây dựng Tòa Nhà James Madison năm 1957 và làm phát triển thư viện trên các bình diện quốc gia và quốc tế. Năm 1958, do đạo luật Trợ Giúp và Phát Triển Mậu Dịch Nông Nghiệp năm 1954 (the Agriculture Trade Development and Assistance Act of 1954), Quốc Hội Hoa Kỳ đã cho phép Thư Viện dùng tiền của chính phủ Mỹ tại nước ngoài để mua các sách báo, nhờ đó các trung tâm thu mua được đặt đầu tiên tại 2 thành phố New Delhi và Cairo. Đạo luật giáo dục cao cấp được Tổng Thống Lyndon B.Johnson phê chuẩn năm 1965, đã giúp cho Thư Viện Quốc Hội có được các tài liệu giá trị xuất bản trên khắp thế giới, lập nên các thông tin tổng kê (cataloging information) dùng cho mọi tài liệu, và cố gắng mới của Thư Viện Quốc Hội là chương trình quốc gia thu mua và tổng kê NPAC (the National Program for Acquisitions and Cataloging). Văn phòng NPAC đầu tiên được mở của tại thành phố London năm 1966 rồi từ đó, Thư Viện Quốc Hội đã có 6 văn phòng hải ngoại, liên lạc với các nhà sách lớn và các thư viện trên toàn thế giới.

Do việc thiết lập tổng kê cho một số lượng khổng lồ các sách báo, cần phải có các tiêu chuẩn thư tịch (bibliographic standards) nên vào giữa thập niên 1960, Thư Viện Quốc Hội đã tạo ra được một hình thức đọc các dữ kiện bằng máy, gọi là hệ thống MARC ( Machine Readable Cataloging = đọc tổng kê bằng máy). Cấu trúc về khuôn thức MARC đã trở nên một tiêu chuẩn quốc gia chính thức vào năm 1971 và một tiêu chuẩn quốc tế vào năm 1973. Năm 1967, Thư Viện Quốc Hội còn khởi đầu một công trình nghiên cứu kỹ thuật, bảo quản sách báo in trên loại giấy có acít. Ngày nay, Sở Bảo Dụng (Preservation Office) của Thư Viện Quốc Hội đang thực hiện công trình nghiên cứu lớn lao nhất về cách bảo quản các tài liệu quý giá.

Kể từ năm 1901, Thư Viện Quốc Hội đã giữ vai trò lãnh đạo trong cộng đồng thư viện Hoa Kỳ, ngoài công việc yểm trợ các nhu cầu tham khảo và nghiên cứu của ngành Lập Pháp Mỹ. Cả hai chức năng vừa đóng góp cho Lập Pháp, vừa mang tính quốc gia của Thư Viện Quốc Hội đã bị tranh luận vào thời kỳ nhậm chức của ông Mumford, và vị quản thủ thư viện này đã bảo vệ mạnh mẽ vị trí của Thư Viện Quốc Hội trong ngành Lập Pháp. Đạo luật Tái Tổ Chức Lập Pháp năm 1970 (the Legislative Reorganization Act of 1970) đã đổi tên Sở Dịch Vụ Tham Khảo Lập Pháp (the Legislative Reference Service) thành Sở Dịch Vụ nghiên Cứu thuộc Quốc Hội (the Congressional Research Service), làm bành trướng các chức năng của cơ quan này, chú trọng vào việc nghiên cứu và phân tích các chính sách, phục vụ các cá nhân nghị viên Quốc Hội cũng như các ủy ban thuộc Quốc Hội Hoa Kỳ.

Năm 1974, ông L. Quincy Mumford về hưu, thay thế là nhà sử học Daniel J. Boorstin, được Tổng Thống Gerald R. Ford chỉ định. Ông Boorstin đã từng làm giám đốc của Viện Bảo Tàng Lịch Sử Hoa Kỳ (the National Museum of American History), được Thượng Viện chấp thuận,ø đã tuyên thệ nhậm chức tại Đại Sảnh của Thư Viện Quốc Hội vào ngày 12-11-1975 và trở nên vị quản thủ thư viện thứ 12. Ngay sau khi nhận chức vụ, ông Boorstin đã phải giải quyết hai vấn đề lớn lao, đó là nhu cầu xét lại cách tổ chức và các chức năng của thư viện và việc bành trướng diện tích cho các nhân viên và các bộ sưu tập. Rồi việc di chuyển vào Tòa Nhà James Madison được bắt đầu năm 1980 và hoàn tất năm 1982, đã giúp cho ông Boorstin thảnh thơi, củng cố các liên lạc với Quốc Hội và phát triển các liên hệ mới với các thư viện khác, các học giả, tác giả, nhà xuất bản, các vị lãnh đạo văn hóa và cộng đồng thương mại. Cũng trong thời kỳ quản trị của ông Boorstin, ngân khoản hàng năm của Thư Viện Quốc Hội từ 116 triệu Mỹ kim vào năm 1975, đã tăng lên thành 250 triệu Mỹ kim vào năm 1987, mặc dù bị nhiều giới hạn nặng nề vào các năm 1985 và 1986. Vào giai đoạn này, ông Boorstin đã dùng tới một đội ngũ các chuyên viên về các phạm vi kỹ thuật như tổng kê (cataloging) , tự động hóa và bảo dụng (preservation) , ngoài ra ông còn chú tâm tới việc phát triển sưu tập (collection) , tác quyền, vai trò của Thư Viện Quốc Hội trong đời sống Mỹ và cố gắng chuyển biến Thư Viện Quốc Hội thành “Bộ Bách Khoa Từ Điển đa phương tiện lớn nhất Thế Giới” (the world’s greatest Multi-Media Encyclopedia) .

Người kế nghiệp ông Daniel J. Boorstin là nhà sử học James H. Billington, được Tổng Thống Ronald Reagan bổ nhiệm và đã tuyên thệ nhậm chức vào ngày 14-9-1987, trở thành vị quản thủ thư viện thứ 13. Ông Billington bắt đầu ngay việc thành lập Uûy Bản Quản Trị và Kế Hoạch MAP (the Management and Planning Committee) với các diễn đàn địa phương thuộc 9 thành phố. Kết quả là Thư Viện Quốc Hội đã chia xẻ các nguồn tài liệu trong khắp đất nước, thiết lập nhiều dự án liên quan tới các kỹ thuật mới để nới rộng cách truy cập (accesss) trực tiếp từ các thư viện khác và từ các cơ sở giáo dục. Dự án truy cập tại tuyến (on-line access) dẫn từ Thư Viện Quốc Hội tới các thư viện thuộc 50 tiểu bang đã được bắt đầu năm 1991. Ông Billington còn thiết lập nên Sở Giáo Dục đầu tiên (the first Educational Office) của Thư Viện Quốc Hội để tăng cường các chương trình văn hóa, và các chương trình quảng bá dịch vụ thư viện đã dẫn tới việc thành lập Sở Phát Triển (the Development Office) vào năm 1988.

Năm 1990, Hội Đồng James Madison được thành lập. Đây là một ủy ban yểm trợ thuộc khu vực tư, gồm các thương gia và quản trị gia uy tín. Ông Billington cũng vận động cho ngân quỹ của Thư Viện Quốc Hội được tăng 12 phần trăm và thư viện này cũng giúp đỡ các thư viện của các nước mới dân chủ thuộc khối Đông Âu.

Trong báo cáo về tài khóa năm 1993, ông Billington đã trình bày rằng Thư Viện Quốc Hội đang trở nên một chất xúc tác quan trọng cho các nhu cầu về giáo dục, cạnh tranh và sáng tạo của quốc gia. Cuộc thảo luận cũng đề cập tới thời đại thông tin và nhu cầu dùng kỹ thuật điện tử mới. Theo ông Billington, kỹ thuật mới này đã giúp cho Thư Viện Quốc Hội có thể cung cấp kiến thức dễ dàng cho mọi người dân Hoa Kỳ qua các trường học, đại học, thư viện và các tổ chức nghiên cứu tư nhân, và Thư Viện Quốc Hội đang cố gắng trở thành một “Đại Học Quốc Gia Điện Tử mới lạ” (a new Electronic National University).

Thư Viện Quốc Hội đang theo đuổi một tham vọng, đó là đặc tính toàn cầu, thu thập mọi ấn bản thuộc mọi phương tiện, đáp ứng niềm tin của ông Thomas Jefferson, đó là “Nền Dân Chủ lệ thuộc vào Kiến Thức”.